VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN CHÁNH
THỰC HIỆN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN CHÁNH
THỰC HIỆN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 60.38.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HÀ THỊ MAI HIÊN
HÀ NỘI - 2012
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và Luận văn Thạc sĩ của mình, trước hết em xin gửi
lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, các khoa, phòng, thầy cô giáo của Học
viện Khoa học Xã hội đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ.
Em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên - Cô hướng dẫn khoa
học, đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành Luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động
viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2012
NGUYỄN VĂN CHÁNH
1.1.2. Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật thi
hành án dân sự
18
1.1.3. Đặc điểm thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở
Việt Nam
25
1.2. Nội dung và các yếu tố tác động đến việc thực hiện Luật
Thi hành án dân sự
28
1.2.1. Nội dung hoạt động và hành vi thực hiện Luật Thi
hành án dân sự của các chủ thể
28
1.2.2. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện Luật Thi hành
án dân sự
31
1.3. Quá trình điều chỉnh pháp luật thi hành án dân sự ở Việt
Nam
32
Chương 2 40
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC
HIỆN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1. Một số nội dung pháp luật thi hành án dân sự hiện hành 40
2.1.1. Những quy định về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự 40
2.1.2. Những quy định về thủ tục thi hành án dân sự 53
2.2. Thực tiễn tổ chức thực hiện Luật Thi hành án dân sự trên
địa bàn tỉnh Bình Định và một số vấn đề đặt ra hiện nay
71
2.2.1. Sơ lược vài nét về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án
nói riêng và trong hoạt động tư pháp nói chung. Bản án, quyết định của Tòa án chỉ
là phán quyết trên giấy, nếu nó không được thực thi trên thực tế. Do vậy, bản án,
quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm chỉnh có
tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Vì vậy, hoạt động thi
hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép
nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền
lực tư pháp được thực thi trên thực tế. Điều 36 Hiến pháp 1992 khẳng định: "Các
bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ
quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi
công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành".
[50].
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác này.
Nhiều năm qua, Chính
phủ đã xác định công tác thi hành án dân sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
và đã đưa ra nhiều giải pháp hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản trong công
tác này. Do vậy, công tác thi hành án dân sự trong những năm qua đạt được một số
kết quả đáng khích lệ, nhất là kể từ khi Luật Thi hành án dân sự được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày
14/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009. Bên cạnh những tác động tích
cực của Luật Thi hành án dân sự, thì hiện nay cũng cho thấy còn nhiều hạn chế và
khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Luật Thi hành án dân sự. Hiệu quả công
tác thi hành án dân sự chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và sự quan
tâm, mong mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân; hoạt động thi hành án chưa thật
sự đảm bảo được tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật, cụ thể: Tổng số
việc còn phải thi hành chuyển sang kỳ sau qua các năm tuy có giảm, nhưng vẫn lớn;
thi hành án hiện nay không hợp lý, gây nhiều cản trở và làm giảm hiệu quả công tác thi
hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng.
5
Vì vậy, muốn giải quyết tình trạng "án tồn đọng", nâng cao hiệu quả thi
hành án dân sự cần phải nghiên cứu đề ra các giải pháp đồng bộ về nhiều mặt: Kinh
tế, pháp luật, chính sách xã hội, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ . . . Nhưng trong
khuôn khổ luận văn luật học, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu những vấn đề liên quan
đến pháp luật.
Với tất cả những lý do nêu trên, việc chọn đề tài "Thực hiện Luật Thi
hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định " làm luận văn thạc sĩ luật học là cấp
thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước những đòi hỏi khách quan, tất yếu của công tác thi hành án dân sự,
trong thời gian qua đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành án
dân sự, cụ thể như sau:
- "Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử hình sự
sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Tiến Long (Luận văn thạc sĩ Luật
học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005);
- "Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành phố Bà
Rịa - Vũng Tàu” của tác giả Phạm Thị Việt Nga (Luận văn thạc sĩ Luật học, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2008);
- "Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động THA ở Việt Nam
trong giai đoạn mới" đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước do Bộ Tư pháp chủ
trì (2005);
- "Mô hình quản lý thống nhất công tác THA" đề tài nghiên cứu khoa học cấp
bộ do Cục Quản lý THADS - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện;
- “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện các tiêu chuẩn chức danh
tư pháp” Đề tài khoa học cấp bộ năm 2005 do Tiến sĩ Dương Thanh Mai làm chủ
nhiệm;
6
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề về THADS, năm 2008).
Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của trường Đại học luật Hà
Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết đăng trên các tạp chí
Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành
án dân sự ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau. Ở một số công trình
cũng đã đề cập đến vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành
án dân sự, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề đó một cách toàn diện,
chuyên sâu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tìm ra các luận cứ khoa học và thực tiễn
cho việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Để đạt được mục tiêu lớn đó cần phải thực hiện
các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ những cơ sở lý luận về thực hiện thi hành án và thi hành án dân sự.
- Đánh giá đúng đắn và toàn diện về thực trạng pháp luật về Luật Thi hành
án dân sự, thực tiễn thi hành án dân sự.
- Phân tích nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đưa ra những giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả thi
hành án dân sự.
4. Phạm vi nghiên cứu
" Thực hiện Luật Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định " là
một đề tài có tính khái quát tương đối cao, nội dung cơ bản rất rộng, phong phú và
phức tạp. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu cơ sở lý luận và quá trình thực hiện Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
đánh giá thực trạng thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định và từ đó rút ra
những giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự nhằm đáp ứng công tác thi
hành án dân sự trong điều kiện hội nhập sâu rộng của đất nước ta.
5. Phương pháp nghiên cứu
8
quản lý xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và các chủ thể liên quan,
bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội. Khi các BA, QĐ của Tòa án được thực thi trên
thực tế, thì quyền tư pháp của Nhà nước mới được thực hiện trọn vẹn, công lý mới
trở thành hiện thực, trật tự pháp luật mới được khôi phục. Chính vì vậy, Điều 136
Hiến pháp 1992 nêu rõ: “Các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ
trang nhân dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh
chấp hành”. Như vậy, thi hành án dân sự có thể được tiếp cận từ hai góc độ tổ
chức, quản lý của nhà nước đối với hoạt động thi hành án và từ góc độ các chủ thể
người phải thi hành án và người được thi hàn án.
Để bảo đảm hiệu lực BA, QĐ của Tòa án là yêu cầu tất yếu khách quan trong
hoạt động Nhà nước, là nguyên tắc Hiến định chỉ đạo toàn bộ tổ chức và hoạt động
THA ở nước ta. Trong thực tế, hoạt động thi hành án dân sự ở nước ta trải qua các
thời kỳ lịch sử. Vì vậy, quan niệm về THADS cũng có những quan điểm khác nhau,
phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ.
* Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thi hành án dân sự là một giai đoạn của tố
tụng tư pháp. Theo quan điểm này, những nội dung trong BA, QĐ của Tòa án nhằm
đảm bảo khôi phục lại trật tự pháp luật và tình trạng ban đầu chỉ đạt được khi BA,
QĐ đó được thực hiện trên thực tế và thông qua hoạt động THADS tiếp sau hoạt
động xét xử. Chính vì vậy, THADS được coi là "giai đoạn có tính quyết định cuối
cùng" trong quá trình tố tụng và hiệu quả của nó sẽ góp phần đạt được mục đích của
quá trình tố tụng.
* Quan điểm thứ hai cho rằng: Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính;
10
bản chất và mục đích của THADS khác hoàn toàn với tố tụng. Những người theo
quan điểm này cho rằng bản chất và mục đích của tố tụng là xác định sự thật của vụ
việc và giải quyết vụ việc theo đúng các qui định của pháp luật với qui trình chặt
chẽ, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích
của người tham gia tố tụng . . . Khi có phán quyết của Tòa án có nghĩa là sự thật đã
được khẳng định và việc áp dụng pháp luật đã hoàn thành, quá trình tố tụng kết
pháp mệnh lệnh, phục tùng đối với CHV như trong quan hệ hành chính đơn thuần.
Không ai có quyền ra lệnh cho cơ quan THADS, CHV phải hoãn, tạm đình chỉ,
đình chỉ, trả đơn yêu cầu THA hoặc thay đổi biện pháp cưỡng chế THA mà không
có căn cứ pháp luật. Những việc này do chính Thủ trưởng cơ quan THADS hoặc
CHV quyết định khi có những căn cứ pháp lý được qui định trong Luật THADS.
Hai là, xét về tính chất của thi hành án dân sự, thì kể từ năm 1990 đến nay,
việc THADS chủ yếu được tiến hành dựa trên cơ sở đơn yêu cầu của người được
THA, có nghĩa là thực hiện theo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự -
nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự. Ngoài ra, trong bất cứ giai đoạn nào của
quá trình THA, các bên đương sự cũng có quyền tự thỏa thuận với nhau về nội
dung, địa điểm, phương thức thi hành, thậm chí có thể thỏa thuận thi hành khác với
nội dung quyết định của bản án. Vì vậy phương pháp mệnh lệnh, phục tùng không
thể áp dụng được. Ngược lại, một quyết định hành chính có hiệu lực thì không thể
nói đến chuyện đối tượng bị áp dụng có thể chọn lựa thực hiện quyết định đó hay
không hoặc tuỳ tiện thay đổi nội dung của nó.
* Quan điểm thứ ba cho rằng: Thi hành án dân sự là dạng hoạt động hành
chính - tư pháp, vừa mang tính chất của hoạt động hành chính, vừa có những yếu tố
của hoạt động tư pháp, vấn đề này, được thể hiện bởi những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Thi hành án dân sự là một giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử,
có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó. Giai đoạn
THADS có thể bắt đầu ngay từ khi việc xét xử vụ án chưa kết thúc như việc thi
hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án (Điều 130 Luật THADS) hoặc
những BA, QĐ của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay như BA, QĐ về cấp
dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động hoặc
bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao
12
động trở lại làm việc mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị (Khoản 2 Điều 2 Luật
THADS). Ngay cả khi việc xét xử chấm dứt; BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật
nhưng mối quan hệ giữa cơ quan xét xử và cơ quan THADS vẫn tồn tại như việc cơ
quan THADS yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ hoặc kiến nghị cơ quan
đây, có nghĩa là không thực hiện chức năng kiểm sát đối với hoạt động hành chính
mà chỉ kiểm sát đối với hoạt động tư pháp. Bởi vậy, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân và Luật THADS có nhiều điều, khoản qui định về kiểm sát THA; trong
thực tế Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã ban hành nhiều kháng nghị đối với các
quyết định về THADS, tuy nhiên tính chất của kháng nghị trong giai đoạn THADS
có nhiều điểm không giống với kháng nghị trong giai đoạn xét xử Điều này cho
thấy rõ mối quan hệ mật thiết, đan xen giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với cơ
quan THADS, giữa pháp luật tố tụng tư pháp với pháp luật về THADS, giữa quan
hệ pháp luật tố tụng với quan hệ pháp luật về THADS.
Thứ tư, quá trình THADS nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể, do đó, các trình tự, thủ tục THADS cũng được quy định
chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quan
đến quyền con người, quyền công dân. Hơn nữa, yêu cầu đặt ra đối với CHV trong
việc tiến hành, thực hiện các trình tự, thủ tục THADS cũng không thấp hơn những
người tiến hành tố tụng trước đó là phải độc lập và tuân theo pháp luật để bảo đảm
hiệu lực BA, QĐ của Tòa án và tiến tới đạt được sự thật trên thực tế; nếu không độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật thì giá trị sự thật mà BA, QĐ của Tòa án đã xác định
sẽ không còn nguyên nghĩa của nó, trừ trường hợp các đương sự có sự thỏa thuận tự
nguyện khác trong quá trình THADS.
Thứ năm, giữa THADS và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ
nhân quả với nhau. Trong lĩnh vực hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra, các cơ quan
tiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng đầy đủ, kịp thời các biện pháp ngăn
chặn như thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản thì đến giai đoạn THADS, cơ quan
THADS sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự cất giấu, tẩu tán tài sản dẫn đến tình
trạng vụ việc tồn đọng không thể thi hành được. Trong giai đoạn xét xử, nếu một
BA, QĐ được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể,
được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc THADS sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn
14
nhiều. Ngược lại, nếu BA, QĐ của Tòa án được tuyên không khách quan, toàn diện
và công bằng, thiếu tính khả thi sẽ gây cản trở cho việc THADS, làm giảm lòng tin
Thứ nhất, nhóm quan hệ mang tính chất nội dung. Nhóm này phản ánh
những quan hệ về nội dung việc thi hành và chấp hành các BA, QĐ của Tòa án
ngay sau khi BA, QĐ có hiệu lực pháp luật. Các phán quyết của Tòa án về dân sự là
căn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ THA của các cơ quan THADS cũng như
quyền, nghĩa vụ dân sự mà người được THA, người phải THA, cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan đến việc THADS có trách nhiệm chấp hành.
Từ những quan hệ chủ yếu này sẽ phát sinh nhiều mối quan hệ khác trong
quá trình THA nhằm bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể trong quá trình thực thi các BA, QĐ về dân sự của Tòa án. Mặt khác,
trong quá trình THADS, có thể xảy ra những sự kiện pháp lý hay sự chi phối của
hoạt động xét xử tác động tới nội dung của BA, QĐ làm xuất hiện những mối quan
hệ mới, ví dụ như BA, QĐ dân sự có hiệu lực bị kháng nghị, bị huỷ bỏ hay thay đổi
nội dung sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, thậm chí, theo hướng ngược
lại Trong nhóm quan hệ mang tính nội dung, còn có thể xuất hiện mối quan hệ
giữa cơ quan THADS với các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến
việc THADS. Tóm lại, các mối quan hệ này phản ánh nội dung các quan hệ nhân
thân và tài sản giữa các chủ thể có liên quan đến THADS, xác định quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể trong việc thi hành và chấp hành BA, QĐ của Tòa án về dân sự.
Thứ hai, nhóm quan hệ mang tính tổ chức - quản lý. Các quan hệ này liên
quan đến việc hình thành cơ cấu tổ chức; quy định thẩm quyền và quy chế hoạt
động của cơ quan THADS. Những mối quan hệ này được thể hiện cụ thể như:
Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý Nhà nước về THADS với cơ quan THADS;
cơ cấu tổ chức, hoạt động trong hệ thống các cơ quan THADS; giữa cơ quan
THADS cấp trên và cơ quan THADS cấp dưới về mặt tổ chức Trong thực tiễn,
việc xử lý các mối quan hệ này thường rất phức tạp, có nhiều vướng mắc, bất cập.
Do đó, nếu quy định đúng đắn các mối quan hệ trong quá trình tổ chức và quản lý
THADS, xác định cơ chế quản lý, mô hình tổ chức và hoạt động THADS phù hợp
sẽ góp phần tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của THADS.
16
Thứ ba, nhóm quan hệ mang tính chất trình tự, thủ tục THADS. Một trong
án; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành
viên và trình tự, thủ tục thi hành án dân sự.
1.1.2. Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
a) Khái niệm thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân; pháp luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nghĩa là
bằng pháp luật có thể trật tự hóa, củng cố và phát triển các quan hệ xã hội theo
những định hướng mong muốn và điều đó chỉ có thể đạt được khi những mệnh lệnh,
chỉ dẫn các quan hệ pháp luật được thực hiện trong đời sống xã hội, thể hiện bằng
hành vi thực tế, hợp pháp của các tổ chức, các cơ quan, của những người có chức
vụ, quyền hạn.
Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội sắc bén, song pháp luật chỉ có thể
phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự và tạo điều
kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống.
Trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, yêu cầu về thực thi pháp luật đã được ghi
nhận trong Hiến pháp: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và
pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và
pháp luật. Mọi hành động vi phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi hợp pháp của
tập thể và công dân đều bị xử lý theo pháp luật [50]. Chính vì vậy, thực hiện pháp
luật là đòi hỏi khách quan của quản lý Nhà nước, tăng cường pháp chế, xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Về thực hiện pháp luật, hiện nay có nhiều nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
của Khoa Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
nay là Viện Nhà nước - Pháp luật thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Hồ Chí Minh thì thực hiện pháp luật được hiểu là “quá trình hoạt động có mục đích
làm cho những qui định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ
sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [54]. Theo giáo trình
để làm cho các quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự được thực hiện trong thực
19
tế cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, những hoạt động thực tế, hợp pháp của
các chủ thể pháp luật về thi hành án, nhằm phát huy hiệu lực của các bản án, quyết
định của Toà án, đảm bảo các bản án, quyết định được tôn trọng và thi hành nghiêm
chỉnh.
b) Mục đích và ý nghĩa thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
Mục đích chính và cơ bản nhất của hoạt động thi hành án dân sự là làm cho
các quyết định của Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền về dân sự được đưa ra thi
hành nghiêm túc trên thực tế. Còn mục đích của thực hiện Luật Thi hành án dân sự
là đảm bảo cho quy trình, thủ tục hoạt động của các cơ quan, tổ chức thi hành án
dân sự, các cá nhân, chủ thể phải thi hành và được thi hành, các chủ thể liên quan
đến thi hành án tuân theo đúng các quy định của pháp luật.
Ý nghĩa của thực hiện pháp luật thi hành án dân sự
Một là: Thi hành án dân sự góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương an toàn xã
hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Có thể thấy rằng: Công tác thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói
riêng có một vai trò và ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong hoạt động của bất kỳ của
01 Nhà nước trên thế giới nói chung và Nhà nước ta nói riêng. Bởi chỉ có thông
qua hoạt động thi hành án dân sự này mà những phán quyết của Tòa án nhân dân
các cấp nhân danh Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước sẽ trở thành hiện thực,
công lý xã hội luôn được bảo đảm. Một vụ án hay một vụ việc nào đó khi thông
qua thủ tục tố tụng tại Tòa án giải quyết chỉ kết thúc khi bản án quyết định của
Tòa án được thi hành kịp thời, đầy đủ và chính xác.
Do vậy, nếu công tác thi hành án dân sự không được quan tâm đúng mức
và hoạt động thi hành án dân sự không hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng
hay nói cách khác là sẽ ảnh hưởng rất tiêu cực, tác động đến toàn bộ quá trình tác
nghiệp của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, trật tự kỷ cương xã hội bị đảo lộn,
quyền lực nhà nước bị xem thường, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị
xâm hại. Ngược lại, nếu hoạt động thi hành án dân sự đạt hiệu quả sẽ mang lại
thức trách nhiệm của cộng đồng. Trong hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án dân
sự không chỉ là hoạt động nghiệp vụ riêng của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên mà
còn là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể xã hội và
21