LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình - hạt nhân cốt lõi của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người,
là môi trường quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào
việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì
gia đình lại càng tốt hơn. Sự tác động và chi phối lẫn nhau giữa gia đình và xã
hội được khẳng định rõ nét trong hôn nhân. Bởi lẽ, nền tảng vững chắc để xây
dựng gia đình chủ yếu là xuất phát từ quan hệ hôn nhân.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập - quốc tế hoá ngày càng được mở rộng
thì hòa vào sự phát triển của nền kinh tế, quan hệ hôn nhân cũng được hình
thành dưới nhiều góc độ khác nhau của xã hội, dựa trên những nguyên tắc
nhất định. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc tôn giáo, giữa
người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam và
người nước ngoài, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ trên cơ sở nguyên
tắc tiến bộ, một vợ , một chồng bình đẳng.
Cơ sở thiết lập quan hệ hôn nhân hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vi lãnh
thổ quốc gia, chịu tác động và chi phối bởi các yếu tố nước ngoài. Do tính
chất phức tạp vốn có của quan hệ này, nhà nước đã kịp thời thừa nhận và bảo
vệ bằng cách thông qua hình thức ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
để điều chỉnh và có những sửa đổi bổ sung để hoàn thiện nội dung của chế
định trên thực tế. Nhận thức được tầm quan trọng này, em chọn đề tài “Kết
hôn có yếu tố nước ngoài – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm bài tập
lớn học kỳ môn Luật hôn nhân và gia đình của mình
1
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI:
I.1. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2000:
quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam.
- Trong việc kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam, mỗi
bên phải tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân hoặc thường trú (đối
với người không quốc tịch) về điều kiện kết hôn, ngoài ra còn phải tuân theo
quy định tại Điêu 9, Điều 10 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam về điều kiện
kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn.
Điều 103 Luật hôn nhân gia đình không quy định giải quyết xung đột
pháp luật về nghi thức kết hôn. Vấn đề này được quy định trong Nghị định số
68/NĐ-CP năm 2002 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân gia
đình 2000 về quan hê hôn nhân có yếu tố nước ngoài, theo đó vấn đề xung đột
pháp luật về nghi thức kết hôn được áp dụng luật nơi tiến hành kết hôn để
giải quyết. Cụ thể là : “việc kết hôn được tiến hành ở Việt Nam hoặc tại cơ
quan ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thì phải được đăng ký
và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức nhà nước”.
Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước
ngoài, phù hợp với pháp luật nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu
vào thời điểm kết hôn công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp
luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.
I.2.2. Thẩm quyền giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài
Trong các văn bản pháp luật về hôn nhân gia đình hiện hành quy định
về thẩm quyền giải quyết việc hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thì
thẩm quyền giải quyết việc kết hôn được xác định tại khoản 1 Điều 102 Luật
hôn nhân gia đình 2000 cùng với khoản 1 Điều 3 và điều 12 Nghị định
68/2002/NĐ-CP. Ngoài ra, thẩm quyền đăng ký kết hôn còn được quy định tại
3
các văn bản khác như Nghị định 69/2006/NĐ-CP, Nghị định 158/2005/NĐCP về đăng ký và quản lý hộ tịch.
Theo các văn bản này thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc kết
hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
Như vậy, pháp luật Việt Nam áp dụng hệ thống luật quốc tịch của các
bên đương sự để xác định điều kiện kết hôn, cụ thể được phân làm hai trường
hợp:
-Thứ nhất, nếu việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài thì công dân Việt Nam sẽ phải tuân thủ pháp luật Việt
Nam về điều kiện kết hôn và người nước ngoài sẽ tuân thủ các quy định pháp
luật của nước mà họ mạng quốc tịch.
-Thứ hai, nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ở Việt Nam thì các bên sẽ phải tuân theo pháp luật nước mình về
điều kiện kết hôn. Đồng thời còn phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều
kiện kết hôn.
Trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân gia đình 2000,
tại điều 10 Nghị định 68/2002/NĐ-CP đã cụ thể hóa điều kiện đăng ký kết
hôn có yếu tố nước ngoài(Khoản 1, Khoản 2)
Trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân của nước đã
đăng ký hiệp định tương trợ Tư pháp với Việt Nam khi xác định điều kiện kết
hôn sẽ căn cứ vào luật định.
I.4. Nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài
Xuất phát từ bản chất giai cấp của nhà nước, từ phong tục tập quán mà
pháp luật các nước có quy định nghi thức kết hôn khác nhau. Ở Việt Nam
5
theo quy định tại Điều 11 Nghị định 68/2002/NĐ-CP và điều 57 Bộ luật dân
sự 2005 thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thực hiện theo nghi thức pháp luật quy định. Mọi nghi thức kết hôn
không theo các quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn đều không có giá
trị pháp lý.
Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP
sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP về hôn nhân có
các nước mà họ làm vợ hoặc chồng thì họ có thể sống trong một điều kiện
kinh tế đầy đủ, hiện đại.
Việc nhà nước ta thừa nhận kết hôn có yếu tố nước ngoài đã thể hiện
chính sách ngoại giao nhất quán với các nước trong khu vực và trên thế giới,
điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế,
văn hóa của Việt Nam.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI:
II.1 Thực tiễn việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay:
Thực trạng:
Trong giai đoạn hiện nay, số lượng công dân Việt Nam(chủ yếu là phụ
nữ) kết hôn với người nước ngoài có xu hướng tăng mạnh, xu thế này phù
hợp với xu hướng khách quan của thế giới là sự hợp tác kinh tế, giao lưu văn
hóa quốc tế giữa các nước.
Theo số liệu thống kê của Bộ Tư Pháp thì cả nước tính đến ngày
12/10/2005 có 180.000 công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài
hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; trong đó có tới 80%
là phụ nữ; riêng 3 năm từ 2003 đến quý 1- 2005 đã có hơn 31.872 trường hợp
7
phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, chủ yếu là công dân Trung
Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,….
Ở nước ta, Việc kết hôn với người nước ngoài trong giai đoạn hiện nay
đã trở thành một trào lưu ,”mốt” của giới trẻ, đặc biệt là đối với phụ nữ; các
trường hợp kết hôn với người nước ngoài ở nước ta tập trung ở miền Nam,
Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác nữa như ảnh hưởng của thông
tin, tuyên truyền; phong tục tập quán;….
II.2.Thực tiễn áp dụng pháp luật về việc kết hôn có yếu tố nước ngoài:
Ưu điểm:
Thứ nhất, các quy phạm pháp luật này được ban hành trong thời điểm
khá dài và đến nay đã khá toàn diện, đáp ứng được yêu cầu cơ bản của việc
điều chỉnh pháp luật kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc kết hôn có yếu tố
nước ngoài về cơ bản đã có sự thống nhất, khắc phục được tình trạng tản mản,
chồng chéo giữa các quy pháp pháp luật trong các giai đoạn trước.
Tóm lại, pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài đã
phát triển, đáp ứng đòi hỏi cơ bản của quá trình mở rộng việc kết hôn có yếu
tố nước ngoài trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhược điểm:
a) Một số vướng mắc liên quan đến việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước
ngoài
Sau hơn 11 năm thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và 8 năm
thực hiện Nghị định 68/200
2/NĐ-CP cho thấy trong thực tiễn thường xuất hiện một số vướng mắc trong
việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài như: chưa được ra khái niệm về
việc kết hôn có yếu tố nước ngoài rõ ràng, Về hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố
nước ngoài còn thiếu, thời hạn giải quyết dài dòng…
9
- Về vấn đề hoạt động hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài, chúng ta
cần quy định việc hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài trong các văn bản luật
chính thức( Luật hôn nhân và gia đình,…)
- Ngoài ra, chúng ta cần thực hiện và tăng cường ký kết các điều ước
quốc tế về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài với các nước trên thế giới; xây
dựng một số quy định phù hợp với thực tế của đời sống trong lĩnh vực kết hôn
có yếu tố nước ngoài,….
2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:
- Chúng ta cần xem xét lại các chính sách của Nhà nước về vấn đề hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và kết hôn có yếu tố nước
ngoài nói riêng.
-Cần tăng cường vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội
trên cả nước như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân,….
- Để đối phó với tình trạng hoạt động môi giới kết hôn bất hợp pháp ở
Việt Nam, chúng ta cần tạo điều kiện phát triển các Trung tâm hỗ trợ kết hôn
của Nhà nước
- Nhà nước ta cần tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, giảm tỷ lệ
thất nghiệp, nhằm hạn chế tình trạng người lao động thiếu việc làm, dẫn đến
họ muốn có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài nhằm thoát khỏi cuộc sống
nghèo nàn, túng thiếu.
- Tăng cường các chính sách giáo dục, tuyên truyền pháp luật , giúp
người dân hiểu biết các quyền lợi của mình khi kết hôn với người nước ngoài;
đẩy mạnh các biện pháp nhằm giải thích rõ pháp luật Việt Nam điều chỉnh
việc kết hôn có yếu tố nước ngoài đến với người nước ngoài kết hôn tại Việt
Nam.
11
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000- Nhà xuất bản Lao Động
3. Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam- khoá luận tốt
ngiệp;
4.
Nguyễn Văn Thắng- Thử tìm hiểu nguyên nhân vấn đề phụ nữ VIệt
5.
Nam kết hôn với người nước ngoài- Tạp chí luật học số 6/2008
Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số
6.
điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP
www.phunu.net
www.dantri.com
13
14