Mở đầu
Du lịch hiện nay đợc coi là một trong những ngành công nghiệp năng động nhất
trên thế giới. Du lịch vừa là văn hóa, vừa là kinh tế, Luật Du lịch đã xác định: Phát triển
du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và
môi trờng; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hớng du lịch văn hóa lịch sử, du
lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch
1
.
Đối với Thanh Hóa, việc phát triển kinh tế du lịch phải thể hiện bản sắc văn hóa,
sắc thái văn hóa tỉnh Thanh, muốn vậy du lịch phải phát huy lợi thế di sản văn hóa đã
kết tinh thành giá trị và sự phong phú đặc sắc của các vùng miền trong tỉnh để khai thác
bền vững và hợp lý.
Trên thực tế hiện nay, du lịch Thanh Hóa còn cha tơng xứng với vị trí và tiềm năng
du lịch địa phơng. Vậy làm thế nào để phát huy hết các giá trị mà thiên nhiên và lịch sử
đã ban tặng cho Thanh Hóa thành một hệ thống sản phẩm du lịch văn hóa đặc biệt
hấp dẫn du khách, góp phần phát triển kinh tế xã hội Thanh Hóa? Việc tiến hành
nghiên cứu chuyên đề Thực trạng, tiềm năng nhóm sản phẩm văn hóa phi vật thể
truyền thống ở Thanh Hóa (lễ hội, phong tục, tín ngỡng) sẽ góp phần giải đáp một
phần vấn đề đó.
1
Mục 1, Điều 5 Luật Du lịch.
1
Chuyên đề: Thực trạng tiềm năng nhóm sản phẩm văn hoá phi vật thể truyền thống ở
Thanh Hoá (Loại hình Lễ hội, phong tục, tín ngỡng truyền thống)
Chơng 1
Tổng quan về tiềm năng sản phẩm văn hoá du lịch
phi vật thể truyền thống ở Thanh Hoá
(Lễ hội, phong tục, tín ngỡng)
Theo Luật di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá
trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đợc lu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đợc lu truyền bằng miệng
Chính chúng đã tạo thành linh hồn, tạo nên tính thiêng cho các trò diễn, hát x ớng
trong lễ hội, sinh hoạt văn hóa, tín ngỡng xứ Thanh thêm lôi cuốn.
Thanh Hóa là mảnh đất sản sinh nhiều làn điệu dân ca đặc sắc: Khặp (Thái), X-
ờng rang, Bọ meẹng (Mờng), Pả dung (Dao) và các khúc hát giao duyên, dân ca nghi
lễ, hát đối đáp, hát ru của ng ời Việt. Nhiều làn điệu dân ca mang sắc thái đặc trng
riêng của Thanh Hóa mà không nơi nào khác có đợc: Hò sông Mã thể hiện rõ nét đặc
điểm tâm lý, tính cách, đặc trng lao động sản xuất của ngời dân xứ Thanh qua tiết tấu
khẩn trơng, mạnh mẽ và một hoạt cảnh lãng mạn của những vũ điệu lao động của
con ngời, giữa một nền cảnh và một hòa âm dữ dội của sông nớc; múa đèn Đông Anh
1
Luật Di sản văn hóa và các văn bản hớng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr7
2
2
Đề tài: Nghiên cứu tiềm năng sản phẩm văn hoá - du lịch Thanh Hoá phục vụ phát triển kinh tế
xã hội tỉnh Thanh Hoá
là một chuỗi minh họa các biểu tợng văn hóa nông nghiệp, hội hè; Hát khúc (Tĩnh
Gia), hát chèo thờ (Nông Cống), chèo cạn (Hoằng Hóa), chèo chải (Thọ Xuân, Đông
Sơn, Thiệu Hóa ).
Hệ thống trò chơi, trò diễn của xứ Thanh cũng ra đời khá sớm và ngày càng hoàn
thiện, đạt tới trình tự nghi thức cao. Ngời Việt có trò Xuân Phả (Thọ Xuân); trò Ngũ Bôn
(Đông Sơn); trò Chiềng, trò Chụt (Yên Định); múa đèn, chạy chữ ở Thiệu Hóa, TP
Thanh Hóa; chèo chải, tế nữ quan đợc tổ chức ở nhiều vùng, miền trong hội làng, lễ hội
dầu xuân. Bên cạnh các trò chơi, trò diễn dân gian của ngời Kinh, thì trò chơi, trò diễn
của các dân tộc thiểu số cũng rất phong phú nh: trò diễn Pồn Pôông của ngời Mờng; trò
múa quạt, múa nón, trò diễn Kin Chiêng boóc mạy của ngời Thái; múa bắt rùa, múa
chuông của ngời Dao; múa ô, múa khèn của ngời Mông Những trò diễn này đã tạo
nên nét độc đáo, sức lôi cuốn, hấp dẫn của các lễ hội truyền thống.
Lễ hội Thanh Hóa đa dạng về loại hình và số lợng, thực sự trở thành điểm nhấn
trong sinh hoạt văn hóa xứ Thanh. Những lễ hội văn hóa, lịch sử tại đền Bà Triệu, Lê
sa bồi đắp ở hạ lu, độ cao đồng bằng châu thổ. Tuy nhiên, ở Thanh Hóa đồi núi chiếm
tỷ lệ lớn bao gồm 3/4 diện tích đất đai cả tỉnh, một số mạch núi kế tiếp mạch núi vùng
3
Chuyên đề: Thực trạng tiềm năng nhóm sản phẩm văn hoá phi vật thể truyền thống ở
Thanh Hoá (Loại hình Lễ hội, phong tục, tín ngỡng truyền thống)
Tây Bắc chạy sát ra biển, nên ở Thanh Hoá, cảnh quan đồng bằng, biển và rừng núi nối
kết và cận kề nhau hơn, làm tăng tính chất rừng và biển của đồng bằng, chứ không "xa
rừng, nhạt biển" nh đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Với miền Trung, xứ Thanh là sự mở
đầu, trớc nhất cho một mô hình sinh thái kết hợp chặt chẽ giữa đồng bằng, miền núi và
biển cả. Chính điều đó đã làm văn hóa truyền thống xứ Thanh rất đa dạng vừa mang
tính chung thống nhất với văn hóa Việt Nam và văn hóa vùng Bắc Bộ nhng vẫn mang
tính khác, biệt lập.
Chính vì vậy, trong ý thức hệ t tởng, tín ngỡng Thanh Hóa ta bắt gặp nhiều hiện t-
ợng đồng nhất với đồng bằng Bắc Bộ. Một hệ thức luận từ tích truyện thánh Bng, ông
Vồm, ông Tu Na cho đến Từ Thức, thần Độc Cớc (truyền thuyết ở Thanh Hóa) là một
hình thức tơng đồng với các tích truyện: Thánh Tản Viên, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Tiên
Dung - Chử Đồng Tử (truyền thuyết ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ) cho chúng ta
thấy rõ sự kết nối đó.
Thanh Hóa cũng có sự giao lu với bên ngoài từ khá sớm. Từ hàng ngàn năm trớc
Công nguyên, ngời Việt cổ vùng hạ lu sông Mã đã theo con sông này giao lu với đồng
bào của mình vùng Bạch Hạc (Việt Trì) và xa hơn nữa là vùng Tây Bắc Việt Nam từ rất
sớm. Cũng men theo sông này ngời Việt cổ tiến xuống đồng bằng và chắc chắn có
những giao lu với các tộc ngời Mã - Lai đa đảo. Bằng sự tích Mai An Tiêm, huyền thoại
thần Độc Cớc cho phép chúng ta nhìn nhận và liên hệ đến các vấn đề trên. Đối với
văn hóa Trung Quốc, Thanh Hóa có chịu ảnh hởng ở nhiều mặt, thể hiện rõ nét nhất
trong hệ t tởng Nho giáo chi phối nhiều hoạt động văn hóa, đợc minh chứng trong
nhiều chi tiết nghi thức tế lễ trong lễ hội và trò diễn dân gian. Huyền tích về dấu chân
Phật trên mỏm đá Trờng Lệ ở biển Sầm Sơn là biểu hiện của sự giao lu văn hóa với ấn
Độ từ rất sớm. Trong khúc hát Hải trình của ng dân Bạch Câu, Nga Sơn bắt gặp
ờng), cửa Càn (nhánh sông Hoạt), cửa Lạch Sung (sông Lèn). Các chi lu chính của
sông Mã gồm Nâm Lệ, suối Vạn Mai, sông Luồng, sông Lò, sông Bởi, sông Cầu Chầy,
sông Hoạt, sông Chu. Cũng giống nh sông Hồng ở Bắc Bộ, sông Mã là cái trục chính, là
linh hồn của Thanh Hóa. Một mặt, sông Mã bồi đắp nên đồng bằng rộng lớn, màu mỡ
mà mức độ rộng lớn và phì nhiêu của nó chỉ đứng sau châu thổ sông Hồng và sông Cửu
Long. Mặt khác, do Thanh Hóa bị chắn hai đầu bởi dãy núi Tam Điệp ở phía Bắc và dãy
Hoàng Mai ở phía Nam, nên sự thông thơng, trao đổi và cả sự di c xa kia chủ yếu theo
con dòng sông chính sông Mã. Sông Mã là đờng thông thơng huyết mạch giữa miền
ven biển, đồng bằng với thợng lu ở phía Tây. Trên con sông này, lâm thổ sản đợc
chuyên chở từ miền núi về miền xuôi và hàng thủ công, hải sản từ đồng bằng lên miền
núi. Các đoàn thuyền tấp nập ngợc xuôi nối liền các chợ ven bờ sông. Sông Mã không
chỉ là huyết mạch kinh tế mà còn là con sông chuyên chở văn hóa, tạo nên hai bên bờ
những hiện tợng văn hóa phong phú, đa dạng và kỳ thú. Có thể nói, sông Mã chính là
nhân tố quan trọng nhất hình thành giá trị bản sắc văn hóa xứ Thanh.
Nhiều đền thờ với nhiều lễ tục, phản ánh các tín ngỡng cổ xa của ngời Việt trong
các làng xã ở hai bên bờ sông Mã, sông Chu, sông Lãng Giang Đó là các lễ tục đền
Mối, đền Mng, đền ối, nghè Sâm thờ Đức Thánh Ngũ Vị, tức cha con Lê Ngọc, là quan
Thái thú quận Cửu Chân thời nhà Tùy đã có công chống quân xâm lợc nhà Đờng thế
kỷ VI. Lễ hội làng Vạc thờ các vị Cao sơn đại vơng, Linh Quang đại vơng, Tô Đại Lu
với nhiều thần tích kỳ thú về những vị nhân thần có công dựng nớc, đánh giặc, có đức
cao giúp đời. Nhóm di tích, truyền thuyết ven sông Mã còn góp phần cấu thành những
giá trị văn hóa đặc trng. Đó là các tích truyện, huyền thoại về các thánh Lỡng, có đến
chín chín làng dọc theo dòng sông Mã từ ngã ba Bông đến xã Vĩnh Quang đều có
đền thờ Ông. Lễ hội thánh Tến có đền thờ ở làng ích Hạ (Hoằng Hóa); truyền thuyết
về ông Bng và ông Vồm thi sức mạnh siêu nhiên, có khả năng khai thiên lập địa. Một
t liệu dân gian đậm yếu tố sử học, chứng minh sự thống nhất với nhà nớc của các Vua
Hùng là Lễ hội ở đền Hổ Bái, huyện Yên Định, có nội dung về truyền thuyết Hùng
Trinh Vơng con trai thứ 11 của Lạc Long Quân, đến vùng hạ lu sông Mã để chọn đất
lập giang Bộ, một vùng phiên dậu của nhà nớc Văn Lang phía Nam, ngày nay tục lễ
vẫn còn bảo lu tại vùng Thiệu Hóa, Yên Định.
cộng đồng phơng Nam, cũng khá phổ biến ở các vùng biển Quảng Xơng, Tĩnh Gia,
Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa. Nhìn chung, các thần tích và lễ hội dân gian đã phần nào
phản ánh đời sống tinh thần, vật chất, đặc trng văn hóa của Xứ Thanh.
1.1.5. Phong tục, tín ngỡng, lễ hội Thanh Hóa là biểu hiện sinh động của
đặc trng của kinh tế - xã hội, văn hóa - lịch sử Thanh Hóa.
Là nơi sinh tụ từ rất sớm của ngời Việt cổ, Thanh Hóa có điều kiện hình thành và
bảo lu đợc nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Có thể có một số địa phơng là nơi phát
hiện đợc một số di chỉ khảo cổ học là minh chứng sự phát triển lịch sử Việt Nam, nhng
hiếm có vùng đất nào lại có đầy đủ những mốc nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn phát
triển lớn của lịch sử dân tộc, từ tối cổ đến hiện nay nh Thanh Hóa, làm cho vùng đất này
từ thiên nhiên đến văn hóa đều thấm đợm màu sắc lịch sử. Ngời ta đã phát hiện ở
Thanh Hóa những di chỉ khảo cổ nổi tiếng, liền mạch thuộc hầu hết các thời đại khảo cổ
học lớn của nớc ta thời tiền sử và sơ sử: từ đồ đá cũ sơ kỳ (núi Đọ), thời kỳ đá cũ (di chỉ
Hang Con Moong), đá mới (Đa Bút), đồng đá (Hoa Lộc), văn hóa đồng thau (Đông
Sơn). Mặt khác, di vật của nhiều thời kỳ phát triển xã hội đã đợc tìm thấy trong một số
di chỉ có hiện tợng xếp chồng lên nhau theo thứ tự thời gian lớp dới có niên đại cổ hơn
lớp trên, chứng tỏ dân c xứ Thanh nối tiếp nhau tồn tại, phát triển khá liên tục. Thanh
Hóa là nơi phát hiện ra một trong ba trung tâm của nền văn hóa Đông Sơn trên đất
Việt: Trung tâm sông Hồng (Bắc Bộ), trung tâm sông Cả (Nghệ An) và trung tâm sông
Mã (xứ Thanh). Vì lẽ đó, có thể khẳng định Thanh Hóa cùng với đồng bằng châu thổ
Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt Nam, quốc gia Việt Nam và nền văn hóa Việt
Nam. ở Thanh Hóa có thể gặp những mô thức huyền thoại về vua Hùng, Thánh Tản
Viên, Thánh Gióng, An Dơng Vơng, Mỵ Châu Trọng Thủy của vùng đồng bằng Bắc
Bộ đợc địa ph ơng hóa ở đây .
Thanh Hóa là mảnh đất tơng đối ổn định trong lịch sử, không bị chia cắt hành
chính nh các địa phơng khác. Bản đồ hành chính Thanh Hóa qua các thời kỳ lịch sử về
cơ bản vẫn đợc giữ nguyên với các tên gọi khác nhau nh: Cửu Chân, Tợng Quận, ái
Châu, Thanh Đô, Thanh Hoa Tuy một số quận huyện có nhập, tách và vùng đất
Thanh Hóa ngoại đợc tách ra thành tỉnh Ninh Bình, song đại bộ phận lãnh địa, ranh giới
xứ Thanh đã đợc xác lập ổn định từ thời Bắc thuộc cho đến bây giờ. Có lẽ tính ổn định
cho chiến tranh tạo nên những giá trị đặc sắc trong lễ hội, tục trò, tín ngỡng.
Là đất phát vơng của các triều đại Tiền Lê, Hồ, Lê sơ, Lê Trung hng, chúa Trịnh,
chúa Nguyễn, chịu ảnh hởng trực tiếp của văn hóa cung đình và du nhập các kiểu cách
lối sống của kinh đô, thế nhng xứ Thanh lại không nằm cận kề Thăng Long hay kinh đô
Huế mà nằm ở ngoại trấn, vùng ngoại vi của trung tâm văn hóa chính trị của đất nớc. Vì
vậy, trình độ phát triển kinh tế xã hội có phần thấp hơn, những ảnh hởng giao lu văn
hóa với khu vực và Trung Hoa có phần bị hạn chế, xứ Thanh còn lu giữ lại nhiều yếu tố
văn hóa Việt cỏ hơn vùng Bắc Bộ, chốn kinh kỳ. Đó cũng là nguyên nhân làm cho
Thanh Hóa có những biểu hiện hóa thạch ngoại biên về văn hóa nhiều hơn hẳn nơi
khác.
Địa thế và lịch sử đã để lại cho Thanh Hóa hàng nghìn di tích lịch sử - văn hóa.
Theo thống kê của Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hoá năm 2006, Thanh
Hóa có 1.535 di tích, danh thắng, di chỉ khảo cổ, trong đó 137 di tích xếp hạng quốc gia,
467 di tích xếp hạng cấp tỉnh. ở đó không chỉ chứa đựng những giá trị văn hóa vật thể
quý giá và đặc sắc, mà chính ở các di tích này còn tiềm ẩn nhiều giá trị văn hóa phi vật
thể tiêu biểu nh: thần tích, huyền thoại, tục ngữ, ca dao, lễ tục, lễ hội, văn hóa ẩm thực,
các nghi lễ, tục kiêng khem gắn với các nhân vật đ ợc thờ phụng.
Một yếu tố quan trọng tạo nên những sắc thái văn hóa độc đáo trong tín ngỡng, lễ
hội Thanh Hóa chính là hệ thống các nhân vật đợc thờ phụng. Đó là những nhân vật
huyền thoại, hoặc mang tính lịch sử, hoặc cả hai. Đó là các nhân vật khổng lồ có sức
mạnh phi thờng xẻ núi lấp biển, những Ông Gióng đánh giặc Ân, An Dơng Vơng xây
thành, Mỵ Châu - Trọng Thủy, các vi Thánh Cao Sơn Đại vơng, Tứ Vị Thánh Nơng,
7
Chuyên đề: Thực trạng tiềm năng nhóm sản phẩm văn hoá phi vật thể truyền thống ở
Thanh Hoá (Loại hình Lễ hội, phong tục, tín ngỡng truyền thống)
Thánh Lng, Thanh Bng cùng hàng trăm vị
Thành Hoàng nửa huyền thoại, nửa lịch sử.
Bên cạnh đó là những nhân vật lịch sử
diễn ở sân đình lôi cuốn đông đảo dân làng đi xem, mà các hình thức sân khấu này mới
chỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVIII, thì lễ hội tổ
chức hàng năm là dịp dân làng đợc hòa
mình vào với cộng đồng. Theo GS. Trần Lâm Biền l ễ hội, nếu nh không còn thì khó mà tởng
tợng nổi, xã thôn nh trở về miền hoang dã, lấy gì để cân bằng cho một năm đầy vất vả, cho
hoà hợp yêu thơng và phần nào bản sắc sẽ dễ tàn phai, làm cạn mòn lòng yêu quê hơng
nguồn cội
1
Lễ tục, lễ hội xứ Thanh có từ thời xa xa gắn liền với việc tập hợp và tổ chức các lực lợng
để chiến đấu và sản xuất, thể hiện nhu cầu cân bằng đời sống tâm linh, sáng tạo và hởng
thụ các giá trị văn hóa của cộng đồng dân làng. Lễ hội xứ Thanh mang sắc thái của nền văn
minh nông nghiệp, gắn với tín ngỡng dân gian thờ thần thánh và những ngời có công với dân
làng, đất nớc. Lễ hội truyền thống xứ Thanh rất đa dạng và là nơi lu giữ lâu dài các tục lệ,
dân ca, diễn xớng, trò diễn dân gian phong phú và độc đáo.
Về số lợng, Theo Lê Huy Trâm Hoàng Anh Nhân, số điểm có lễ hội trên tỉnh Thanh
Hóa đợc tính nh là đơn vị lễ hội với tiêu chí của mỗi đơn vị là có thần tích, có lệ tục, có thời
1
Trần Lâm Biền, Hội xuân vài dòng suy ngẫm, Tập san TTKH trờng CĐ VHNT Thanh Hóa, tr. 13
8
Đề tài: Nghiên cứu tiềm năng sản phẩm văn hoá - du lịch Thanh Hoá phục vụ phát triển kinh tế
xã hội tỉnh Thanh Hoá
gian hội và lễ, có trò diễn riêng, mang màu sắc địa phơng văn hóa làng (có thể phân biệt với
làng khác) con số lên đến trên 50 đơn vị
1
. Theo thống kê của Sở Văn hóa Thể thao Du
lịch Thanh Hóa, toàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay có 160 lễ hội truyền thống liên quan đến di
tích lịch sử, danh thắng đợc nhà nớc công nhận, 50 lễ hội liên quan đến tín ngỡng tôn giáo.
Trên tổng số 5757 làng, bản, khu phố có 1/3 làng, bản, khu phố tổ chức lễ hội hàng năm. So
với các địa phơng khác đó là con số quả là không nhỏ, đã thu hút hàng triệu du khách đến
gốc, nguyên nhân, chỉ nhắm mắt làm theo song bỏ đi thì không đợc. Có thể kể đến tục chơi
Hang Lãm (huyện Thờng Xuân); tục chơi Chợ Chuộng (Đông Sơn), chợ Hoàng (Nga Sơn),
chợ Chìa (Tĩnh Gia); tục chơi chợ Tình duyên của ngời Mờng (Cẩm Thủy).
- Cấp độ lễ tục: hoạt động lễ hội ở cấp độ này vẫn còn gắn với tục nhằm bộ lộ một
mong muốn của cả cộng đồng song không còn chỉ là hoạt động tục lệ nữa. Phần lễ ở đây đã
thành quy củ, đợc ghi trong các khoán ớc của làng, còn phần Hội đã có trò diễn (tuy còn thô
sơ) và trở thành nghĩa vụ của các thành viên trong làng. Lễ tục làng Thiết Đanh là một ví dụ
tiêu biểu. Sở dĩ không gọi là lễ hội vì hoạt động này hoàn toàn theo tục: năm nào trong làng
1
Lê Huy Trâm Hoàng Anh Nhân (2001), Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh, Nxb Văn hóa dân tộc, tr.10
9
Chuyên đề: Thực trạng tiềm năng nhóm sản phẩm văn hoá phi vật thể truyền thống ở
Thanh Hoá (Loại hình Lễ hội, phong tục, tín ngỡng truyền thống)
không có cố ông nào vào tuổi 60 thì phải kéo chò Chụt để mong không có tai ách cho làng.
Trò Chụt có thể 2 3 năm làm một lần, cũng có thể mơi lăm năm mới làm lại.
- Cấp độ lễ hội: là cấp độ hoàn chỉnh nhất của hội làng miền xuôi. Cấp độ lễ hội thể
hiện đầy đủ 5 thành tố trong cấu trúc lễ hội: Thành Hoàng Thần tích Thần điện Tục lệ
và Trò diễn, hội đủ các yếu tố của phạm vi lễ hội (thời gian, không gian, nội dung ý nghĩa và
văn hóa làng). Nó thỏa mãn đầu đểu nhu cầu hội hè đình đám của ngời nông dan và biểu
hiện cao nhất tín ngỡng nông nghiệp, lễ nghi nông nghiệp trong các xóm làng xa. Những lễ
hội điển hình ở Thanh Hóa là lễ hội Lam Kinh, lễ hội đền Bà Triệu, lễ hội đền Sòng, lễ hội
đền Độc Cớc, lễ hội Phủ Na
Về loại hình, có thể phân lễ hội Thanh Hóa thành những loại hình nổi trội sau:
- Lễ hội tín ngỡng: Thờng là tín ngỡng dân gian, thờ các thần thánh nh thờ thành hoàng,
thờ Mẫu, thờ các thần liên quan đến các hoạt động kinh tế nh nông nghiệp, lâm nghiệp, ng
nghiệp
Những lễ hội tiêu biểu của nhóm này phải kể đến lễ hội xã Thiệu Trung, tởng niệm ông tổ
nghề đúc đồng Khổng Minh Không, lễ hội xã Quảng C ở Sầm Sơn tởng niệm bà Triều tổ s
nghề dệt săm xúc, lễ hội đình Phú Khê xã Hoằng Phú Hoằng Hóa Tổ nghề hát
Đề tài: Nghiên cứu tiềm năng sản phẩm văn hoá - du lịch Thanh Hoá phục vụ phát triển kinh tế
xã hội tỉnh Thanh Hoá
trò diễn hợp lại, do vậy tính ra phải tới hàng trăm trò diễn khác nhau. Ví nh trò Láng (hay trò
Xuân Phả) gồm 8 trò: trò Kéo hội, trò Chạy giải, trò Chèo thuyền, trò Hoa Lang, trò Chiêm
Thành (trò Xiêm), trò Ai Lao (trò Lào), trò Ngô Quốc (trò Ngô), trò Lục hồn nhung (Tú Huần).
Trò Bôn (Kẻ Bôn, xã Đông Thanh, Đông Sơn, Thanh Hóa) gồm 6 trò: đấu cờ ngời, Tiên cuội
(Tiên phờng), Trò thủy (Thủy phờng), Trò Ngô (Ngô phờng), Trò Hà Lan (Hà Lan phờng), Trò
Lăng Ba Khúc Nhiều trò diễn đặc sắc khác nh trò chụt trong lễ hội làng Thiết Đanh, trò
đánh bài điếm ở lễ hội làng Duy Tinh (Văn Lộc, Hậu Lộc), trò đánh hát thị lập, trò đánh cờ
ngời, trò thi bơi ở lễ hội làng Cự Nham; trò múa lân ở làng Vạc Hiếm nơi nào trên đất n ớc
Việt Nam đã hình thành những trung tâm, nơi mà các trò diễn đậm đặc hơn, có các trò lớn và
điển hình. Đông Sơn là một trung tâm trò diễn tiêu biểu. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã thấy
trong trò diễn dân gian Thanh Hóa những yếu tố tiền sân khấu. Đó là các tích đã bắt đầu
hình thành các cốt truyện, đó là những lời thoại của nhân vật khi diễn xớng với những mâu
thuẫn và giải quyết mâu thuẫn mang tính kịch tính, đó là tính cách của một số nhân vật đã
bắt đầu hình thành nh thằng Ngô, con đĩ, các nhân vật Sĩ, Nông, Công, Thơng
Trò diễn ở Thanh Hóa không chỉ phong phú về số lợng mà nội dung phản ánh cũng rất
đa dạng.
Các trò diễn phản ánh nội dung lịch sử nh: Trò Láng (Xuân Phả), tái hiện lại mối quan
hệ bang giao giữ nớc ta với các nớc láng giềng trong lịch sử; trò Ngô Triệu giao quân trong lễ
hội đền Bà Triệu tái hiện lại cuộc chiến đấu chống quân xâm lợc phơng Bắc trong cuộc khởi
nghĩa Bà Triệu
Các trò diễn liên quan tới các phong tục của làng nh trò Chụt ở làng Thiết Đanh đợc tổ
chức khi năm đó làng không có cụ ông nào thọ 60 tuổi để cầu cho làng không bị tai ách; trò
nấu cơm thi ở nhiều làng; trò Vật cù trong lễ hội làng Vạc.
Các trò diễn nhằm rèn luyện trí tuệ, sức khỏe và tạo không khí sôi nổi trong lễ hội nh
trò đánh cờ ngời, trò đánh bài điếm, trò bơi thuyền có trong nhiều lễ hội; trò kéo hội, trò chạy
giải trong hội làng Xuân Phả.
Các trò diễn hát xớng, giãi bày tâm t tình cảm nh trò diễn Pồn Pông của dân tộc Mờng
và trò diễn Kim chiêng boóc mạy của dân tộc Thái.
hạnh phúc nhất cho con ngời.
Đối với ngời Việt ở miền xuôi, hầu hết các nhiên thần đều đã bị phong kiến hóa, việc
sùng bái, thờ cúng các thần tự nhiện chủ yếu còn bảo lu đợc tính nguyên sơ, hồn nhiên ở các
dân tộc thiểu số miền núi, biểu hiện qua việc thờ thần núi, thần đá, thần cây, thần sấm, thần
sông nớc Đồng thời, là sự tiếp nối của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa còn đọng lại tín
ngỡng thờ ngời khổng lồ siêu việt: Độc Cớc, ông Tu, ông Vồm, thánh Bng, Cao Sơn, Cao
Các, Sơn tiêu Độc Cớc, Cao Sơn Lập Thạch, Sạ Sơn
Là mảnh đất nhiều chiến tranh loạn lạc, gắn bó với sự thịnh suy của nhiều triều đại
phong kiến, thần ở Thanh Hóa phần lớn đều là những vị anh hùng dân tộc, những con ngời
gắn với những bớc phát triển của đất nớc, quá trình dựng làng, giữ nớc mà võ t ớng chiếm
tỷ lệ lớn. Trớc hết đó là các vua chúa: Bà Triệu, Lê Hoàn, Vua Đinh, Nhà Hồ, Nhà Lê, Nhà
Nguyễn chúa Nguyễn, chúa Trịnh Tiếp đến là các anh hùng giết giặc: Trần Khát Chân,
Lý Thờng Kiệt, Dơng Đình Nghệ, Lê Phụng Hiểu, Lê Lợi, Nguyễn Phục, Lê Cốc, Lê Ngọc,
Nguyễn Chích, Quận Mãn, Trịnh Khả Có những trờng hợp độc đáo, nhân vật lịch sử đã đợc
đồng nhất với nhân vật huyền thoại để đợc nâng cao về tầm vóc trong tâm thức dân gian. Đó
là trờng hợp Lê Phụng Hiểu một nhân vật lịch sử có thật đã đợc lồng ghép tài tình với ông
Bng một nhân vật khổng lồ thần thoại để trở thành Thánh Tến một vị thánh riêng của
ngời dân Thanh Hóa.
Điểm đặc biệt nhất là rất nhiều ngời có công với làng xã, đất nớc đã đợc nâng lên thành
Thánh. Thần là do triều đình phong tặng. Thánh mới thực sự là tín ngỡng mà ngời dân xứ
Thanh tôn thờ. Thanh Hoá là một trong những địa phơng tôn thờ nhiều vị Thánh nhất trong n-
ớc (12 vị). Trong quan niệm của ngời dân Thanh Hóa nói riêng và cả nớc nói chung, Thánh là
bậc cao minh nhất, không bị lực lợng nào điều khiển, kiềm thúc, có nhiều quyền năng sẵn
sáng diệt quỷ trừ tà, tạo đợc những cơn gió lành, ma ngọt đem lại mùa màng tơi tốt, cuộc
sống yên vui cho dân làng . Sách Địa chí Thanh Hóa liệt kê 11 (thực chất là 12) vị Thánh đ-
ợc thờ ở Thanh Hóa là: Thánh Độc, Thánh Bng (Thánh Tến), Thánh Cu, Thánh Lỡng (hai vị
khác nhau), Thánh Mẫu, Thánh Nơng, Thánh Tản, Thánh Quản, Thánh Trần, Thánh Khổng,
Thánh Hẹ. Mời hai vị Thánh đợc nhân dân Thanh Hóa tôn vinh và thờ phụng, có vị tầm cỡ
quốc gia nh Thánh Tản, Thánh Trần, Thánh Mẫu , có vị là Thánh riêng của ng ời dân Thanh
Hóa làm cho bức tranh thờ cúng ở Thanh Hóa có mảng màu riêng. Nhân vật Thánh Lỡng tồn
Thanh Hóa đợc ghi nhận là quê hơng thứ hai của đạo Mẫu sau Phủ Giày (Nam Định).
Sách Thanh Hóa ch thần lục (năm 1903) cho biết ở Thanh Hóa có 48 làng thờ Liễu Hạnh
công chúa ở 11 huyện. Nhng sách Địa chí Thanh Hóa ghi nhận đến năm 1920, việc thờ
Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã phát triển mở ra nhiều phủ, đền khắp tỉnh Thanh Hóa . Riêng ở
Vĩnh Lộc, Yên Định, đến trớc năm 1945, hầu nh các làng có nghè thờ Quản gia Đô bác thì
đồng thời cũng có phủ thờ Mẫu, và một số làng ở hai huyện này vì kiêng kỵ nên đã gọi mẹ là
mệ . Sự phát triển của đạo Mẫu ở Thanh Hóa không chỉ phản ánh quy luật phát triển chung
của tín ngỡng thờ Mẫu ở Việt Nam mà còn nói lên tính độc đáo trong văn hóa tín ng ỡng của
ngời Việt ở Thanh Hóa.
Về Đạo Đông hay Nội đạo tràng , Nội đạo đến nay vẫn còn nhiều ý kiến đánh giá
không thống nhất nhng có thể khẳng định nó là đạo phù thủy, một môn phái thuộc đạo giáo
nguyên thủy Trung Quốc (Hoàng Tuấn Phổ). Pháp thuật là của đạo phù thủy, danh x ng là
của đạo Phật. Tuy nó cha hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết để trở thành một đạo nội theo
đúng nghĩa một tôn giáo, nhng phải thấy vị trí quan trọng của nó trên con đờng kết tập và
phát triển lâu dài của phái đạo Nội Việt Nam; đúng nh nhận định của Tạ Chí Đại Trờng:
Dù sao thì nhìn vào tập họp đạo Nội ở Thanh Hóa cũng khiến ta nghĩ tới đạo Cao Đài sau
này khi loại trừ những khác biệt do thời đại đa đến
1
.
Cuộc Sùng Sơn đại chiến, theo Tạ Chí Đại Tờng một mặt là bởi bản chất ma thuật
trấn áp của hệ thống thầy pháp, mặt khác biểu lộ sự đối kháng nội địa và biển khơi
2
. Còn
việc Liễu Hạnh công chúa bị thầy pháp đánh thua, nhng lại không mất uy thế nhờ Phật cứu,
nghiễm nhiên trở thành đệ tử nhà Phật phản ánh sự hội nhập của các khuynh h ớng phơng
sĩ / phù thủy / đồng cốt ở cuối thế kỷ XVIII có dáng kết thành vào đầu thế kỷ sau.
1
Tạ Chí Đại Trờng, Thần Ngời và Đất Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006, tr.191.
2
Tạ Chí Đại Trờng, Thần Ngời và Đất Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006, tr.194
thiệu chiếm một tỷ lệ rất nhỏ:
Trong sách Lễ hội Việt Nam (PGS. Lê Trung Vũ PGS. TS. Lê Hồng Lý, Nxb Văn hóa
thông tin, 2005) giới thiệu 304 lễ hội của các tỉnh thành trong nớc và 8 lễ hội các nớc Đông
Nam á. So sánh tỷ lệ các lễ hội trong nớc đợc giới thiệu trong sách theo địa phơng ta có
bảng sau:
STT
Địa điểm
Số lễ hội đ-
ợc giới thiệu
STT Địa điểm
Số lễ hội đ-
ợc giới thiệu
1. Hà Nội 57 20. Hà Nam 4
2. Phú Thọ 33 21. Tây Bắc 4
3. Hà Tây 24 22. Nghệ An 3
4. Bắc Giang 20 23. Hà Tĩnh 3
5. Thái Bình 18 24. Quảng Bình 3
6. Bắc Ninh 17 25. Lễ hội cung đình 3
7. Vĩnh Phúc 12 26. Quảng Nam 3
8. Tp Hồ Chí Minh 14 27. Bình Định 3
9. Nam Định 11 28. Ninh Thuận Bình
Thuận
2
10. Hải Phòng 9 29. Sóc Trăng 2
11. Quảng Ninh 8 30. Tây Ninh 2
12. Thanh Hóa 7 31. Quảng Ngãi 1
13. Việt Bắc 6 32. Phan Thiết 1
14. Tây Nguyên 6 33. Bà Rịa Vũng Tàu 1
15. Hng Yên 5 34. Long An 1
16. Ninh Bình 5 35. Đồng Tháp 1
thống xứ Thanh do các tác giả Lê Huy Trâm va Hoàng Anh Nhân biên soạn. Trong hai tập
sách, các tác giả đã lựa chọn, khảo cứu 24 lễ tục, lễ hội tiêu biểu. Tuy nhiên, chính tác giả
cũng đã nhận thấy chỗ cha thỏa đáng của công trình: cha thể khảo tả các Lễ tục, Lễ hội
truyền thống ở Thanh Hóa. Cho nên việc họn khảo tả các Lễ tục và Lễ hội ở đây tất yếu
cũng rơi vào tình trạng ngẫu nhiên, làm cho việc phân loại có phần phiến diện, ch a thỏa
đángã và cha khảo tả loại lễ hội tôn giáo
1
Đặc biệt, công trình khoa học cấp tỉnh Nghiên cứu di sản văn hóa truyền thống Thanh
Hóa (hệ thống loại hình di sản: tín ngỡng, phong tục, lễ hội cổ truyền) do trờng Đại học Hồng
Đức tiến hành đã nghiên cứu về tín ngỡng, phong tục, lễ hội truyền thống Thanh Hóa một
cách có hệ thống và khá đầy đủ. Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
phi vật thể trong việc phát triển kinh tế xã hội hiện đại cha đợc đề cấp đến một cách tơng
xứng.
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ơng V (khóa VIII) về xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
đã rất chú trọng đến nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong đó có việc điều tra, su
tầm, nghiên cứu văn hóa phi vật thể trong toàn tỉnh, đặc biệt đối với miền núi nơi sinh tụ
của đồng bào các dân tộc thiểu số. Một số phong tục, tập quán, trò diễn, lễ hội đã đ ợc phục
dựng thành công nh: lễ tục Kin chiêng boóc mạy (dân tộc Thái), lễ tục Pồn Pôông (dân tộc
Mờng), lễ hội Khai hạ, lễ hội Mờng Khô, lễ tục làm vía kéo xi (ngời Mờng), lễ tục cấp sắc (ng-
ời Dao), lễ hội Đình Thi (ngời Thổ) Các trang phục truyền thống cũng đ ợc su tầm để bảo
tồn và trng bày. Bên cạnh đó, các giá trị văn hóa phi vật thể khác đang tồn tại cũng đợc
nghiên cứu, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, mê tín dị đoan để tiếp tục phát huy.
Tuy nhiên, công tác su tầm, nghiên cứu về văn hóa phi vật thể Thanh Hóa còn quá ít
và cha thật chuẩn xác, kho tàng văn hóa phi vật thể Thanh Hóa còn đang bị vùi lấp, chỉ mới
1
Lê Huy Trâm Hoàng Anh Nhân (2001), Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh , Nxb Văn hóa dân tộc, Hà
Nội
16
Đề tài: Nghiên cứu tiềm năng sản phẩm văn hoá - du lịch Thanh Hoá phục vụ phát triển kinh tế
Sau 10 năm kháng chiến gian khổ, năm 1428 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hoàn toàn
thắng lợi. Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, đặt lại quốc hiệu Đại Việt,
mở đầu cho triều đại Lê sơ hng thịnh và kéo dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với
26 đời vua và trị vì đợc 354 năm.
Cũng giống nh các triều đại trớc, để tỏ lòng tôn kính đối với tổ tiên, các vua triều Lê sơ
đã cho xây dựng trên quê hơng mình một khu điện, miếu thờ và lăng tẩm có quy mô lớn ở
Lam Sơn, đợc gọi là Tây Kinh hay Lam Kinh và coi đây là kinh đô thứ hai của nớc Đại Việt d-
ới thời Lê sơ.
Qua những tài liệu và sách vở ghi chép, lễ hội Lam Kinh xa đợc tổ chức vào tháng hai
âm lịch hàng năm chứ không phải vào ngày 21, 22, 23 tháng tám âm lịch nh hiện nay:
Hăm mốt Lê Lai
Hăm hai Lê Lợi
Hăm ba giỗ mụ hàng dầu
Lễ hội xa đợc tổ chức hàng tháng trời từ khi vua và các quần thần xa giá về Lam Kinh
bái yết sơn lăng đến khi trở lại Đông Kinh, chứ không phải chỉ trong ba ngày nh hiện nay: Hai
17
Chuyên đề: Thực trạng tiềm năng nhóm sản phẩm văn hoá phi vật thể truyền thống ở
Thanh Hoá (Loại hình Lễ hội, phong tục, tín ngỡng truyền thống)
mốt Lê Lai / Hai hai Lê Lợi / Hai ba giỗ mụ hàng dầuã Lễ hội xa có quy mô quốc tế của triều
đình nhà Lê với không gian lễ hội rộng lớn (cả tỉnh Thanh) và thời gian lễ hội dài (hàng tháng
trời). Nó khác hẳn với hội làng chỉ diễn ra trong không gian hẹp và thời gian ngắn.
Tham gia lễ hội Lam Kinh, du khách còn đợc tận hởng một không gian thoáng đãng
của khu rừng nguyên sinh, đợc đắm mình trong phong cảnh sơn thủy hữu tình và tham quan
các điểm di tích nổi tiếng, đặc biệt là khu lăng mộ bia Vĩnh Lăng tấm bia đợc đánh giá là
một trong những tấm bia lớn và đẹp nhất Việt Nam.
Lễ hội Lam Kinh vốn là một lễ hội cung đình, theo nghi thức tế lễ cũng đình thời Lê do
các đại thần soạn định theo điển lễ chứ không phải là lễ hội giân dan thờng gặp ở các làng
quê. Thời Lê, Nho giáo rất đợc đề cao, do vậy tục hát rí ren, thể hiện tín ngỡng phồn thực
trong quan niệm thẩm mỹ của dân gian đã bị các quan đại thần nho học bài bác, coi đó là
Theo truyền thuyết, có một ngời đàn bà chửa bị nớc lũ cuốn trôi dạt về vùng biển Sầm
Sơn. Dân trong vùng thơng xót hàng ngày đi qua nhặt đá đắp lên xác bà. Ngời mẹ tuy đã đợc
đắp mộ cao nhng cái thai trong bụng vẫn còn sống. Sau một thờ gian dài, một chú bé trong
bụng mẹ chui ra, hàng ngày quanh quẩn bên mộ mẹ và lấy đất đá đắp thêm làm thành dãy
18
Đề tài: Nghiên cứu tiềm năng sản phẩm văn hoá - du lịch Thanh Hoá phục vụ phát triển kinh tế
xã hội tỉnh Thanh Hoá
núi dài và cao nh ngày nay. Chú bé sống trong tình yêu thơng đùm bọc của dân làng và có
sức khỏe phi thờng. Ngày ấy, có một loài thủy quái mũi đỏ xuất hiện từ biển Đông tràn vào
phá phách, quấy nhiễu làm cho làng xóm xơ xác tiêu điều. Chàng trai xin dân làng rèn một
chiếc búa đồng để diệt bọn quỷ Đỏ. chàng cầm búa theo bè ra biển đánh cá, bọn quỷ Đỏ
xông vào bè đều bị chàng chém chết. Nhng bọn quỷ rất tinh quái, hôm nào chàng trai ra khơi
thì chúng kéo vào đất liền làm hại dân làng, hôm nào chàng ở lại đất liền chúng lại hùa nhau
ra khơi vây các bè lới để ăn thịt đoàn ngời đánh cá. Chàng chai đã dùng búa đồng xẻ đôi
thân mình: một nửa trấn ở trong làng, một nửa canh giữ ngoài biển khơi, bọn quỷ đỏ bị đuổi
đánh tơi bời. Cảm phục lòng dũng cảm và nhân ái của chàng, Ngọc Hoàng cho vời chàng lên
thiên đình để phong chức tớc nhng chàng nhất quyết xin ở lại trần gian giúp dân chúng, Ngọc
Hoàng liền phong chàng làm Thánh và bản cho phẩm trật đợc nhân dân đời đời tôn vinh thờ
phụng, hơng khói. Truyền thuyết và tín ngỡng thờ thần Độc Cớc là một nét độc đáo ở vùng
biển Sầm Sơn, thể hiện quá trình ngời Việt nơi đây tiến ra biển nhng còn ngập ngừng và sợ
hãi trớc biển.
Đền thờ Độc Cớc tọa lạc trên mỏm núi Sầm Sơn nhô ra biển. Nhân dân gọi nơi xây đền
là Hòn Cổ Giải là mỏm cực đông của dãy núi Trờng lệ, phía Tây là những thắng cảnh nổi
tiếng nh Hòn Trống Mai, chùa Cô Tiên.
Việc tế lễ ở đền Độc Cớc hầu nh diễn ra quanh năm song tập trung phần nhiều vào
tháng giêng, tháng hai, tháng năm âm lịch. Lệ tế lễ có hai hình thức: Tiểu tế và Đại tế. Tiểu
tế có Tế mộc dục vào 30 tháng chạp (lễ tắm tợng), Tế giao thừa (vào đêm giao thừa), Tế mở
cửa đền vào 13 tháng giêng âm lịch để khách thập phơng đợc vào lễ thánh trong năm mới,
Tế cơm mới khi thu hoạch xong mùa màng. Các kỳ Đại tế gồm có:
- Tế Chàm Lợn: vào mồng năm tháng giêng
nh đánh vật, bơi chải, đánh cờ ngời và đặc biệt là tổ chức rớc kiệu. Các làng rớc kiệu thành
hoàng làng mình về đình làng đăng cai để tế. Nghi thức rớc kiệu cũng có điểm đăcọ biệt:
kiệu bà Triều đợc rớc đi đầu, kiệu thần Độc Cớc đợc rớc tiếp theo, sau đó mới đến kiệu các
thần của 8 thôn đợc xếp theo trình tự các bậc Thợng thợng đẳng, Thợng đẳng và Trung đẳng
mà triều đình đã phong tặng.
Việc rớc kiệu bà Triều đi trớc kiệu Độc Cớc cũng đợc gắn với truyền thuyết dân gian: bà
Triều vốn là con gái út của một vị vua thời Lý. Vì mê sắc đẹp của nàng út, Long Vơng đòi vua
Lý phải gả con gái cho mình, nếu không sẽ dâng lũ tàn phá. Nhà vua bắt buộc phải nghe
theo. đoàn thuyền đa dâu ra biển Đông thì gặp trận cuồng phong, thuyền nàng út thoát đợc
vao cửa biển Sầm Sơn và đợc dân chài cu mang che chở. Nàng mang nghề dệt dạy dân đan
lới vó đánh cá. Về sau mất đợc dân làng Triều Dơng thờ làm Thành hoàng và gọi là bà Triều.
Thần Độc Cớc ngỏ lời cầu hôn với bà Triều, bà Triều đã ra điều kiện hai thần phỉ cùng
nhau thi tài: Độc Cớc tung con trâu lên trời để rơi xuống nát bét rồi phải nặn lại nh cũ, còn bà
Triều thì xé nhỏ một tấm lụa rồi dệt lại thành tấm lụa mới, ai xong trớc thì ngời ấy thắng cuộc.
Nếu Độc Cớc thắng thì đợc lấy Bà Triều làm vợ, ngợc lại Độc Cớc phải làm em gọi bà Triều
là chị. Trong giây lát bà Triều đã dệt lại tấm lụa nh cũ trong khi Độc Cớc mới nặn đợc cái đầu
trâu. Độc Cớc thua phải làm em tôn bà Triều là chị. Từ sự tích ấy, khi tổ chức rớc kiệu lễ vật,
trên kiệu bà Triều là tấm lụa trắng tinh nguyên, lễ vật trên kiệu thần Độc Cớc là một cái đầu
trâu. Khi rớc kiệu, kiệu Bà Triều đi trớc, kiệu Độc Cớc đi sau nhng thỉnh thoảng vẫn tạt lên để
ngó kiệu Bà Triều. Lễ r ớc kiệu vừa trang trọng, đông vui, sắc màu sặc sỡ thu hút đông đảo
nhân dân trong vùng đến dự.
Theo sách "Thanh Hoá ch thần lục" tỉnh Thanh Hoá có tới 52 nơi có đền, miếu thờ thần
Độc Cớc thuộc các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Yên Định, Quảng Xơng, Đông
Sơn Trong các đền thờ ở các địa điểm nói trên, đền Độc Cớc ở Sầm Sơn nổi tiếng hơn cả là
do gắn với thắng cảnh Sầm Sơn. Vào những ngày đầu năm, nhân dân trong vùng sau khi cúng
bái ở các Chùa, Phủ "trên rừng" nh đền Cửa Đạt, Phủ Na đều "xuống biển" dâng lễ ở đền
Độc Cớc, đền Cô Tiên để cầu may mắn. Đặc biệt từ khi thắng cảnh Sầm Sơn trở thành khu du
lịch nghỉ mát nổi tiếng, thu hút du khách trong nớc và quốc tế thì đền Độc Cớc và lễ hội đền
Độc Cớc cũng là một điểm quan trọng trong hành trình du lịch xứ Thanh.
* Lễ hội đền bà Triệu
Buổi hầu bóng này gọi là "giá đồng Bà Triệu". Giá đồng này khác với các giá đồng tại các
phủ Mẫu, không kéo dài và không có truyền phán gì. Trang phục của ngời ngồi giá đồng
cũng khác, thờng mặc quần áo đỏ, thắt lng xanh, giắt kiếm ngang lng, bên ngoài khoắc
áo choàng đỏ, đầu chít khăn nhiều nếp, nhiều màu sắc. Ngời ngồi đồng chỉ ban trầu hoặc
rợu cho ngời xung quanh. Có những lúc việc hầu bóng ở đền Bà Triệu bị coi là mê tín dị
đoan do việc không am hiểu văn hóa, lịch sử. Nhng đến nay, với việc Nhà nớc công nhận
lăng và đền thờ Bà Triệu là di tích lịch sử, nét sinh hoạt văn hóa này đang đ ợc khôi phục
với đúng bản chất và ý nghĩa của nó.
Đặc biệt, trớc ngày lễ hội, tại làng Phú Điền còn diễn ra hội "Ngô Triệu giao quân" là
một hình thức nhằm tạo ra dấu ấn sâu đậm trong tâm thức các thế hệ về chiến công oanh
liệt của Bà Triệu. Trai làng chia làm hai phe dùng gậy tre đánh trận giả, phe nào thắng đợc
gọi là quân Bà Triệu, phe nào thua phải rút chạy đợc gọi là quân Ngô. Cuộc giao tranh diễn
ra đến tra rồi cả hai bên hòa vào nhau để đi rớc kiệu vua Bà. Buổi tra hôm ấy mọi ngời đều
ăn đồ nguội để tởng nhớ việc ra trận phải ăn lơng khô, buổi tối các nhà mới làm cơm mời
nhau ăn uống linh đình coi nh đang mở tiệc khao quân.
Nh vậy, lễ hội đền bà Triệu là lễ hội lịch sử, nó đợc hình thành trên một sự kiện lịch sử
có thật, nhằm tỏ lòng tôn kính của ngời đơng thời. Đồng thờ, lễ hội đã tạo ra một hoạt động
văn hoá làm sống lại lòng yêu nớc, ý chí kiên cờng, bất khuất và tài năng xuất chúng của Bà
Triệu một vị nữ anh hùng dân tộc để làm gơng cho muôn đời con cháu mai sau noi theo.
Lễ hội đền Bà Triệu là lễ hội về một nữ thánh đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt đầu
công nguyên, một hoạt động có tính kết nối quốc gia và quốc tế với du lịch Sầm Sơn- Lam
Kinh - Lễ hội đức thánh mẫu Liễu Hạnh ở đền Sòng (Bỉm Sơn). Đây là điểm tài nguyên du
lịch nhân văn quan trọng đối với nghiên cứu lịch sử, dân tộc học và cũng là đối tợng đặc biệt
cho du lịch văn hóa trên phạm vi cả nớc.
* Lễ hội rớc nớc ở chùa Báo Ân
Lễ hội rớc nớc ở chùa Báo Ân gắn liền với mảnh đất làng Bồng Thợng một làng cổ
của xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc. ở đây có nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng đợc xếp
21
Chuyên đề: Thực trạng tiềm năng nhóm sản phẩm văn hoá phi vật thể truyền thống ở
Thanh Hoá (Loại hình Lễ hội, phong tục, tín ngỡng truyền thống)
ba vòng đến hòn đá giữa dòng sông thì cắm nêu dừng thuyền. Ngày 29-2 lễ hội kết thúc
trong phần tế tạ (ngày hóa của Mẫu).
Ngày nay, trong các ngày diễn ra lễ hội tại làng Bồng Thợng, chính quyền và các đoàn
thể xã Vĩnh Hùng đã tổ chức nhiều trò chơi, trò diễn dân gian truyền thống của địa phơng nh
đẩy gậy, kéo co, thi đấu thể thao
* Lễ hội đền Lê Bố Vệ
Đền Lê Bố Vệ dợc xây dựng năm 1805 thời vua Gia Long trên đất làng Bố Vệ, gần Cầu
Bố (TP Thanh Hóa). Hiện nay có nhiều lý do giải thích việc vua Gia Long cho xây dựng khu
đền này. Gọi là đền Lê Bố Vệ là để phân biệt với đền Lê làng Cham trên đất Lam Sơn Thọ
Xuân. Lam Kinh đã từng diễn ra nhiều lần lễ hội có quy mô lớn mỗi khi nhà vua và các quan
từ Thăng Long về bái yết sơn lăng. Sau nhiều biến cố lịch sử, Lam Kinh trở nên đổ nát,
hoang phế nên lễ hội làng Cham ngày càng mai một. Lễ hội đền Lê Bố Vệ đợc tập trung thu
hút nhiều nơi hớng về nơi đây là Thái miếu thờ các vua Lê, để tởng nhớ cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn và gần 400 năm dới chế độ phong kién triều Lê một thời huy hoàng. Ngày nay, di tích
đền Lê Bố Vệ và lễ hội nơi đây trở thành điểm du lịch thu hút nhiều đoàn tham quan trong n-
ớc và quốc tế.
22
Đề tài: Nghiên cứu tiềm năng sản phẩm văn hoá - du lịch Thanh Hoá phục vụ phát triển kinh tế
xã hội tỉnh Thanh Hoá
Hàng năm, ở đền Lê Bố Vệ có 2 lễ chính. Lễ hội xuân diễn ra vào các ngày rằm tháng
Giêng. Lễ hội chính diễn ra vào các ngày 20, 21, 22 tháng Tám âm lịch. Về ý nghĩa, lễ hội
xuân cầu cho ma thuận gió hòa, dân làng no ấm. Lễ hội chính là lễ tởng nhớ ngày mất của
vua Lê Thái Tổ và Lê Lai
Về nghi thức tế lễ, hai lễ này đều đợc tiến hành các bớc giống nhau nhng quy mô thì lễ
hội chính hơn hẳn. Lễ hội chính xa kia đợc tổ chức quy mô hoành tráng vào các năm Tý,
Ngọ, Mão, Dậu. Cũng vào những năm này, tại kinh đô Huế, triều đình cũng làm lễ tế Nam
Giao (tế trời đất), là một trong những quốc tế to nhất trong các triều đại phong kiến. Các
quan tiến hành tế lễ phải ở riêng, ăn chay, giữ mình thanh tịnh nhiều ngày trớc. Các nghi thức
tế lễ đợc tiến hành nghiêm trang, long trọng. Ngày 21 tháng Tám âm lịch giỗ Trung Túc vơng
Lê Lai có dâng lễ vật và đèn nhang. Tơng truyền khi sắp mất, Lê Lợi dặn con cháu và quần
Đạo Tràng và sau đó là sự dàn xếp, giảng hòa của Đức Phật để Đạo Mẫu, Đạo Đông, và
Đạo Phật cùng song song tồn tại. Đó chính là biểu hiện của "tam giáo đồng nguyên" trong
lịch sử ở Thanh Hóa nói riêng và trong nớc nói chung.
23
Chuyên đề: Thực trạng tiềm năng nhóm sản phẩm văn hoá phi vật thể truyền thống ở
Thanh Hoá (Loại hình Lễ hội, phong tục, tín ngỡng truyền thống)
Đến thời Nguyễn, nữ thần Liễu Hạnh chính thức đợc triều đình ban sắc là "mẫu nghi
thiên hạ". Từ đó, đạo Mẫu đã phát triển rộng khắp và nhanh chóng ở các vùng của đồng
bằng Bắc Bộ. Hai trung tâm thờ Mẫu lớn nhất và nổi tiếng nhất là Phủ Giày (Nam Định) và
Đền Sòng Phố Cát. Tuy nhiên, trong tâm thức dân gian, đền Sòng xứ Thanh vãn là
"thiêng" nhất.
Nhất vui là hội Phủ Giày
Vui thì vui vậy cha tày (bằng) Sòng Sơn
Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh
(Lời hát văn cổ)
Trong những ngày thờng, đền Sòng vẫn liên tục có nhiều ngời đến cầu cúng. Nhng chỉ
trong những ngày hội thì mới thực sự đông vui. Lễ hội rất giản đơn và không bị gò bó bởi bất
kể luật lệ, thủ tục phiền toái nào. Ngời ta chỉ cần cố chen để đặt đợc cúng lễ để cầu cho Đức
Thánh Mẫu ban cho những điều tốt đẹp mà mình mong ớc, nếu đông quá thì phải bái vọng
hoặc chờ cho đến đêm để ngời tha bớt mới đặt đợc lễ. Lôi cuốn nhất trong lễ hội là lễ rớc
bóng Mẫu từ đền Sòng đến đền Đức Ông rồi về đền Cô Chính và từ đền Cô Chín lại lên đỉnh
đồi Ba Dội, từ Ba Dội lại về đền Sòng. Trong cuộc rớc bóng nh vậy, ngời khắp mọi nơi đổ về
xếp hàng đi sau kiệu đông đến hàng vạn ngời. Sức mạnh tâm linh mà Mẫu truyền cho đã
làm cho bất kỳ ai, kể cả ngời già đều đủ sức trèo lên đèo Ba Dội . Những cuộc rớc bóng nh
vậy đã thành thông lệ từ xa, không cần phải thông báo, vận động mà tất cả đều tham gia với
sự tự nguyện theo quan niệm ai đợc đi rớc bóng thì Đức Thánh Mẫu sẽ phù hộ.
Thông thờng ngời đến dự lễ hội đền Sòng còn đi đến luôn đền Phố Cát nơi nữ thần
Liễu Hạnh giáng trần lần thứ ba. Đây cũng là khu vực danh lam thắng cảnh nổi tiếng với mời
chỉ diễn ra 2 ngày mồng 10 và 11 tháng 2 nhng không khí tập luyện, chuẩn bị đã kéo dài từ
trớc khiến cho không khí trong làng lúc nào cũng tng bừng, rộn rã.
Lễ hội Xuân Phả vốn là lễ hội dân gian, càng về sau càng có chiều hớng phát triển
thành lễ hội lịch sử. Có lẽ do vùng c dân này không những nằm trên đại bàn hoạt động của
nghĩa quân Lam Sơn mà còn rất gần với khu vực trung tâm là Lam Kinh. Chính vì vậy trò
Xuân Phả giàu chất cung đình, mà lễ hội Xuân Phả đạm đặc không khí lịch sử. Hệ thống trò
diễn Xuân Phả đã dung nạp, hội tụ đợc nhiều loại hình nghệ thuật múa, hát, âm nhạc, trang
phục, biểu diễn Chính sự hội tụ này phần nào làm mờ yếu tố cung đình trong trò diễn, nh -
ng vẫn khiến ta có cảm tởng nó rất gần với khúc múa Ch hầu lai triều một tác phẩm cung
đình đầu tiên của nớc ta đợc sáng tác vào thời Lê Thái Tông (1437). Ngời dân Xuân Phả luôn
trân trọng, nâng niu giữ gìn hệ thống trò diễn của mình, coi đó là bảo vật cha ông truyền
lại. Đội trò Xuân Phả đã đợc mời đi biểu diễn nhiều nơi ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội, phục vụ
công cuộc kháng chiến cứu nớc. Ngày nay, đội trò Xuân Phả đợc tham dự trong những ngày
hội văn hóa lớn của dân tộc ở Hà Nội, Huế và trong những ngày lễ kỷ niệm anh hùng dân tộc
Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi của Thanh Hóa.
* Lễ hội Phủ Na
Phủ Na thuộc xã Xuân Du, huyện Nh Thanh. Đây là một khu vực thiêng thờ đạo Mẫu ở
vùng rừng núi phía tây nam Thanh Hóa. Nơi đây có tiếng là thiêng và đẹp nên từ lâu đã trở
thành một trong số những tâm điểm sinh hoạt tín ngỡng điển hình của xứ Thanh. Đến với di
tích thắng cảnh Phủ Na là đến với cả hệ thống di tích tín ngỡng thờ đạo Mẫu trong không
gian liền kề từ thấp đến cao của chân, sờn núi Na, đó là: Đền Trình hay đền Cô Ba Thoải thờ
Mẫu Thoải; Đền Đức Ông thờ Đức Thánh Trần; Đền Quan Hoàng thờ 12 vị quan hoàng trong
đó có Lê Khôi danh tớng của khởi nghĩa Lam Sơn và quan lớn Triệu Tờng thủy tổ triều
Nguyễn; Đền Mẫu là khu vực đền phủ trung tâm có tính chất bao trùm, chi phối toàn bộ hệ
thống thờ của đạo Mẫu khu vực này; Đền Cô Chín thờ Mẫu Thiên; Miếu thờ chúa Thợng
Ngàn; Nơi thờ Thánh Tản Viên. Điều đặc biệt ở cụm di tích này là sự hiện diện của một lớp
văn hóa tín ngỡng đã có mặt ở vùng đất này từ trớc khi có sự du nhập của đạo Mẫu. Đó là
lớp tín ngỡng thờ thần núi Tản Viên và Mẹ Âu Cơ - một tín ngỡng nguyên thủy của ngời Việt
cổ mà nhóm c dân Mờng Hòa Bình mang đến đây ngay từ lúc vừa đặt chân đến đây c trú
(vào năm 1858) để thành lập ra các chòm, bản ở Xuân Du. Khi đạo Mẫu du nhập đến vùng