Hệ thống kiểm soát nội bộ bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng và giải pháp - Pdf 29

1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1. 1. Giới thiệu đề tài
1.1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường toàn cầu, áp lực suy
thoái và những khó khăn nhiều chiều từ nền kinh tế, các doanh nghiệp đòi hỏi để
ngăn chặn gian lận, giảm thiểu sai sót, khuyến khích hiệu quả hoạt động và nhằm
đạt được sự tuân thủ các chính sách và quy trình thiết lập thì Doanh nghiệp ngày
càng quan tâm nhiều hơn đến hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) nhằm giúp tổ
chức hạn chế tối đa những sự cố, mất mát, thiệt hại, gian lận đảm bảo số liệu kế
toán, báo cáo tài chính được chính xác và tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức. Sử
dụng tối ưu các nguồn lực nhằm đạt được mực tiêu đề ra vì vậy việc thiết lập cho
Doanh nghiệp một hệ thống KSNB thích hợp với quy mô, đặc điểm của đơn vị và
phù hợp đảm bảo có hiệu quả và điểm quan trọng là hệ thống KSNB phải hữu hiệu
góp phần duy trì công tác quản trị của đơn vị đạt hiệu quả .
Tuy nhiên, khi đề cập đến hệ thống KSNB, mỗi tổ chức lại hiểu khác nhau;
việc triển khai hệ thống KSNB trong các tổ chức cũng theo những cách thức khác
nhau và thường theo kinh nghiệm tích lũy được.
Do đó việc thiết lập hệ thống KSNB là xác lập một cơ chế giám sát mà ở đó
quản lý không bằng lòng tin, kinh nghiệm mà bằng những quy định rõ ràng, nhất
là hiện nay kinh tế nước ta đang dần hội nhập với thế giới thì đòi hỏi phải xây
dựng hệ thống KSNB theo chuẩn quốc tế là vô cùng bức bách và tối quan trọng
cho mọi tổ chức. Tuy nhiên, hệ thống KSNB bao gồm những thành phần gì,
phương pháp xây dựng ra sao, phương pháp nào để đánh giá tính khả thi của
hệ thống KSNB, phương pháp nào để cải tiến hệ thống KSNB, v.v… vẫn còn
là thắc mắc của rất nhiều tổ chức.
Một số tổ chức còn mơ hồ về hệ thống kiểm soát nội bộ. Một số khác
nhầm lẫn về mặt chức năng giữa KSNB và kiểm toán nội bộ. Nhiều tổ chức
mơ hồ về phương pháp tiến hành xây dựng hệ thống KSNB. Nhiều tổ chức không
hiểu rõ sự tương quan của hệ thống KSNB và hệ thống phòng ban chức năng

phải đổi mới hoàn thiện hơn, phù hợp với yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của
3
ngành BHXH để đáp ứng việc quản lý nguồn quỹ vô cùng lớn và phù hợp với xu
thế quốc tế, theo kịp sự phát triển của đất nước trong tình hình mới.
Theo số liệu báo cáo của ngành BHXH: Công tác thực hiện thu BHXH,
BHYT năm 2012 đạt khoản 125.120 tỷ đồng, tổng số tiền chi trả lương hưu và
trợ cấp BHXH là 98.941 tỷ đồng. Thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT
cho 121.145.823 lượt người, tăng 6.953678 lượt người (6,1%) so với cùng kỳ
năm 2011. Tổng số tiền thanh toán khám chữa bệnh BHYT là 28.940 tỷ đồng[3]
Do vậy, với nhiệm vụ quản lý một nguồn quỹ to lớn, ảnh hưởng đến an sinh
xã hội của đại bộ phận người lao động trên cả nước. Với những lý do trên, đòi hỏi
cơ quan BHXH phải có một hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu, do đó
việc dựa trên những lý thuyết hiện đại về kiểm soát nội bộ để nâng cao năng lực
quản lý, phòng tránh rủi ro tại BHXH là một yêu cầu cấp thiết.
Trong tất cả BHXH của 64 Tỉnh Thành phố trong cả nước, thì Bảo Hiểm xã
hội Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị có mức đóng góp cao nhất (chiếm 30% )
là một địa bàn có diện tích rộng lớn, có nhiều thành phần kinh tế tập chung, số lao
động lớn, với nhiều khu công nghiệp, Công ty nước ngoài, Công ty liên doanh,
Cty TNHH, Khối cơ quan nhà nước, Văn phòng đại diện ….Do vậy khối lượng
công tác thực hiện BHXH tại thành phố Hồ Chí Minh rất lớn và phức tạp nhất là
trong việc thu BHXH và Chi các chế độ BHXH. Tuy vậy BHXH TP.HCM luôn là
cánh chim đầu đàn của Ngành BHXH; Đơn vị luôn đi đầu trong công tác cải cách
các thủ tục thực hiện trong nghiệp vụ chuyên môn BHXH, ứng dụng công nghệ
thông tin tiến tiến vào các khâu nghiệp vụ quản lý chuyên môn của ngành. Vì thế
đỏi hỏi cần xây dựng hoàn thiện kiểm soát nội bộ là một trong những yêu cầu
quan trọng nhất nhằm giúp ngăn ngừa, phát hiện các sai phạm và yếu kém, giảm
thiểu tổn thất, nâng cao hiệu quả nhằm giúp tổ chức đạt được các mục tiêu đã đề ra
.
Do vậy sau khi nghiên cứu và tìm hiểu tôi chọn đề tài “Hệ thống kiểm
soát nội bộ Bảo hiểm Xã hội TP. Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp ”

5
- Từ các kết quả nghiên cứu trên sẽ đưa ra kết luận, giải pháp, kiến nghị, đề
xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ trong
thời gian tới cho Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh .
1.2.2. Nội dung nghiên cứu
1.2.2.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ theo báo cáo của COSO 1992, cũng
như hệ thống KSNB trong khu vực công theo tổ chức INTOSAI ban hành. Từ cơ
sở lý thuyết, tác giả lập bản câu hỏi để khảo sát thực trạng hệ thống KSNB của
BHXH TP.HCM cho các nội dung:
• Lịch sử hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức quản lý của BHXH
• Hệ thống các chế độ chính sách BHXH và nguồn hình thành quỹ
BHXH.
• Cơ cấu chức năng phân cấp quản lý và giám sát của từng phòng chuyên
môn và BHXH quận huyện trong BHXH TP.HCM.
- Từ đó, gợi ý mục tiêu KSNB và những yếu tố cơ bản trong hoạt động
KSNB tại BHXH TP.HCM cần thiết trong thời gian tới. Đồng thời đề xuất giải
pháp bổ sung nhằm hoàn thiện và xây dựng hệ thống KSNB tại cơ quan BHXH
TP.HCM một cách hữu hiệu, hiệu quả hơn.
1.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Phân tích tổng hợp, nội suy và với
công cụ là phương pháp chuyên gia để khảo sát liệu xem chính sách và thủ tục thu
chi BHXH hiện hành có đầy đủ, nhất quán trong việc quản lý và kiểm soát hay
không, nhằm đưa ra gợi ý chính sách mới.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng : Với công cụ là phương pháp thống
kê mô tả, với kỹ thuật tìm số trung bình (Mean), tính phương sai và độ lệch chuẩn,
tổng hợp dữ liệu từ bảng câu hỏi cho ‘110’ đối tượng để nghiên cứu thực nghiệm
về những quan điểm, nhận thức của nhóm đối tượng: Cán bộ công chức viên chức
nhà nước của Cơ quan BHXH có liên quan với các quy trình thủ tục BHXH Việt
Nam đã ban hành trong thời gian qua.

- KSNB theo quan điểm của AICPA: Kiểm soát nội bộ “… là các biện pháp
và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền
và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách
”[6].
- KSNB theo quan điểm của IFAC: “ KSNB là một hệ thống gồm các chính
sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn vị, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin,
đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả của hoạt động
”[7]
- KSNB theo COSO đưa ra 1992: “ KSNB là một quá trình do người quản
lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để
cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây :
• Báo cáo tài chính đáng tin cậy .
• Các luật lệ và quy định được tuân thủ.
• Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.”[1]
-Theo Tổ chức INTOSAI: “ KSNB là cơ cấu của một tổ chức bao gồm
nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo
đảm sự hợp lý để đạt được các mực tiêu của tổ chức”[8]
Như vậy trong định nghĩa trên của COSO và INTOSAI, có 4 nội dung cơ
bản là : quá trình, con ngưởi, đảm bảo hợp lý và mục tiêu . Chúng được hiểu như
sau :
 Kiểm soát nội bộ là một quá trình.
 Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người.
 Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý.
 Các mục tiêu của KSNB.
8
1.3.1.2. Các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB
Theo quan điểm phổ biến hiện nay do COSO đưa ra 1992 được thừa nhận
bởi nhiều tổ chức nghề nghiệp trên thế giới như : IFAC , AICPA… thì KSNB bao
gồm các bộ phận sau :
- Môi trường kiểm soát.

- Chế độ Tử tuất.
- Chế độ Ốm đau
- Chế độ Thai sản.
- Chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp.
- Chế độ BHYT
- Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp .
1.3.2.3. Hệ thống tổ chức BHXH
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là đơn vị trực thuộc Chính phủ, được quản lý
bởi Hội đồng quản lý và được Phân cấp tổ chức, quản lý theo hệ thống dọc, tập
trung thống nhất từ Trung ương đến Địa phương, gồm có :
1. Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
2. Ở Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành
phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
3. Ở Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc Tỉnh là Bảo hiểm xã hội
Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội Tỉnh, Thành phố .
10
Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ hệ thống tổ chức cơ quan BHXH
11
1.3.3. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.3.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Ủy ban Treadway về chống gian lận trên báo cáo tài chính (COSO)


một ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính,
nghiên cứu về KSNB với mục đích tố chức lại hệ thống KSNB với các bộ phận
cấu thành để đánh giá sự hữu hiệu và hiệu quả. Đến năm 1992 mô hình lý thuyết
về hệ thống KSNB được sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ thường được gọi là COSO
1992. Đây là “ khuôn mẫu tích hợp về KSNB được thiết kế cho tất cả các doanh
nghiệp quan tâm đến việc cải tiến cách thức nhằm đạt được mục tiêu bằng cách sử
dụng KSNB” [1]

- Đề tài “ Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng
kiểm soát nội bộ tại BHXH Tỉnh Kiêng Giang ” năm 2010 của Thạc sĩ Nguyễn
Công Chánh , đề tài đưa ra những giải pháp quản lý bằng công nghệ thông tin
trong hoạt động kiển soát nội bộ BHXH tại địa bản tỉnh Kiên Giang, mặc dù cũng
đưa ra một số giải pháp nhưng Tỉnh Kiên Giang là địa phương có quy mô hoạt
động BHXH không lớn lắm , do đó cũng chưa thể áp dụng bao quát cho toàn bộ hệ
thống KSNB BHXH Việt Nam.
- Đề tài “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ
BHXH ở Việt Nam” năm 2010 do TS.Nguyễn Thị Chính thực hiện tuy nhiên, đề
tài chỉ quan tâm chú trọng trong nghiệp vụ chi trả chế độ BHXH về công tác tổ
chức thực hiện , chưa nêu lên được hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc kiểm soát
tính hữu hiệu trong việc chi trả BHXH.
Các bộ
phận hợp
thành
KSNB
Đánh giá
rủi ro
Hoạt động
kiểm soát
Thông tin
và truyền
thông
Môi
trường
kiểm soát
Giám sát
13
- Đề tài “Hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới ” năm 2005 do Thạc sĩ Đỗ Quang Khánh . Đề tài khái quát thực trạng hệ

chức hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ trong thời gian tới cho Bảo Hiểm Xã
Hội Thành Phố Hồ Chí Minh và ngành BHXH Việt Nam nói chung.
Kết luận chương 1
Chương 1 đặt vấn đề nghiên cứu về kiểm soát nội bộ từ đó làm rõ tính cấp
thiết của đề tài nghiên cứu về KSNB. Thông qua tổng quan các vấn đề nghiên cứu
về KSNB của các đề tài trước đây là căn cứ xác định mục tiêu, phương pháp
nghiên cứu làm cơ sở xây dựng nội dung tiếp cận thực trạng hệ thống KSNB tại
BHXH TP.HCM từ đó đưa ra giải pháp, kiến nghị. Đây là vấn đề đặt ra trong
nghiên cứu cho các nội dung các chương tiếp theo.
15
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.1. Lịch sử hình thành của Hệ thống kiểm soát nội bộ
Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là
kiểm soát nội bộ của đơn vị. Khái niệm kiểm soát nội bộ từ khi được vận dụng đã
có những bước phát triển vượt bậc, từ chỗ chỉ được xem là công cụ giúp cho kiểm
toán viên độc lập xác định phương pháp hiêụ quả trong việc lập kế hoạch kiểm
toán, đến chỗ được coi là bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu.
Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và bắt đầu bằng cuộc cách
mạng công nghiệp. Thuật ngữ Kiểm soát nội bộ bắt đầu từ giai đoạn này .
Năm 1929, Thuật ngữ Kiểm soát nội bộ được đề cập chính thức trong một
công bố của Cục Dự trữ Liên ban Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin), và được
định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy
nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử
nghiệm của kiểm toán viên.
Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ ( AICPA-American
Institute of Certified Public Accountants) đã định nghĩa kiểm soát nội bộ “… là
các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức
để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép

vị mình. Việc yêu cầu về báo cáo hệ thống KSNB của công ty cho công chúng đã
gây ra nhiều tranh cãi và chống đối do thiếu các tiêu chuẩn để đánh giá tính hữu
hiệu của KSNB.
Để đáp ứng tính cấp thiết trên nhằm thống nhất định nghĩa về KSNB, Ủy
ban COSO đã được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề
nghiệp là :
17
- Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA)
- Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA)
- Hiệp hội quản trị viên tài chính (FEI)
- Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA)
- Hiệp hội kế toán viên quản trị (IIA).
Trước tiên , COSO đã chính thức sử dụng từ kiểm soát nội bộ thay vì kiểm
soát nội bộ về kế toán; AICPA cũng quyết định không sử dụng thuật ngữ kiểm
soát kế toán và kiểm soát quản lý. Đến năm 1988, chuẩn mực SAS 55(4/1988)
cũng đưa ra 3 bộ phận của kiểm soát nội bộ là: môi trường kiểm soát, hệ thống kế
toán và các thủ tục kiểm soát .
Năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn
mẫu kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ nhất và có hệ thống. Báo cáo COSO đã đưa
ra 5 bộ phận của kiểm soát: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động
kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát. Báo cáo COSO 1992 đã cung
cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị trong đó KSNB không chỉ còn là một
vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho cả các phương
diện hoạt động và tuân thủ. Kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các
lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ
thống KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán.
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1992 trở về sau
Báo cáo COSO 1992 đã tạo lập được cơ sở lý thuyết cơ bản vể KSNB. Sau
đó hàng loạt các nghiên cứu khác về KSNB theo nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra
đời:

- ISA 265 “ Thông báo về những khiếm khuyết của kiểm soát nội bộ” yêu
cầu kiểm toán viên độc lập thông báo về các khiếm khuyết của KSNB do
19
kiểm toán viên phát hiện được cho những người có trách nhiệm trong
đơn vị. [10]
• Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ:
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) cũng đã đưa ra định nghĩa về KSNB,
tuy nhiên vì IIA là thành viên của COSO nên về nguyên tắc không có sự khác biệt
giữa định nghĩa của IIA và COSO.
• Phát triển theo hướng chuyên sâu vào các ngành nghề cụ thể:
Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã đưa ra
công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng. Nội dung cơ bản là đã vận dụng
các lý luận cơ bản của COSO vào lĩnh vực ngân hàng.
2.2. Sự phát triển của hệ thống KSNB trong khu vực công
Trong lĩnh vực công, KSNB rất được coi trọng và là đối tượng được quan
tâm đặc biệt của kiểm toàn viên nhà nước. Một số quốc gia như Mỹ, Canada đã có
những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan đơn vị khu vực
công. Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO)1999
đề cập đến KSNB trong đơn vị khu vực công. GAO đưa ra 5 yếu tố về KSNB bao
gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin
truyền thông, giám sát.
Bên cạnh đó năm 1992, INTOSAI đã ra bản hướng dẫn về chuẩn mực
KSNB đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB nhằm hỗ trợ cho việc thực
hiện và đánh giá KSNB. Tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của
báo cáo COSO. Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa về KSNB, tài liệu của
INTOSAI trình bày những vấn đề đặc thù về khu vực công .
2.2.1. Khái niệm KSNB theo INTOSAI 1992 & INTOSAI 2001
2.2.1.1. Theo hướng dẫn của INTOSAI 1992
Theo tài liệu hướng dẫn của INTOSAI 1992, khái niệm kiểm soát bộ được
định nghĩa như sau: “KSNB là cơ cấu của một tổ chức bao gồm nhận thức,

ngân sách nhà nước, do vậy cần phải có một cơ chế quản lý chặt chẽ nhằm đảm
bảo ngân sách được sử dụng đúng mục đích, các tài sản quản lý không bị thất
thoát hay lãng phí.
Đồng thời INTOSAI 2001 cũng cho rằng đạo đức của các công chức, viên
chức là khi họ thực thi nhiệm vụ một cách công tâm, đúng pháp luật đồng thời
trong việc phòng chống, phát hiện các gian lận, tham nhũng trong khu vực công
nhằm củng cố lòng tin của công chúng. Chính vì vậy mà lãnh đạo của các Chính
phủ quan tâm đến tài liệu này và xem tài liệu này là nền tảng để thực hiện và giám
sát KSNB trong các tổ chức khu vực công.
2.2.2. Sự phát triển của hệ thống KSNB trong khu vực công
Dựa trên nền tảng báo cáo COSO, hướng dẫn về KSNB của INTOSAI cũng
đưa ra các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB gồm 5 yếu tố:
22
2.2.2.1. Môi trường kiểm soát
Sơ đồ 2.1 : Các bộ phận hợp thành hệ thống KSNB theo INTOSAI
Giám sát Thường xuyên
Giám sát Thường xuyên
Giám sát Định kỳ
Giám sát Định kỳ
23
Môi trường kiểm soát là nền tảng ý thức, văn hóa của tổ chức tác động đến
ý thức kiểm soát của toàn bộ thành viên trong tổ chức. Môi trường kiểm soát là
nền tảng của bốn bộ phận còn lại.
- Tính chính trực và giá trị đạo đức của Lãnh đạo và đội ngũ nhân viên
Sự chính trực và giá trị đạo đức của Lãnh đạo và đội ngũ nhân viên xác
định thái độ cư xử chuẩn mực trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao thể
hiện qua việc mỗi cá nhân trong đơn vị phải luôn tuân thủ các điều lệ, quy định,
nội quy và đạo đức trong cách ứng xử của mình trong việc thực hiện chức trách
đang đảm nhiệm và phải được cụ thể hóa bằng các văn bảng quy định chính thức.
- Triết lý quản lý và phong cách điều hành

thể, đồng thời nhà quản lý cũng cần có những biện pháp nghiêm khắc đối với hành
vi vi phạm.
2.2.2.2. Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là bộ phận thứ hai của hệ thống kiểm soát nội bộ. Rủi ro là
những nguy cơ làm cho mục tiêu của tổ chức không đạt được. Bất cứ đơn vị loại
hình, quy mô nào, cấu trúc ra sao đều có những rủi ro tiềm ẩn, nó phát sinh từ các
nhân tố bên trong lẫn bên ngoài. Do vậy để đạt được mục tiêu của đơn vị, tổ chức
việc đánh giá rủi ro là rất quan trọng để phân tích đánh giá rủi ro nhằm giảm thiểu
thu hẹp rủi ro.
- Nhận diện rủi ro: Rủi ro bao gồm nhiều yếu tố, rủi ro phát sinh từ chính
bên trong đơn vị và từ những tác động bên ngoài đơn vị, nó phát sinh suốt quá
trình hoạt động của đơn vị khi thực hiện các quá trình hoạt động của mình. Do vậy
cần thiết phải quản trị rủi ro nhất là trong khu vực công, nhằm phòng tránh các
nguy cơ xấu tác động đến các mục tiêu kế hoạch được giao phó của đơn vị.
- Đánh giá rủi ro: Tuy nhiên khi nhận diện rủi ro, vấn đề cần thiết là đánh
giá nó như thế nào. Ước tính được thiệt hại khi rủi ro xảy ra và khả năng xảy ra.
Tuy nhiên việc đánh giá rủi ro phải được thực hiện thường xuyên và điều
chỉnh kịp thời theo từng thời kỳ do môi trường thay đổi thường xuyên như các
điều kiện kinh tế, chế độ chính sách của nhà nước, công nghệ , luật …
25
- Đối phó rủi ro: Để đối phó rủi ro có các biện pháp như Phân tán rủi ro,
chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro. Trong các đơn vị khi hoạt
động phải thường xuyên duy trì hệ thống KSNB để có thể có những biện pháp
thích hợp, do các đơn vị khu vực công luôn thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ,
Nhà Nước giao. Các biện pháp xử lý hạn chế rủi ro sẽ ở mức độ hợp lý vì mối liên
hệ giữa lợi ích và chí phí, nhưng nếu nhận dạng được và đánh giá đúng thì có thể
có sự chuẩn bị đối phó rủi ro tốt hơn.
2.2.2.3. Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những thủ tục chính sách nhằm bảo đảm cho các
chỉ thị của nhà quản lý đối phó rủi ro và đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status