SỰ THÂM NHẬP CỦA TIẾNG ANH VÀO TIẾNG VIỆT TRÊN MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Tôn Nữ Nguyệt An
SỰ THÂM NHẬP CỦA TIẾNG ANH
VÀO TIẾNG VIỆT TRÊN MỘT SỐ
PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG
ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007


Thành phố Hồ Chí Minh – 2007
LỜI CẢM ƠN
WX
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến Tiến só Trần Hoàng vì những gì tôi đã được kế
thừa và vì thầy đã dành nhiều thời gian và công sức
dìu dắt tôi từ những ngày đầu khó khăn cũng như đã
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận văn Thạc só.
Tôi xin cảm ơn toàn thể các thầy cô Bộ môn
Ngôn ngữ Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM và
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp.
Hồ Chí Minh, những người thầy đã tận tình truyền
đạt cho tôi những kiến thức quý báu để tôi có thể
thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin được cảm ơn Phòng Khoa học
Công nghệ – Sau đại học Trường Đại học Sư phạm
TP. Hồ Chí Minh vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi học tập và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến tất
cả người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên,
giúp đỡ tôi về nhiều mặt trong suốt thời gian qua.
Xin trân trọng cảm ơn!


luôn có tác động đến ngôn ngữ. Ở xã hội Việt Nam, giai đoạn đổi mới với
những chương trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa được đánh dấu bởi những
biến đổi diễn ra trong nhiều lónh vực của cuộc sống. Những biến đổi đó đã tác
động trực tiếp đến tiếng Việt và được thể hiện khá rõ trong ngôn ngữ này. Một
trong những biến đổi đáng kể của tiếng Việt là sự gia tăng rất nhanh những từ
ngữ vay mượn tiếng Anh. Cũng giống như hàng loạt từ Hán Việt du nhập vào
tiếng Việt trong thời kỳ độc lập tự chủ, xây dựng đất nước trước đây, trong thời
kỳ hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước hiện nay, phạm vi vay mượn các từ
ngữ tiếng Anh rất rộng, bao gồm những từ ngữ dùng trong sinh hoạt hàng ngày
cho đến các lónh vực giải trí, khoa học kỹ thuật và kinh tế… Những từ ngữ này
lại được biểu đạt trên những phương tiện truyền thông đại chúng như báo in,
phát thanh, truyền hình, Internet…. Vì thế vai trò quan trọng của chúng ngày
càng được nhấn mạnh, trở thành đề tài trung tâm của nhiều công trình nghiên
cứu trong giới Việt ngữ học trong những năm gần đây. Tuy nhiên, tồn tại một
thực tế là, nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến từ vay mượn tiếng
Anh, đã đứng trên quan điểm và phương pháp của ngôn ngữ học so sánh, xem
việc so sánh, đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt theo những tiêu chí nào đó là
nhiệm vụ trung tâm cần phải giải quyết, mà quên rằng vấn đề từ ngữ vay mượn
tiếng Anh trong tiếng Việt là vấn đề của ngôn ngữ học xã hội, so sánh, đối
chiếu nếu có, cũng chỉ là một trong số những phương pháp góp phần làm sáng
tỏ những đặc điểm của từng loại ngôn ngữ trong quá trình tiếp xúc với nhau mà
thôi, còn nhiệm vụ chính cần phải giải quyết vẫn là nghiên cứu đặc điểm về
ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cũng như khả năng hành chức của từ ngữ vay mượn
tiếng Anh trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt. Bởi lẽ, một khi đã thâm nhập
vào tiếng Việt, những từ ngữ này đã có những biến đổi nhất đònh cho phù hợp
với quy luật của tiếng Việt, chứ không giống như những từ ngữ tiếng Anh bản
đòa mà các nhà ngôn ngữ học so sánh thường lấy làm đối tượng để đối chiếu
với tiếng Việt.
Có thể nói rằng, việc nghiên cứu về các từ ngữ vay mượn tiếng Anh
trong tất cả các lónh vực của đời sống xã hội nói chung, trên các phương tiện

hội nhập và giao lưu quốc tế cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã
tạo điều kiện để tiếng Anh thâm nhập vào tiếng Việt mạnh mẽ, hình thành nên
một lớp từ ngữ vay mượn có phạm vi sử dụng rộng rãi trong mọi lónh vực của
đời sống xã hội Việt Nam. Bàn về tiếng Anh, ở Việt Nam trong những năm
gần đây đã xuất hiện một số bài viết và công trình tiêu biểu như :
1. [17, tr. 72-74];
2. [19, tr.42-43];
3. [21, tr. 37-39];
4. [28];
5. [54].
Trong các tác phẩm này, các tác giả đã quan tâm đến thực trạng giao
thoa, vay mượn và lai tạp giữa tiếng Anh và tiếng Việt trên cơ sở lý thuyết tiếp

3
xúc ngôn ngữ Anh – Việt, từ đó đưa ra dự báo cho những thực trạng này.
Nhưng, đây mới chỉ là một số nghiên cứu ban đầu chứ chưa có tính hệ thống,
và quan trọng là chưa có một giải pháp thỏa đáng để giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt trước sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽ của tiếng Anh. Gần đây,
đáng kể nhất là có tác phẩm “Từ ngoại lai trong tiếng Việt” của tác giả
Nguyễn Văn Khang (2007). Với những kết quả ghi nhận được từ quá trình điều
tra việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh trong mọi lónh vực đời sống hàng ngày của
người Việt, tác giả này đã giúp cho chúng ta có những phát hiện mới mẻ về sự
tồn tại của lớp từ vay mượn tiếng Anh trong tiếng Việt. Tuy nhiên, do phạm vi
nghiên cứu khá rộng (nghiên cứu cả từ mượn Hán và từ mượn Pháp) nên thực
trạng thâm nhập của tiếng Anh vào tiếng Việt, tiêu biểu là trên các phương
tiện truyền thông đại chúng, vẫn chưa được khảo sát một cách toàn diện và
triệt để.
Kế thừa những kết quả của các công trình đi trước, chúng tôi thực hiện
luận văn này với mong muốn:
- Cung cấp những cứ liệu đáng tin cậy cho việc đề ra những chính sách

Nam trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi
đã phối hợp sử dụng các phương pháp khác như điền dã, thống kê và phân loại
ngữ liệu, so sánh, đối chiếu. Những phương pháp này cho phép chúng tôi có
thể khảo sát một cách cụ thể đối với từng loại ngữ liệu sưu tầm được từ các
phương tiện truyền thông đại chúng như báo in, truyền hình và Internet, trên cơ
sở đối chiếu chúng với thực tế sử dụng ngoại ngữ trong đời sống hàng ngày
hiện nay. Cuối cùng, để có thể rút ra được những nhận xét có tính nhất quán và
toàn diện về thực trạng thâm nhập của tiếng Anh vào tiếng Việt trong các lónh
vực của đời sống xã hội nói chung, trên các phương tiện truyền thông đại
chúng nói riêng, chúng tôi đã vận dụng phương pháp nghiên cứu phân tích ngữ
nghóa – ngữ dụng.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài Mục lục (2 trang), Quy ước trình bày (1 trang), Tài liệu tham
khảo (6 trang), Nguồn ngữ liệu (4 trang), Phụ lục (28 trang), phần chính văn
của luận văn gồm các bộ phận sau:
- Dẫn nhập: Trình bày lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu, lòch sử
nghiên cứu vấn đề, ý nghóa nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
- Nội dung chính: Được trình bày tuần tự theo hướng từ rộng đến hẹp, đi
từ lý thuyết đến thực tế (dùng ngữ liệu sưu tầm được từ các phương tiện truyền
thông đại chúng có đối chiếu với thực tế giao tiếp hàng ngày để tìm hiểu thực
trạng thâm nhập của tiếng Anh vào tiếng Việt ở Việt Nam hiện nay). Phần này
được chia thành hai chương:
 Chương 1: Trình bày những vấn đề cơ bản mang tính lý thuyết của
ngôn ngữ học xã hội như lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ với các hệ quả là hiện
tượng giao thoa, vay mượn và lai tạp ngôn ngữ; lý thuyết về truyền thông với
những khái niệm cơ bản về truyền thông, truyền thông đại chúng và các
phương tiện truyền thông đại chúng; vai trò của tiếng Anh đối với thế giới, khu
vực Đông Nam Á và Việt Nam; những nguyên nhân dẫn đến sự thâm nhập của
tiếng Anh vào tiếng Việt cũng như những bình diện thâm nhập. 6
Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm tiếp xúc ngôn ngữ
Người làm cho từ tiếp xúc (contact) trở thành thuật ngữ áp dụng rộng rãi,
gây tác dụng kích thích một khuynh hướng ngày càng có ý nghóa quan trọng
cùa ngôn ngữ học hiện đại, là André Martinet. Trong bài “Sự lan truyền ngôn
ngữ và ngôn ngữ học cấu trúc” (Diffusion of Language and Structural
Linguistics) được trình bày như một tham luận tại cuộc họp của Hội nghò Hiệp
hội Ngôn ngữ học (1950) mà sau này được công bố trong Romance Philosophy
(1952), ông đề cập đến tình huống “có liên quan đến một ngôn ngữ lan truyền
cũng như các ngôn ngữ tiếp xúc với nó”. Sau này, thuật ngữ tiếp xúc ngôn ngữ
được phổ biến rộng rãi nhờ sự ra đời của tác phẩm “Languages in Contact –
Findings and Problems” của U. Weinrich (1953) trong đó Martinet là người
viết Lời giới thiệu với lời nhấn mạnh: “…We shall now have to stress the fact
that a linguistic community is never homogenous and harly ever self-
contained” (Một cộng đồng ngôn ngữ không hề có tính đồng chất và vò tất có
một thời kỳ nào đó nó đã từng là một cộng đồng khép kín).
Khi đònh nghóa về tiếp xúc ngôn ngữ, O.S. Akhmanova cho rằng đó là
“sự tiếp hợp nhau giữa các ngôn ngữ do những điều kiện cận kề nhau về mặt đòa
lý, sự tương cận về mặt lòch sử, xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người
vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau” (1966). Còn theo
“Từ điển bách khoa về ngôn ngữ học” (V.N.Jarceva chủ biên, 1990) thì tiếp
xúc ngôn ngữ là “sự tác động giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ, tạo nên ảnh hưởng
đối với cấu trúc và vốn từ của một hay nhiều ngôn ngữ. Những điều kiện xã hội

Như vậy, tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trong đời
sống xã hội giao tiếp của con người và do đó nó là hiện tượng phổ biến đối với
mọi ngôn ngữ trên thế giới. Nó xuất hiện khi con người (bao gồm cả cá nhân
hay cộng đồng) sử dụng hai hay nhiều ngôn ngữ. Hay nói cách khác, ở đâu có
sự hiện diện của hiện tượng song ngữ hoặc đa ngữ dưới tác động của các nhân
tố xã hội thì ở đó tiếp xúc ngôn ngữ xảy ra, giống như lời nhận xét của Einar
Haughen trong tác phẩm “Cái mới trong ngôn ngữ học” (1973): “ Mỗi một nhà
ngôn ngữ học sớm muộn gì rồi cũng đều phải đụng chạm đến các vấn đề có liên
quan đến sự tiếp xúc ngôn ngữ”
1.1.2. Đặc điểm tiếp xúc ngôn ngữ
Theo tác giả Nguyễn Văn Khang [35, tr. 29-35], tiếp xúc ngôn ngữ có
những đặc điểm cơ bản sau:
(1) Tiếp xúc ngôn ngữ bắt đầu từ học tập. Con người muốn biết từ hai
ngôn ngữ trở lên thì phải học. Bởi ngôn ngữ tồn tại trong bộ não của con người,
do đó khi hai hay nhiều ngôn ngữ cùng tồn tại trong bộ não của một người thì
sẽ tạo nên sự tiếp xúc. Vì thế mới nói tiếp xúc ngôn ngữ về bản chất là “học
ngôn ngữ” theo cách nói của ngôn ngữ học truyền thống.
Tuy nhiên, cũng có thể thấy, có người không học thêm ngôn ngữ khác,
nhưng họ lại có thể sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ đó. Trường hợp này được
xem như là kết quả của quá trình khuếch tán ngôn ngữ. Tiếp xúc ngôn ngữ
trước hết xảy ra ở một bộ phận thành viên xã hội, kết quả tiếp xúc sẽ được các

8
thành viên xã hội mở rộng ra toàn xã hội. Tiếp xúc dựa vào việc học tập ngôn
ngữ của một bộ phận thành viên xã hội mà không đòi hỏi tất cả mọi người
tham gia học một ngôn ngữ khác mới coi là tiếp xúc ngôn ngữ. Như vậy là cần
phải tách sự nảy sinh tiếp xúc với việc sử dụng kết quả tiếp xúc.
(2) Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ cũng là nhắc đến hai hàm ý:
• Sự tiếp xúc ở mặt cấu trúc, hay còn gọi là sự tiếp xúc trong nội bộ
ngôn ngữ. Đây chính là mối quan hệ tương tác, sự tác động lẫn nhau và ảnh

quá trình học tập và sử dụng ngôn ngữ đích. Hình thức ảnh hưởng và thẩm thấu

9
có thể bò triệt tiêu khi mà người học đạt đến trình độ tiếp cận hoàn toàn với
ngôn ngữ đích. Về mặt kết quả, rất có thể interlanguage được “ổn đònh hóa”
tạo ra biến thể hoặc hình thức biến thể cho ngôn ngữ đích. Ví dụ, tiếng Hán
(Hoa ngữ) của người Hoa ở hải ngoại.
(5) Như trên đã nêu, cội nguồn của tiếp xúc ngôn ngữ bắt đầu từ việc
học thêm ngôn ngữ khác. Nhìn từ góc độ tiếp xúc, nếu có sự ảnh hưởng từ
ngôn ngữ cơ sở sang ngôn ngữ đích thì cái gọi là interlanguage sẽ được khuếch
tán và sự khuếch tán này được quyết đònh ở cấu trúc ngôn ngữ, tâm lí ngôn ngữ
và thái độ ngôn ngữ. Ví dụ, trong quá trình học tập và sử dụng ngôn ngữ, người
ta thường sử dụng đan xen các yếu tố của hai ngôn ngữ để giao tiếp. Nếu cách
giao tiếp này lại được mở rộng ra cả cộng đồng nói năng thì sẽ xảy ra tình
trạng xuất hiện các yếu tố của ngôn ngữ này (thường là ngôn ngữ cơ sở) được
“cố đònh” trong ngôn ngữ kia (thường là ngôn ngữ đích). Như vậy, tiếp xúc
ngôn ngữ đã làm nảy sinh hiện tượng vay mượn. Tuy nhiên, điều này thường
chỉ có thể xảy ra trong bối cảnh đa ngữ xã hội phổ biến, tức là chỉ có thể xảy ra
khi có sự ảnh hưởng và thẩm thấu ngôn ngữ ở xã hội đa ngữ với các thành viên
đa ngữ tương đối thuần thục. Nếu không, phải trước hết từ một lượng người
tương đối thuần thục nhất đònh, sau đó lan tỏa ra đa ngữ toàn xã hội. Cho nên
chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, ngôn ngữ học xã hội nhìn nhận tiếp xúc ngôn
ngữ là sự tiếp xúc xã hội mang tính chỉnh thể chứ không phải là sự tiếp xúc
thiểu số, càng không thể là tiếp xúc mang tính cá thể / cá nhân. Điều này cũng
là để nhấn mạnh rằng, kết quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ chỉ được thực hiện
nhờ mở rộng / khuếch tán.
Chuyển từ cách nhìn “sự nghiên cứu lần lượt hai hoặc hơn hai ngôn ngữ
qua cùng một số người” sang cách nhìn “sự nghiên cứu sử dụng ngôn ngữ của
cả cộng đồng nói năng”, ngôn ngữ học xã hội coi tiếp xúc ngôn ngữ là một
hiện tượng xã hội, tức là mang tính xã hội. Vì thế, khi nói đến tiếp xúc ngôn

của ngôn ngữ khác.
• Những ngôn ngữ có quan hệ thân thuộc hoặc cùng, gần nhau về loại
hình thì dễ chòu ảnh hưởng của nhau và vay mượn lẫn nhau.
• Ngôn ngữ không có chữ viết rất dễ chòu ảnh hưởng và tiếp thu các
yếu tố của ngôn ngữ có chữ viết.
Tuy nhiên cũng cần nói thêm rằng, sự tác động của nhân tố xã hội –
ngôn ngữ thường không chỉ là một mà là sự tổng hợp của nhiều nhân tố dưới
hình thức “nhân tố nọ kéo theo nhân tố kia”. Một số những nhân tố nêu trên
chỉ mang tính xu hướng, mang tính phổ biến, chứ chưa phải là tất cả hay hoàn
toàn như vậy. Chẳng hạn, đối với nhân tố xã hội về nhân khẩu – dân số nhiều
khi lại xảy ra theo quá trình ngược lại: dân tộc có dân số ít hơn lại tác động đến
ngôn ngữ của dân tộc có dân số đông hơn. Hay, đối với nhân tố thân thuộc,
cùng loại hình giữa các ngôn ngữ thì nhiều khi giữa các ngôn ngữ không có
quan hệ thân thuộc, không cùng loại hình lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau
như ảnh hưởng của tiếng Hán (thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập) đối với tiếng
Nhật, tiếng Triều Tiên (thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính) là một điển hình
cho quan hệ này.
Về con đường tiếp xúc (bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp) dẫn tới ảnh
hưởng ngôn ngữ, có thể chia làm ba loại:

11
Thứ nhất, ảnh hưởng của khẩu ngữ thông qua tiếp xúc thường xuyên
giữa thành viên của các dân tộc nói các ngôn ngữ khác nhau. Có hai điều kiện
cho phép xảy ra :
(a) Hai dân tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong đời sống hằng ngày,
thông qua sự tiếp xúc trực tiếp làm nảy sinh ảnh hưởng giữa các ngôn ngữ.
(b) Ngôn ngữ chòu ảnh hưởng mạnh hơn, thường là ngôn ngữ không có
chữ viết.
Thứ hai, ảnh hưởng của sách vở. Đó là ảnh hưởng từ trong sách vở, sau
đó mới ảnh hưởng ra ngoài đời sống. Một trong những con đường ảnh hưởng

trúc của hai (hoặc hơn hai) ngôn ngữ, sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng, sự
xâm nhập lẫn nhau giữa các cấp độ của hai ngôn ngữ (âm vò học, hình thái học,
từ vựng, ngữ nghóa – phong cách học…) cụ thể là:
(1)
bình diện ngữ âm, trong tiếng Anh có hai âm /
θ/
và /
δ/
được coi là
khó phát âm chuẩn xác. Vì vậy, khi phát âm các âm này, một số người nói các
ngôn ngữ khác đã lấy cách phát âm gần với ngôn ngữ của mình để thay thế,
chẳng hạn: người Pháp (nói tiếng Pháp) dùng âm /S/, /z/ để thay thế; người
Nga (nói tiếng Nga) thì dùng âm /t/ và /z/ để thay thế; người Việt (nói tiếng
Việt) lại dùng âm /ť/ và /z/ hoặc /d/ để thay thế. Tương tự như vậy, trong tiếng
Pháp có những phụ âm cuối mà tiếng Việt không có như –b, -f, -l, -d, -ch, -s.
Người Việt (nói tiếng Việt) đã dùng các âm sau để thay thế:


-b (-be) chuyển thành –p

Ví dụ:
(1) cube

kuýp
(2) tube

tuýp
• -f(-ff) chuyển thành –p
Ví dụ:
(1) apéritif

(5) colle

cồn
(6) dalle

đan
(7) dentelle

đăng-ten/ren/den
(8) hôtel

hô-ten/ô-ten

13
(9) salle

xan
(10) tôle

tôn

-d(-de) chuyển thành –t

Ví dụ:
(1) aide

ét
(2) à la mode

mốt/à-la-mốt/a-le-mốt

bạt
(2) sacoche

xắc-cốt/xà-cột


-s(-se,-ss) chuyển thành –t, -ch

Ví dụ:
(1) atlas

át-lát/a-lát
(2) casquette

cát-két/cắt-két/(mũ)kết/(mũ) cát
(3) contrebasse

công-trơ-bát/công-tơ-bát/công-bạt
(4) potasse

bồ-tạt
(5) saucisse

xúc-xích/xút-xít

(2) Ở bình diện ngữ pháp, tiếng Anh vốn được coi là ngôn ngữ tổng hợp
tính, khi một số cư dân Bắc Âu nhập vào nước Anh hình thành nên hiện tượng
song ngữ. Tiếng Anh không những mượn nhiều từ của ngôn ngữ cư dân Bắc Âu
này mà còn du nhập các hình thức cách của đại từ tiếng Anh như they, their,
them vào ngôn ngữ của người Bắc Âu đó.

Dấu ấn rõ nét nhất của hiện tượng vay mượn trong ngôn ngữ được thể
hiện ở lónh vực từ vựng. Đây là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu về lý thuyết và hệ quả của tiếp xúc
ngôn ngữ. “Vay”, “mượn”, “vay mượn” vốn là từ ngữ được sử dụng trong đời
sống hàng ngày được chuyển dùng làm thuật ngữ ngôn ngữ học.
15
Trong “Từ điển tiếng Việt”, Hoàng Phê(chủ biên, 2004) đònh nghóa các
từ trên như sau:
Vay: Nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽ trả
lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trò tương đương.
Mượn: Lấy của người khác để dùng trong một thời gian rồi sẽ trả lại, với
sự đồng ý của người đó.
Vay mượn: Vay (nói khái quát).
Những đònh nghóa trên đây cho phép chúng ta giải thích được nguyên
nhân của sự vay mượn trong ngôn ngữ (cụ thể là vay mượn từ vựng). Trước hết,
vay mượn là do không có, thiếu. Thiếu nên phải vay mượn. Thiếu cái gì phải
vay mượn cái đó. Trong vốn từ của một ngôn ngữ nếu thiếu các đơn vò từ vựng
thì về lý thuyết (hay nguyên tắc) vẫn có thể vay mượn từ vựng của một ngôn
ngữ khác.
Ví dụ 1: Thời gian đầu khi chiếc xe đạp lần đầu tiên xuất hiện ở Việt
Nam thì tiếng Việt chưa có đủ từ để gọi tên các bộ phận của chiếc xe đạp.
Biện pháp tốt nhất chính là vay mượn các từ tiếng Pháp dưới dạng phỏng âm
như sau:
(1) Bougie: bu – gi
(2) Boulon: bù - loong
(3) Chaine: xích
(4) Chambre á air: săm/ vỏ; (roue) libre: líp

(1) Chết/hi sinh/từ trần/quy tiên/băng hà
(2) Nhớ/tưởng/tưởng niệm
(3) Buồn/sầu/sầu não
(4) Dài / trường
(5) Ngắn / đoản
Chính hình thức vay mượn kiểu này đã làm nên sự phân hóa về ngữ
nghóa của cả từ vay mượn cũng như các từ đồng nghóa với chúng trong bản ngữ.
Chẳng hạn, do có sự du nhập của từ hi sinh, từ trần,và băng hà nên từ chết chỉ
còn dùng để chỉ “sự không còn tồn tại sự sống của một người nào đó”và các từ
hi sinh, từ trần và băng hà chỉ khái niệm “chết” trong phạm vi hẹp hơn là “vì
nghóa vụ, vì lí tưởng cao đẹp”, “thường nói về những người có tuổi, đáng kính”
và “được dùng cho các vò vua chúa phong kiến”
Khi lí giải về kiểu vay mượn này, có hai quan điểm đáng lưu ý:
(1) Những người theo quan điểm thứ nhất như Belikop và Nikônski [3]
khẳng đònh hiện tượng “có nhưng vẫn vay” thường chỉ thấy ở các ngôn ngữ
phương Đông. Theo họ, “kiểu vay mượn đó [có từ tương đương] chứa đựng sắc
thái biểu cảm đáng kể và như vậy nó có khả năng làm rõ cho ngay cả các từ đã
có sẵn” .

17
(2) Quan điểm thứ hai lại khẳng đònh, hiện tượng này không phải chỉ
dành riêng cho các ngôn ngữ phương Đông mà có thể mở rộng đối với các
ngôn ngữ khác trên thế giới, đặc biệt là ngôn ngữ Châu Âu như tiếng Pháp,
tiếng Anh. Quan điểm này giúp chúng ta lí giải được hiện tượng vì sao bắt đầu
thập kỉ cuối của thế kỉ XX, các từ ngữ tiếng Anh –Mỹ “tràn vào” các ngôn ngữ
trên thế giới (đến mức người bản ngữ lại thích dùng các từ tiếng Anh vốn đã có
từ bản ngữ tương đương đang được dùng rất quen và ổn đònh), nói như V. G.
Kostomarov [26], [35]: “Các từ mượn từ biến thể tiếng Anh trong tiếng Anh –
Mó là nét nổi bật nhất trong quá trình phát triển ngôn ngữ của chúng ta ngày
nay khi so sánh dòng thác với nạn thủy tai tiếng Pháp mà chúng ta đã trải qua

khác, được ngôn ngữ đi vay sử
dụng thông qua thủ pháp dòch,
phỏng dòch.
Loan blends Từ hỗn hợp ngoại lai
Các đơn vò từ vựng được mượn
từ ngôn ngữ hay phương ngữ
khác bằng phương thức pha

18
tạp giữa một phần ngữ âm và
một phần ngữ âm của ngôn
ngữ đi vay.
Borrowed/
borrowing
(word)
Từ mượn
Từ vay mượn
Các đơn vò từ vựng được mượn
từ ngôn ngữ khác, bất kể là
đồng hóa hay chưa đồng hóa
về hình thức hay nội dung (tức
là còn nguyên dạng hay đã
thay đổi ít nhiều).
Hybrid word
Từ hỗn chủng
Từ hỗn huyết
Các đơn vò từ vựng phức hợp
được cấu tạo từ các thành
phần có nguồn gốc từ ngôn
ngữ cho vay và ngôn ngữ đi

19
1.1. 4.2. Các cách vay mượn từ vựng
1.1.4. 2.1. Các bình diện vay mượn của từ
Như chúng ta đã biết, một yếu tố từ vựng của ngôn ngữ này nhập vào
một ngôn ngữ khác và được coi là từ mượn khi nó đã được đồng hóa dưới áp
lực hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ đi vay: thay đổi lại hình thức ngữ âm, ngữ
pháp, giữ nguyên hoặc thay đổi ít nhiều về nghóa - tức là phải được bản ngữ
hóa. Với cách nhìn này, dưới đây chúng tôi tiến hành xem xét các cách vay
mượn từ vựng ở từng bình diện riêng rẽ bao gồm các bình diện hình thức (ngữ
âm), nội dung (ngữ nghóa), cấu trúc (tạo từ mới) để từ đó có một cái nhìn tổng
thể cho cả đơn vò từ vựng.
1.1.4.2.1.1. Ở bình diện hình thức (ngữ âm hay vỏ âm thanh)
Khi các đơn vò từ vựng của ngôn ngữ này du nhập vào một ngôn ngữ
khác ở bình diện hình thức (ngữ âm) thì xuất hiện một số trường hợp sau:
 Mượn nguyên xi cách phát âm nước ngoài, tức là lặp lại nguyên
cách phát âm từ ngôn ngữ cho vay sang ngôn ngữ đi vay
Có thể nhận ra kiểu mượn này nhờ vào bình diện chữ viết (viết theo
nguyên ngữ hay nguyên dạng)
Ví dụ: Các từ tiếng Anh được viết nguyên dạng trong tiếng Việt như
stress, mascara, world cup, tennis, laptop, internet…
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, cách mượn này mang tính lý thuyết
nhiều hơn là thực tế bởi rất khó có thể “phát âm nguyên xi” đơn vò từ vựng
được mượn với nhiều lí do. Chẳng hạn, sự khác nhau về hệ thống ngữ âm giữa
ngôn ngữ đi vay và ngôn ngữ cho vay làm cho người ta khó mà có thể đọc
chính xác được và có xu hướng “chuyển” những âm khó sang cách phát âm
gần và sát với âm bản ngữ.
Ví dụ: Người Anh khi gặp từ mượn Đức muesli đều nói thành [‘mju:zli]
mà không phát âm được như nguyên ngữ [‘my:zli]
 Phỏng âm
Cách phát âm của từ mượn trong nguyên ngữ chỉ là cơ sở cho việc tạo ra

thuộc loại hình ngôn ngữ hoặc có sự giống nhau về mô hình cấu tạo từ.
Ví dụ: Các từ tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt nhờ cách đọc Hán Việt
gồm các nhóm từ đơn tiết như:
• Nhóm từ chỉ mùa: xuân, hạ, thu, đông…
• Nhóm từ chỉ đơn vò hành chính: thôn, ấp, xã, tổng, châu, huyện,
phủ, trấn, tỉnh, phường, quận…
• Nhóm từ chỉ đạo đức phương Đông: trung, hiếu, lễ, tiết, nghóa,
công, dung, ngôn, hạnh…
• Nhóm từ chỉ âm dương ngũ hành: âm, dương, kim, mộc, thủy,
hỏa, thổ…

Trích đoạn Trong lĩnh vực cơng nghệ điện tử Trên báo văn hĩa, thể thao 1 Trên báo văn hĩa Trên báo thể thao ÁO CƯỚI & STUDIO Yến Thanh Ví dụ1: TUYỂN DỤNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status