ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU XÃ HỘI
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Lê Thị Thảo
Đầu thế kỷ XXI, cùng với sự gia tăng mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sự hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều trường đại học, cao đẳng, học viện phải đối mặt với nguy cơ
suy giảm sức hút ngành học, nhiều ngành học buộc phải giải thể do không có người học. Năng
lực cạnh tranh của cơ sở giáo dục đại học thường được người học nhìn nhận qua thương hiệu,
thương hiệu lại được kết tinh từ chất lượng đào tạo. Chất lượng đào tạo được biểu thị bằng các
giá trị sản phẩm giáo dục mà người học phải “chi trả” (bao gồm chuỗi giá trị được kết toán từ chất
lượng dạy - học và dịch vụ cho người học). Tuy nhiên, người học ngày càng thực tiễn hơn khi lựa
chọn trường học, ngành học và khát vọng về kết quả họ có được sau khóa học phải tương xứng
với thời gian, công sức và học phí họ chi trả cho nhà trường. Vấn đề câu thúc họ là làm sao trình
độ, kỹ năng của họ nhanh chóng được xã hội công nhận và dễ dàng có việc làm sau khi tốt
nghiệp.
Nắm bắt được xu thế trên, đồng thời để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, Chính phủ,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra chủ trương “đào tạo theo nhu cầu xã hội”. Tuy nhiên, để thực
hiện ĐTTNCXH có rất nhiều vấn đề cần luận giải: bản chất của ĐTTNCXH là gì? Tại sao cần phải
chuyển đổi sang ĐTTNCXH? ĐTTNCXH khác và có ưu điểm gì so với truyền thống? Để tổ chức
ĐTTNCXH, một cơ sở giáo dục đại học cần có những điều kiện gì? Cơ sở giáo dục đại học sẽ tổ
chức đào tạo như thế nào khi nhu cầu của về nguồn lực lao động luôn thay đổi? ĐTTNCXH là một
phạm trù rộng (cả về nội dung và cấp độ), vậy mục tiêu của cơ sở giáo dục đại học cần xác định
như thế nào?
1. Bản chất của ĐTTNCXH
ĐTTNCXH là khái niệm về một hình thức đào tạo mang tính tương tác giữa các cơ sở đào
tạo và xã hội. ĐTTNCXH được biểu hiện bằng sự phối hợp và gắn kết chặt chẽ của 3 thành phần:
chủ thể sử dụng lao động: nhà nước, doanh nghiệp, chủ sở hữu lao động (1); cơ sở đào tạo: nhà
trường, học viện, cơ sở dạy nghề (2); người học (3). Quan hệ phối hợp và gắn kết của 3 thành
phần trên vừa mang tính tiền đề, vừa mang tính nội dung, quyết định hình thức giáo dục cho phù
hợp với yêu cầu của người học và cơ sở sử dụng lao động, nhằm đảm bảo tốt nhất cho người học
có được một nghề nghiệp và kỹ năng lao động mà xã hội đòi hỏi.
ĐTTNCXH được xác lập bởi các mô hình với các cấp độ khác nhau tùy theo bối cảnh lịch
trầm trọng, các doanh nghiệp buộc phải nghĩ đến việc đặt hàng từ các trường học để có một đội
ngũ lao động theo yêu cầu về số lượng và chất lượng.
Tại châu Âu, Tiến trình Bologna (Bologna Process) bắt đầu từ năm 1999 đã tạo cho các
quốc gia tham gia
3
một “khu vực giáo dục đại học Châu Âu” (European Higher Education Area),
nơi sinh viên tha hồ lựa chọn môn học với đầy đủ thông tin và chất lượng cao, được hưởng những
thủ tục công nhận dễ dàng. Tuyên bố Bologna (6/1999) đã thúc đẩy một loạt các cải cách cần thiết
để làm cho giáo dục đại học trên toàn Châu Âu trở nên tương thích và dễ so sánh hơn, tăng tính
cạnh tranh và thu hút hơn đối với sinh viên châu Âu cũng như các sinh viên từ các châu lục khác.
Những hội nghị bộ trưởng giáo dục châu Âu sau Bologna: Praha (2001), Berlin (2003), Bergen
(2005) tiếp tục tinh thần và cụ thể hơn tư tưởng trên, tạo điều kiện cho người học lựa chọn lộ trình
học tập, đáp ứng nhu cầu xã hội một cách mạnh mẽ.
Tất cả những chuyển biến trên trong nền giáo dục thế giới đều được tạo nên khi các quốc
gia bị cạnh tranh dữ dội bởi các cường quốc tri thức mới, họ ý thức phải cải cách nền giáo dục
một cách căn bản; mặt khác, do phát triển kinh tế, khoa học công nghệ tốc độ nhanh, gây áp lực
lên thị trường lao động ngày một cao, các doanh nghiệp bắt buộc can thiệp vào các đại học, cao
đẳng, phán xét, phản biện lại chất lượng giáo dục của các nhà trường, buộc họ phải tự đổi mới với
tư cách là người sử dụng lao động sau đào tạo.
Đặc biệt từ năm 2005, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) được ký kết quy
định các nguyên tắc về thương mại dịch vụ trên phạm vi toàn cầu, áp dụng bắt buộc đối với tất cả
1
Chỉ thị số 53/2007/CT-BGDĐT ngày 07/9/2007 của Bộ Giáo dục và đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại
học năm học 2007 – 2008
2
Đại học Harvard: />3
Khởi đầu năm 1999 có 29 quốc gia tham gia, đến 02/2011 có 47 quốc gia tham gia (theo Website Bologna Process:
/>các nước thành viên WTO về thương mại dịch vụ. Giáo dục là một trong 12 ngành (sector) trong
danh mục phân loại ngành dịch vụ của GATS. Hiệp định này đã tạo cho doanh nghiệp can dự, đầu
tư trong giáo dục đại học. Thêm vào đó, từ năm 2009, khi Ngân hàng quốc tế (WB) can thiệp sâu
Ban chỉ đạo quốc gia về ĐTTNCXH giai đoạn 2008 – 2015. Đây là văn bản mang tính tiền đề cho
các nội dung đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2010-2020.
- Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày
06/01/2010 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học
giai đoạn 2010-2012 (Phê duyệt kèm theo Quyết định số 179/QĐ-BGDĐT ngày 11/01/2010 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã giành hẳn mục VI về đẩy mạnh ĐTTNCXH.
- Chỉ thị số 296/CT-TTg, ngày 27/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo
dục đại học giai đoạn 2010-2012 trong đó có giao nhiệm vụ cho Bộ GD&ĐT: Tiếp tục đẩy mạnh việc
thực hiện chủ trương ĐTTNCXH; tổ chức sơ kết, đánh giá 3 năm (2008-2010) việc triển khai thực
hiện ĐTTNCXH và xây dựng kế hoạch ĐTTNCXH cấp quốc gia, tại mỗi địa phương và mỗi cơ sở
đào tạo.
Cùng với những chủ trương trực tiếp đề cập đến yêu cầu ĐTTNCXH như trên, Chính phủ,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn các cơ sở giáo dục đại học thực
hiện như: Thực hiện 3 công khai trong giáo dục (Công khai chuẩn đầu ra; Công khai chương trình,
giáo trình, đội ngũ GV, cơ sở vật chất; Công khai chế độ thu học phí, học bổng, kinh phí giáo dục);
Thực hiện Tự kiểm định; Đổi mới quản lý giáo dục đại học Việt Nam Khuyến khích các cơ sở
giáo dục đổi mới, nâng cao chất lượng ĐTTNCXH.
Theo Hiệp định GATS, ngày 01/01/2009 là thời điểm Việt Nam bắt đầu mở cửa hoàn toàn
cho các cơ sở đào tạo có 100% vốn nước ngoài hoạt động trong nước. Đối với giáo dục đại học,
Việt Nam đã chấp nhận mở cửa trong khu vực tư thục đối với hầu hết các lĩnh vực khoa học tự
nhiên và kỹ thuật, nghiên cứu và quản lý doanh nghiệp, kinh tế, kế toán, ngôn ngữ và luật quốc tế,
và chấp nhận cả bốn phương thức cung cấp dịch vụ
1
. Đây là cơ hội và cũng là thách thức lớn đối
với các cơ sở giáo dục Việt Nam trong quá trình hội nhập. Các doanh nghiệp bắt đầu can thiệp
mạnh mẽ đến quá trình đào tạo nhân lực mà biểu hiện ban đầu rõ ràng nhất là sự xuất hiện nhiều
trường do doanh nghiệp thành lập, như: trường Cao đẳng Kỹ thuật tin học Sài Gòn (SaigonTech),
Đại học FPT, Cao đẳng Nguyễn Tất Thành, trường Trung học dân lập Kỹ thuật nghiệp vụ Mai
Linh, Trường Trung cấp du lịch khách sạn Saigontourist Mô hình này được đánh giá là một trong
những hướng đi mới nhằm giải quyết bài toán về đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội. Một số
dục, thậm chí trong từng trường học? Thêm vào đó, vấn đề xây dựng và công bố chuẩn đầu ra
cần được tổ chức thực hiện triệt để, toàn diện.
- Xác định cấp độ ĐTTNCXH: Việc thực hiện triệt để ĐTTNCXH như mô hình của các nước
Âu - Mỹ ở Việt Nam trong hiện tại là chưa thích hợp do đặc trưng của lịch sử và truyền thống văn
hóa. Tùy điều kiện cụ thể của từng trường có thể lựa chọn các cấp độ phù hợp trong từng giai
đoạn của lộ trình đổi mới.
+ Cấp độ 1: ĐTTNCXH ở mức giản đơn là xác định ngành đào tạo, chỉ tiêu đào tạo theo dự
báo nhu cầu xã hội.
+ Cấp độ 2: ĐTTNCXH ở mức tích cực: Hợp tác với các cơ sở sử dụng lao động về địa
điểm thực tập, thực hành và sử dụng lao động sau tốt nghiệp.
+ Cấp độ 3: ĐTTNCXH ở mức toàn diện: Hợp tác với các cơ sở sử dụng lao động về chỉ
tiêu đào tạo, địa điểm thực tập, thực hành, sử dụng lao động sau tốt nghiệp, hỗ trợ cố vấn thực
hành và cung cấp một phần kinh phí đào tạo.
- Đảm bảo các điều kiện tổ chức ĐTTNCXH, bao gồm:
+ Chương trình đào tạo: cần khắc phục tình trạng nặng về lý thuyết hoặc dàn trải, ôm đồm,
sinh viên phải học quá nhiều môn nhưng không sâu sắc. Chương trình đào tạo cần được đổi mới
theo hướng giảm tải hợp lý, cơ bản, hệ thống, hiện đại, thiết thực, cần đặc biệt chú trọng đổi mới
phương pháp dạy và học nhằm nâng cao óc sáng tạo, khả năng thực hành, sử dụng ngoại ngữ,
tin học cho học sinh, tăng cường giáo dục đạo đức, thể chất, nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện.
+ Đội ngũ giảng viên: giảng viên cần được xác định là nhân tố hàng đầu để nâng cao chất
lượng đào tạo. Nhà trường cần tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng năng
lực đội ngũ giảng viên. Đặc biệt, cần khuyến khích việc mời doanh nghiệp tham gia giảng dạy cho
sinh viên và người học phải được chọn thầy cô dạy.
+ Cơ sở vật chất: cần đảm bảo điều kiện tối ưu về cơ sở vật chất cho người học. Đặc
biệt, hệ thống thư viện cần được xây dựng hiện đại, phù hợp với các đối tượng học tập khác
nhau, cung cấp đủ thông tin, sách báo, tạp chí, tài liệu tham khảo cho nhu cầu học tập ngày càng
cao của giảng viên, sinh viên
- Đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ giữa nhà trường – doanh nghiệp và người học. Để thực
hiện tốt ĐTTNCH, ngoài việc nhà trường phải tích cực đổi mới quá trình đào tạo, cần có sự tham