Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
A/ PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ngày nay sự bùng nổ của CNTT nói riêng và khoa học công nghệ nói chung đã
và đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của tất cả các ngành và lĩnh vực của đời
sống xã hội. Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, bắt kịp những thay đổi lớn của thời đại, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực
phát triển cao, phải có những con người năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường… điều
đó cho thấy giáo dục và đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng, là nền tảng cho việc
hoàn thiện con người và là tiền đề cơ bản để phát triển đất nước. Vì vậy giáo dục và
đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu trong chủ trương, đường lối của Đảng; đổi
mới giáo dục, đổi mới cách dạy, cách học đã và đang được xã hội hết sức quan tâm.
Sự phát triển của khoa học công nghệ đã và đang mở ra những khả năng và
điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng phương tiện CNTT vào quá trình dạy học. Việc
sử dụng có tính sư phạm những thành quả khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi lớn
đến hiệu quả của quá trình dạy học, hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện dạy
học cũng như góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Không
những thế, nhờ có cuộc cách mạng này mà giáo dục đào tạo đã có thể thực hiện được
các tiêu chí mới: Học mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời và: Dạy cho mọi người và
mọi trình độ tiếp thu khác nhau.
Tuy nhiên trên thực tế, việc sử dụng phương tiện CNTT vào quá trình dạy học
ở nhiều bộ môn hiện nay vẫn còn hạn chế - trong đó có môn Địa lí. Chính sự hạn chế
đó đã làm giảm đi sự hấp dẫn của bộ môn, quá trình dạy học trở nên khô cứng, hàn
lâm và dĩ nhiên những mục tiêu đề ra về kiến thức, kỹ năng cũng như thái độ rất khó
đạt được.
Để góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học, thay đổi cách dạy, cách
học ở môn Địa lí THPT phù hợp hơn trong thời đại hiện nay - thời đại của khoa học
và công nghệ - tôi chọn chuyên đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy-học
môn Địa lí THPT với hy vọng có thể chia sẻ chút kinh nghiệm của mình với đồng
nghiệp để cùng nhau hoàn thành tốt sứ mệnh “trồng người” của mình.
VI. Các phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài;
2. Phương pháp quan sát nhằm tìm hiểu hứng thú, khả năng tiếp thu của học
sinh trong các tiết học được tổ chức theo hướng ứng dụng CNTT;
3. Phương pháp điều tra nhằm đánh giá thực trạng có bao nhiêu học sinh còn
thiếu tập trung, học tập không hiệu quả trong các tiết học theo hướng ứng
dụng CNTT;
4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Thông qua kết quả các bài
kiểm tra có thể đánh giá chất lượng và hiệu quả các tiết dạy theo hướng ứng
dụng CNTT;
****************
B/ PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Quan niệm về ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lí
======================================================================
Thực hiện: Dương Văn Nam – GV Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – NH: 2014 – 2015 2
Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
- Cho đến nay, phải nói rằng không một ai nghi ngờ về vai trò to lớn và những
tác dụng kỳ diệu của CNTT trong các lĩnh vực của đời sống. Trong giáo dục, việc
ứng dụng CNTT trên thực tế cũng đã đem lại kết quả đáng kể và những chuyển biến
lớn trong dạy học, nhất là về đổi mới PPDH.
- Những năm qua việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa được
thực hiện khá đồng bộ. Việc đổi mới nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới
phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải sử dụng phương
tiện dạy học phù hợp và CNTT là một trong những phương tiện quan trọng góp phần
đổi mới PPDH bằng việc cung cấp cho giáo viên những phương tiện làm việc hiện
đại. Từ những phương tiện này giáo viên có thể khai thác, sử dụng, cập nhật và trao
đổi thông tin. Ví dụ, giáo viên có thể khai thác mạng Internet với các công cụ tìm
kiếm như Google.com hoặc Vinaseek.com. Việc khai thác mạng giúp giáo viên tránh
học sinh mất tập trung. Đồng thời lượng chữ và thông tin trên một slide cụ thể phải
được trình bày một cách ngắn gọn, lôgic và bảo đảm tính sư phạm.
- Trên thực tế, bài giảng điện tử có thể được viết dưới nhiều ngôn ngữ lập trình
tùy theo khả năng của người lập trình hoặc có thể dựa vào các phần mềm trình diễn
sẵn có như PowerPoint, đây là phần mềm thiết kế bài giảng điện tử đơn giản nhất,
phù hợp với các giáo viên giảng dạy các bộ môn không chuyên về CNTT như môn
Địa lí bởi chương trình này dễ sử dụng, giáo viên có thể tự nghiên cứu để thực hiện.
2. Những yêu cầu cơ bản đối với việc ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lí
- Trong quá trình ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy, điều cần lưu ý CNTT
chỉ là phương tiện hỗ trợ đắc lực để HS có thể nắm được kiến thức cách sâu sắc, rèn
luyện kỹ năng Địa lí, đánh thức các năng lực và góp phần vào việc đổi mới phương
pháp dạy và học chứ không phải là tất cả.
- Muốn ứng dụng CNTT để phục vụ tốt công tác giảng dạy của mình, trước hết
người giáo viên cần phải có những kiến thức cơ bản về tin học, các kĩ năng sử dụng
máy tính và một số thiết bị CNTT thông dụng nhất. Đồng thời hiện nay mạng Internet
đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong công tác giảng dạy của giáo viên, sử
dụng Internet giúp giáo viên tìm kiếm thông tin nhanh và có hiệu quả. Tuy nhiên điều
đó đòi hỏi giáo viên phải biết thu thập những địa chỉ web hay trong từng lĩnh vực cụ
thể, phải trang bị cho mình các kỹ năng tìm kiếm thông tin trên mạng, kỹ năng tra
cứu, lưu giữ, xử lý thông tin…
- Người giáo viên cũng cần phải có các kỹ năng tạo ra các sản phẩm tích hợp
(dạng multimedia: đa phương tiện) bao gồm nhiều dạng tài liệu như văn bản, video,
hình ảnh, âm thanh và tích hợp nó trong một sản phẩm trình diễn… Tất cả điều đó đòi
hỏi giáo viên phải luôn tự nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ chuyên môn và kiến
thức, kỹ năng sử dụng máy tính… để ứng dụng CNTT vào việc dạy học môn Địa lí
THPT có hiệu quả.
- Để phát huy năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh trước hết người thầy
phải là tấm gương sáng về tự học, tự đào tạo, tự nâng cao trình độ hiểu biết. Mặt khác
giáo viên phải biết cách thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh trong môi
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY - HỌC ĐỊA LÍ THPT
Quá trình ứng dụng CNTT trong dạy học, đặc biệt là dạy học các bộ môn đặc
thù như môn Địa lí có nhiều ưu điểm như: như quá trình lên lớp giáo viên không nặng
======================================================================
Thực hiện: Dương Văn Nam – GV Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – NH: 2014 – 2015 5
Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
nề về các khâu phải chuẩn bị đồ dùng dạy học như bản đồ, bảng phụ, tranh ảnh… mà
vẫn truyền tải được tới cho học sinh đầy đủ hệ thống kiến thức cần thiết, cũng như hệ
thống tranh ảnh, sơ đồ, lược đồ…một cách trực quan sinh động, truyền tải nhanh tới
học sinh một số kiến thức lớn.
Ứng dụng CNTT trong một tiết dạy có thể giải quyết được các nhiệm vụ cơ
bản của quá trình dạy học một cách tối ưu như: truyền thụ kiến thức, phát triển tư
duy, rèn luyện kỹ năng thực hành, ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá…nhờ khả năng
lưu trữ, cung cấp thông tin nhanh, chính xác, điều khiển, điều chỉnh kiểm tra và liên
lạc, luyện tập các kỹ năng và thực hành, minh họa, trực quan hóa bằng mô phỏng…
Thậm chí còn có khả năng cung cấp cho học sinh những kiến thức đặc biệt mà những
phương pháp khác không làm được như: các đoạn phim tư liệu, hình ảnh được liên
kết âm thanh, hiệu ứng, không gian ba chiều…với sự hỗ trợ của phần mềm.
Tuy nhiên từ trước đến nay, các môn khoa học xã hội, nhất là môn Địa lí rất ít
sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, chủ yếu là sách giáo khoa, phấn trắng, bảng
đen, các tờ bản đồ đã cũ… việc sử dụng băng hình, đĩa CD, máy chiếu Overhead,
Projector, máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại khác nhìn chung vẫn còn
hạn chế, thậm chí là còn xa lạ với nhiều giáo viên. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
tình trạng trên:
- Trước hết Địa lí là môn khoa học xã hội, nội dung thiên về lý luận và mang
tính trừu tượng cao, nên việc đầu tư thiết bị dạy học của môn học này còn rất hạn chế,
dường như không có gì và thực tế cũng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và
toàn diện về sử dụng thiết bị dạy học ở môn học này.
đưa quá nhiều thông tin, phim ảnh không phù hợp làm giảm hiệu quả giờ dạy.
Từ thực tế trên cho thấy sự cần thiết phải triển khai rộng rãi việc ứng dụng
CNTT vào dạy học nói chung và môn Địa lí nói riêng có tính đồng bộ, đúng hướng sẽ
có hiệu quả hơn.
****************
CHƯƠNG III
CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN MỘT TIẾT DẠY
THEO HƯỚNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1. Khái quát chung
Để thực hiện một tiết dạy theo hướng ứng dụng CNTT điều đầu tiên người giáo
viên phải hiểu rằng công nghệ không phải là tất cả nhất là khi lạm dụng nó quá mức
======================================================================
Thực hiện: Dương Văn Nam – GV Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – NH: 2014 – 2015 7
Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
mà phải biết phối hợp một cách nhịp nhàng, logic giữa công nghệ và các phương
pháp dạy học truyền thống trong đó có phấn trắng bảng đen.
Trong thiết kế một bài giảng điện tử có thể sử dụng nhiều phần mềm cũng như
nhiều trình ứng dụng khác nhau, vấn đề là lựa chọn phần mềm nào, trình ứng dụng
nào để có thể chuyển tải, hỗ trợ hiệu quả nhất cho bài dạy của mình theo yêu cầu đã
đặt ra.
Trong khả năng hiểu biết của mình, xin được chia sẻ qua chuyên đề này quy
trình thiết kế bài giảng Địa lí bằng phần mềm PowerPoint với các bước thực hiện bao
gồm:
Bước 1: Xác định những nội dung chính của bài giảng cần chuyển vào các
slide.
Tất cả nội dung của bài học không nhất thiết phải được thể hiện trong các slide
trình chiếu mà phải lựa chọn sao cho phù hợp với mục tiêu và phương pháp tiến hành
trong nội dung đó. Ngoài ra những nội dung đưa vào các slide phải ngắn gọn, rõ ràng.
Bước 2: Xác định nội dung thông tin, phim, ảnh, âm thanh phục vụ bài
biện pháp xử lý.
- Sửa chữa: Là quá trình khắc phục những sai sót trong khi thiết kế bài giảng.
- Thực hiện việc trình chiếu ở tiết dạy trên lớp.
2. Bài dạy thực nghiệm
Bài 6 - HỢP CHÚNG QUỐC HOA KÌ
Tiết 1: TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC Sau bài học – HS cần
1.1. Kiến thức
- Biết được các đặc điểm về vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ của Hoa Kì.
- Trình bày được đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên từng vùng.
- Phân tích đặc điểm dân cư Hoa Kì và ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển
kinh tế.
1.2. Kĩ năng
- Rèn luyện kĩ năng phân tích bản đồ, lược đồ để thấy được đặc điểm địa hình, sự
phân bố khoáng sản, dân cư Hoa Kì.
- Kĩ năng phân tích bảng số liệu, tư liệu về tự nhiên, dân cư Hoa Kì.
1.3. Thái độ
Hiểu được sự rộng lớn và đa dạng của tự nhiên Hoa Kì với vị trí thuận lợi đã tạo nên
thế mạnh quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế.
1.4. Định hướng phát triển năng lực
- Một số năng lực cốt lõi: Tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo, hợp tác, tính toán
- Năng lực chuyên biệt: Tư duy tổng hợp, sử dụng bản đồ, bảng số liệu thống kê, hình
ảnh
II. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN
Khởi động: Hoa Kì là một quốc gia mới được thành lập cánh đây khoảng hơn hai thế
kỉ, là quốc gia non trẻ nhưng tại sao lại nhanh chóng trở thành “bá chủ” toàn cầu như
vậy? Câu hỏi ấy được phần nào lí giải trong bài học hôm nay.
Hoạt động 1:
Tìm hiểu lãnh thổ và vị trí địa lí của Hoa Kì
Hình thức: Cả lớp
B.
- Nằm giữa hai đại dương lớn Đại Tây Dương và Thái Bình Dương
- Tiếp giáp với Ca-na-đa và Mĩ La tinh.
Bước 4
* GV chỉ vào phần trung tâm Bắc Mĩ và hỏi HS: Với vị trí địa lí như trên sẽ đem lại
cho Hoa Kì những thuận lợi gì trong phát triển kinh tế?
======================================================================
Thực hiện: Dương Văn Nam – GV Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – NH: 2014 – 2015 10
Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
* Đại diện HS trả lời, giáo viên dựa vào kênh hình chuẩn kiến thức và trình bày ngắn
gọn trên bảng đen.
Ý nghĩa:
- Tránh được sự tàn phá của 2 cuộc đại chiến thế giới và giàu lên nhờ chiến tranh;
- Giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường và phát triển kinh tế biển;
- Có thị trường tiêu thụ tại chổ rộng lớn.
Hoạt động 2:
Tìm hiểu điều kiện tự nhiên phần trung tâm Bắc Mĩ của Hoa Kì
Hình thức: Nhóm
Phương pháp: Thảo luận
Bước 1
* GV chia lớp thành 6 nhóm và phân công nhiệm vụ cho các nhóm:
- Nhóm 1,2: Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên của vùng phía Tây.
- Nhóm 3,4: Tìm hiểu đặc điểm vùng phía Đông.
- Nhóm 5,6: Tìm hiểu đặc điểm vùng Trung tâm.
Yêu cầu:
Các nhóm đọc SGK mục II, kết hợp hình 6.1, để hoàn thành phiếu học tập theo mẫu:
Nhóm 1,2: PHIẾU HỌC TẬP 1 (vùng phía Tây)
Yếu tố Đặc điểm
Phạm vi
* Đại diện các nhóm báo cáo kết quả
- Đại diện nhóm 1, 2 trình bày kết quả thảo luận: Đặc điểm vùng phía Tây
- GV chuẩn kiến thức qua hình ảnh (lược đồ tự nhiên và lát cắt từ Tây sang
Đông) trên màn hình, cho HS xem một số hình ảnh vùng phía Tây của Hoa Kì
và có thể phát vấn một số câu hỏi có liên quan.
Các yếu tố Đặc điểm
Phạm vi - Gồm vùng núi Coóc-đi-e và các đồng bằng ven Thái Bình Dương.
Địa hình - Các dãy núi cao >2000m chạy song song theo hướng Bắc – Nam.
- Xen giữa là các bồn địa và cao nguyên.
Khí hậu - Ở các các bồn địa và cao nguyên có khí hậu khô hạn
- Ven Thái Bình Dương có khí hậu cận nhiệt và ôn đới hải dương.
Tài nguyên
TN
- Khoáng sản phong phú: vàng, đồng, bôxit, chì.
- Thủy năng, rừng, đồng cỏ, đất trồng.
Địa hình ven bờ Thái Bình Dương (miền Tây Hoa Kì)
Các cao nguyên và bồn địa (miền Tây Hoa Kì)
======================================================================
Thực hiện: Dương Văn Nam – GV Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – NH: 2014 – 2015 13
Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
Một bộ phận trong hệ thống núi Cooc-đi-e (miền Tây Hoa Kì)
======================================================================
Thực hiện: Dương Văn Nam – GV Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – NH: 2014 – 2015 14
Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
- Đại diện nhóm 3, 4 trình bày kết quả thảo luận: Đặc điểm vùng phía Đông
- GV chuẩn kiến thức qua hình ảnh (lược đồ tự nhiên và lát cắt từ Tây sang
Đông) trên màn hình, cho HS xem một số hình ảnh vùng phía Đông của Hoa
Kì và có thể phát vấn một số câu hỏi có liên quan.
Tìm hiểu điều kiện tự nhiên phần bán đảo A-la-xca và quần đảo Ha-oai
của Hoa Kì
Hình thức: Cá nhân
Phương pháp: Đàm thoại gợi mở
Bước 1
* GV yêu cầu HS đọc mục II.2, nêu một số đặc điểm nổi bật về tự nhiên của bán đảo
A-la-xca và quần đảo Ha-oai.
Bước 2
- Đại diện HS trình bày, HS khác bổ sung.
- GV chuẩn kiến thức, cho HS xem một số hình ảnh bán đảo A-la-xca và quần
đảo Ha-oai của Hoa Kì và có thể phát vấn một số câu hỏi có liên quan.
======================================================================
Thực hiện: Dương Văn Nam – GV Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – NH: 2014 – 2015 17
Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
Vùng Đặc điểm tự nhiên Ý nghĩa
Alaxca
- Là bán đảo nằm ở tây bắc Bắc Mĩ.
- Nhiều núi cao, khí hậu lạnh giá, giàu dầu
khí, thủy sản.
Phát triển CN khai khoáng,
thủy sản
Ha-oai
- Là quần đảo giữa Thái Bình Dương.
- Nhiều đảo núi lửa, san hô; khí hậu nhiệt
đới ẩm.
Có tiềm năng lớn về hải
sản, du lịch và hàng hải.
Bán đảo A - la - xca (Hoa Kì)
Tràn dầu ở A - la - xca (Hoa Kì)
Nhóm trên 65 tuổi (%) 8,0 12,0
Bước 2
* Đại diện HS lần lượt trả lời từng câu hỏi, HS khác bổ sung, GV dựa vào 2 bảng trên
(trên màn hình) chuẩn kiến thức lên bảng đen.
III. DÂN CƯ
1. Gia tăng dân số:
- Có dân số đông thứ 3 thế giới (Sau Trung Quốc và Ấn Độ)
- Tăng nhanh chủ yếu do nhập cư => Nguồn vốn, nguồn lao động dồi dào, trình
độ cao.
- Dân số có xu hướng già hoá.
Bước 3
* GV yêu cầu HS dựa vào mục III.2 SGK:
- Nhận xét về thành phần dân cư của Hoa Kì.
- Giải thích nguyên nhân tạo nên tính đa dạng ấy.
- Cái tên Hợp chủng quốc Hoa Kì hay “đất nước của những người nhập cư” theo em
từ đâu mà có.
======================================================================
Thực hiện: Dương Văn Nam – GV Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – NH: 2014 – 2015 20
Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
* Đại diện HS trả lời, GV dựa vào hình trên màn hình phân tích và chuẩn kiến thức
và cho HS xem một số hình ảnh.
2. Thành phần dân cư: Đa dạng, phức tạp
- Gốc châu Âu: chiếm 83%.
- Châu Á, Mĩ La tinh:6%
- Châu Phi: >10%.
- Người bản địa:1%
+ Thuận lợi: Tạo nên tính năng động của dân cư, văn hoá đa dạng .
+ Khó khăn: Sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư =>Gây ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế.
TN
CHƯƠNG IV
PHẦN THỰC NGHIỆM
1. Khái quát về quy trình
a. Mục đích thực nghiệm
Mọi lý thuyết đều vẫn đươc thực nghiệm trước khi ứng dụng vào thực tiễn, việc
làm này nhằm đánh giá, kiểm nghiệm tính đúng đắn của lý luận đối với thực tiễn.
b. Đối tượng thực nghiệm :
- Đối tượng thực nghiệm là học sinh 4 lớp 12: 12C1, 12C2, 12C3 và 12C4 -
Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, Quảng Ngãi.
- Các lớp này đều học chương trình chuẩn (ban cơ bản) và có những nét tương
đồng về tỉ lệ học lực, tỉ lệ giới tính cũng như các yếu tố khác
- Giáo viên phụ trách đã tổ chức hai cách dạy khác nhau trên hai nhóm.
* Nhóm 1 (nhóm thực nghiệm) gồm các lớp 12C1, 12C2: Các tiết dạy được
thực hiện theo hướng ứng dụng CNTT.
* Nhóm 2 (nhóm đối chứng) gồm các lớp 12C3, 12C4: Các tiết dạy được thực
hiện theo cách dạy truyền thống (không ứng dụng CNTT).
c. Nội dung thực nghiệm
TT Nội dung thực nghiệm Số lượng
1 Bài thực nghiệm 4
2 Số tiết thực nghiệm 4
3 Số học sinh tham gia 165
======================================================================
Thực hiện: Dương Văn Nam – GV Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – NH: 2014 – 2015 24
Chuyên đề: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY – HỌC MÔN ĐỊA LÍ THPT
4 Số bài kiểm tra trắc nghiệm 580
Quy trình thực nghiệm được tiến hành trên những bước sau :
Bước 1
- Tìm hiểu các phương pháp khác có liên quan.