SKKN Đề tài Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại - Pdf 29

Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.Lý do khách quan
Ở bộ môn Ngữ Văn 10, chương trình Văn cung cấp những kiến thức cơ bản về
văn bản, về đặc trưng thể loại văn học tiêu biểu. Kế thừa phần lớn văn bản văn
học dân gian của chương trình văn học trước đây, chương trình lần này có một số
điểm mới:
- Đưa thêm các thể loại: truyền thuyết, truyện cười và truyện thơ các dân tộc
thiểu số vào phần Đọc thêm để tạo nên sự toàn diện, cân đối giữa văn học người
Kinh và văn học các dân tộc anh em.
- Bên cạnh ca dao trữ tình còn có ca dao hài hước.
2. Lý do chủ quan
- Tác phẩm văn học dân gian được cấu thành bởi nhiều yếu tố: ngôn từ, âm
nhạc, hóa trang, điệu bộ, vũ đạo. Điều này khác với văn học viết (chỉ có ngôn từ).
Có thể nói, tác phẩm văn học viết là nghệ thuật đơn yếu tố và văn học dân gian là
nghệ thuật đa yếu tố. Cho nên, khi dạy học, ta phải lưu ý đến đặc điểm này.
- Cuộc sống đích thực của tác phẩm văn học dân gian có ba dạng tồn tại:
+Tồn tại “ ẩn” trong ký ức của nhân dân.
+Tồn tại trong diễn xướng.
+Tồn tại cố định trên văn bản bằng văn tự.
Vậy phải tổ chức tiết học và giảng dạy như thế nào để giúp các em lĩnh hội
được kiến thức, khơi gợi được niềm say mê, hứng thú học tập của các em là điều
tôi rất quan tâm khi dạy tác phẩm văn học dân gian.
Tóm lại: Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN THEO THỂ LOẠI.
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
1
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
II/MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài này nhằm mục đích giúp học sinh rèn luyện năng lực cảm thụ tác phẩm

+ Đoạn trích “Rama buộc tội” (trích Ra-ma-ya-na- sử thi Ấn Độ)
-Truyền thuyết: Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy.
-Truyện cổ tích: Tấm Cám.
-Truyện cười: Tam đại con gà.Nhưng nó phải bằng hai mày
-Ca dao:
+Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa.
+Ca dao hài hước.
- Truyện thơ: Đọc thêm “Lời tiễn dặn” (trích Tiễn dặn người yêu- truyện thơ
dân tộc Thái)
V/ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Vận dụng các phương pháp đã nghiên cứu được để thực hiện giảng dạy tác
phẩm văn học dân gian cụ thể, tôi thấy đạt kết quả hơn so với phương pháp trước
đây. Cụ thể:
- Tiết học sinh động hơn, khơi gợi được hứng thú học tập của học sinh.
- Học sinh đã cảm nhận được cuộc sống, sinh hoạt văn hóa của nhân dân lao
động và cộng đồng các dân tộc.
- Học sinh có thể hiểu được những điều sâu xa mà tác giả dân gian gửi gắm.
- Tác phẩm văn học dân gian đã thực sự sống trong lòng các em.
B. NỘI DUNG
I/ LỊCH SỬ CỦA ĐỀ TÀI
Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phương pháp dạy học văn học dân gian
theo thể loại như bài viết trong quyển “Mười tác phẩm ca dao qua sự cảm thụ,
phân tích, tranh luận theo dòng thời gian” do Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thúy
Loan, Đặng Diệu Trang biên soạn, “Văn học dân gian- những công trình nghiên
cứu” của tác giả Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng và cũng có nhiều tài liệu, sách
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
3
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
tham khảo giúp giáo viên định hướng phương pháp giảng dạy Văn như quyển
“Phương pháp dạy học Văn”(tập 1) của tác giả Phan Trọng Luận (chủ biên),

mặt của các em đối với thế giới văn học dân gian (thời đại, văn hóa, tâm lí, ngôn
ngữ, cách cảm, cách nghĩ,…). Giáo viên cần lấp khoảng cách ấy. Khi cần, có thể
sử dụng một cách hợp lí các làn điệu, các hình thức diễn xướng dân gian để đưa
học sinh về với thế giới của văn học dân gian. Đây cũng là con đường chuyển tải
tốt nhất tác phẩm văn học dân gian đến người học trong nhà trường.
2. Cơ sở pháp lý
Đề tài dựa theo yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục hiện nay, nhất là
mục đích yêu cầu của sách giáo khoa Ngữ văn 10 và dựa trên những kiến thức đã
tham khảo được trong những sách báo, tài liệu như:
+ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên.
+ Sách giáo khoa Ngữ văn 10 (tập 1) của Bộ Giáo dục và đào tạo.
+ Sách giáo viên Ngữ văn 10 (tập 1) của Bộ Giáo dục và đào tạo
+ Sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 (tập 1)
+ Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân
Diên, Võ Quang Nhơn.
III/THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Khi chưa tìm ra và vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tác phẩm
văn học dân gian như đã nêu trong đề tài, tôi nhận thấy còn những hạn chế sau:
*Giáo viên:
+ Bản thân chưa đào sâu suy nghĩ để định hướng phân tích sâu sắc một
tác phẩm văn học dân gian.
+ Chưa vận dụng linh họat các phương pháp dạy học hữu hiệu cho tiết
dạy.
+Kết quả giảng dạy chưa như ý muốn.
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
5
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
*Học sinh:
+Chưa phát huy được tính tích cực trong giờ học.
+Chưa cảm nhận sâu sắc về nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học dân

thuyết.
*Vận dụng linh họat các phương pháp dạy học
Sử dụng nhiều phương pháp dạy học trong giờ văn là một việc làm cần thiết
sẽ làm cho tiết học sinh động hơn. Khi đó, giáo viên sẽ giúp các em khám phá
được thế giới nghệ thuật trong tác phẩm, nhận ra được giá trị tư tưởng của tác
phẩm. Vậy vận dụng phương pháp như thế nào đối với các tác phẩm văn học dân
gian để tiết dạy đạt hiệu quả tôi đã thực hiện các phương pháp giảng dạy như sau:
a. Đọc tác phẩm: Bước đầu tiếp cận với tác phẩm là phải đọc tác phẩm.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm để tạo ấn tượng ban đầu ở tác
phẩm.
- Sử thi:
+ Đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxay” (trích Đăm Săn- sử thi Tây Nguyên)
+Đoạn trích “Uy- lít- xơ trở về” (trích Ô-đi-xê – sử thi Hi Lạp)
+Đoạn trích “Rama buộc tội” (trích Ra-ma-ya-na- sử thi Ấn Độ)
→ Đọc phân vai. Chú ý lời người kể chuyện và lời thoại của các nhân vật trực
tiếp.
- Truyền thuyết: Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy
→ Đọc- kể, chú ý thể hiện đúng tình cảm, tâm trạng, thái độ của các nhân vật qua
một số câu nói: tiếng thét lớn của Rùa Vàng, câu nói chủ quan của An Dương
Vương khi quân Triệu Đà đã đến chân thành Cổ Loa, lời khấn của Mị Châu, lời
nói cuối cùng của Trọng Thủy.
→ Cố gắng thể hiện không khí lịch sử.
-Truyện cổ tích: Tấm Cám.
→ Kết hợp đọc- kể, chú ý những câu đối thoại, những câu văn vần.
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
7
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
→ Cố gắng đọc gợi không khí cổ tích.
-Truyện cười: +Tam đại con gà.
→Đọc – kể diễn cảm qua từng câu, từng lời đối thoại. Người đọc, người kể không

Có hai ý nghĩa:
+ Sự gần gũi giữa thần linh và con người. Tuy nhiên, thần linh chỉ đóng vai trò
“gợi ý”, “cố vấn” chứ không quyết định kết quả cuộc chiến (đây là một kiểu biểu
hiện của ý thức dân chủ công xã thời thị tộc cổ xưa).
+Đề cao vai trò của nhân vật anh hùng sử thi.
c. Phương pháp so sánh:
Mục đích dùng phương pháp này để thấy được sự gần gũi trong sự kiện nhưng
khác về đề tài, kết cấu, loại hình nhân vật, cách thể hiện của các tác phẩm trong
các thời kì khác nhau.
Ví dụ: Đoạn trích “Rama buộc tội” (trích Ra-ma-ya-na- sử thi Ấn Độ)
-Có gì gần gũi và khác biệt giữa Vũ Nương( Người con gái Nam Xương) và nàng
Xi-ta (Rama buộc tội) ?
+ Giống nhau: Cùng bị oan ức, chồng nghi ngờ, ghen tuông thất tiết, cùng tìm
đến cái chết để thanh minh sự trong trắng của mình và đã được thanh minh.
+ Khác nhau :
Xi -ta Vũ Nương
-Rama ruồng rẫy vợ chủ yếu vì danh dự
của nhà vua - anh hùng.
- Định chết bằng cách bước lên giàn
thiêu.
-Nhân vật trong sử thi truyền miệng cổ
đại→Cách kể chuyện chậm, nhiều đối
thoại dài, tỉ mỉ, nhiều hình ảnh.
- Trương Sinh ruồng rẫy vợ chủ yếu vì
ghen tuông tầm thường.
-Chết bằng cách nhảy xuống sông.
- Nhân vật trong truyện truyền kì trung
đại→Cách kể nhanh, ít đối thoại
ﻫ Đoạn trích “Rama buộc tội”: Nàng Xi-ta được thanh minh bởi thần lửa
A-nhi.Thần A-nhi, nhân chứng của mọi việc, xác nhận phẩm hạnh của Xi-ta và

Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
10
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại

Xita bước vào giàn hỏa. Cám trút vỏ tép của Tấm. Phim về thành Cổ Loa.
Ngoài ra, chúng ta nên tổ chức cho lớp học thành các nhóm để các em thảo luận
các vấn đề, hoặc thi thố tài năng, trình diễn, Các nhóm nhận xét, rút kinh nghiệm
theo cảm nhận của các em.Qua đó, giáo viên có thể nhận xét, đánh giá kết quả của
học sinh.
Chẳng hạn, khi dạy truyện cổ tích Tấm Cám, giáo viên chia lớp học thành 2 hoặc 3
nhóm( tùy vào tình hình mỗi lớp). Các nhóm trình diễn lại câu chuyện Tấm Cám
theo cách cảm nhận của mình. Sau đó, các nhóm nhận xét nhau ở các phương
diện: tạo dựng khung cảnh, diễn xuất của diễn viên, trang phục, đạo cụ, nhạc nền,
…Bình chọn nhóm thể hiện tốt nhất theo tinh thần của truyện cổ tích Tấm Cám.
Cuối cùng, giáo viên nhận xét, đánh giá, rút ra kết luận.
Phương pháp này tạo được rất nhiều hứng thú và để lại ấn tượng sâu sắc về một
tác phẩm văn học dân gian trong lòng học sinh.
* Bài tập vận dụng
Để đánh giá về kĩ năng và kết quả học tập của học sinh một cách toàn diện hơn,
sau mỗi bài học về tác phẩm văn học dân gian cụ thể, giáo viên nên cho học sinh
làm thêm một số bài tập vận dụng. Bài tập vận dụng phải phù hợp với từng đối
tượng học sinh.
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
11
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
Ví dụ: Khi dạy về thể loại ca dao
- Đối với học sinh trung bình, giáo viên có thể cho dạng bài tập như sau:
+Thống kê các hình ảnh so sánh, ẩn dụ trong những bài ca dao đã học và cho biết
người bình dân thường lấy các hình ảnh đó từ đâu?
+Tìm thêm một số câu ca dao nói về: Chiếc khăn, chiếc áo, cây đa- bến nước,….

những vấn đề gì?
1.Nêu khái niệm ca dao?
2.Nội dung chủ yếu của
ca dao là gì?
3. Đặc điểm nghệ thuật
của ca dao?
Cho học sinh nghe hát
một số bài ca dao.
-Hướng dẫn HS đọc
chùm ca dao trong
SGK:
+ Các bài than thân đọc
với giọng xót xa thông
cảm
+ Các bài yêu thương,
tình nghóa đọc với giọng
thiết tha sâu lắng.
1.Điểm giống nhau của 2
bài ca dao là gì? Người
than thân là ai?
2.Thân phận có nét
chung nhưng nỗi đau
của từng người lại mang
sắc thái riêng được diễn
1. Th ể loại: Ca dao
- Đònh nghóa :Là lời thơ trữ tình dân gian, thường kết
hợp âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm
diễn tả thế giới nội tâm của con người.
- Nội dung: Ca dao diễn tả đời sống, tâm hồn, tư
tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ gia

- HS đọc bài ca dao:
3. Cách mở đầu có gì
khác với hai bài ca dao
trên? Nhân vật trữ tình
này là ai?
4. Hiểu cách biểu cảm
của từ “ ai” như thế
nào? Tâm trạng của
nhân vật trữ tình ở đây
ra sao?
( GV dẫn chứng thêm:
- Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nở bay
qua vườn hồng
- Ai làm bầu bí đứt dây
Chồng nam thiếp bắc gió
tây lạnh lùng )
5. Mặc dù lở duyên
nhưng tình nghóa con
người như thế nào? Vì
sao tác giả dân gian lại
dùng đến cả một hệ
thống so sánh, ẩn dụ
bằng hình ảnh của thiên
nhiên, vũ trụ để nói lên
tình người?
6. Câu cuối thể hiện nét
đẹp gì? Ý nghóa ra sao?
_ Bài 2: Người phụ nữ ý thức về giá trò thực của mình
qua lời bộc bạch “thân em như … thì đen” và qua lời

+ Sự chờ đợi mỏi mòn trong cô đơn và vô vọng.
+ Dù duyên kiếp có thể dở dang nhưng tình nghóa con
người vẫn trứơc sau như một  nh sáng rất đẹp, rất
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
14
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
- Gọi HS đọc bài ca dao:
7. Thương nhớ vốn là
tình cảm khó hình dung-
nhất là tình yêu. Vậy mà
ở bài ca dao này lại được
diễn tả một cách cụ thể,
tinh tế và gợi cảm. Đó là
nhờ thủ pháp nghệ thuật
gì? Và thủ pháp đó tạo
nên hiệu quả nghệ thuật
ra sao?
8. Cái khăn được hỏi đầu
tiên và hỏi nhiều nhất, vì
sao như vậy?
9. Nét nghệ thuật tiêu
biểu trong những câu thơ
nói về chiếc khăn này là
gì?
* Gọi HS tìm dẫn chứng
thêm:
- Gửi khăn, gửi áo, gửi
lời
Gửi đôi chàng mạng cho
người đàng xa

 Nỗi nhớ triền miên, da diết.
+ Hình ảnh vận động trái chiều + nghệ thuật đảo
thanh: Xuống, lên, rơi, vắt  tâm trạng ngổn ngang
trăm mối tơ vò  nỗi nhớ bao trùm cả không gian.
+ Hình ảnh “Ra ngẩn vào ngơ”: Nhớ đến mức không
còn làm chủ cả dáng đi, tướng đứng của mình.
+ Sử dụng 16 thanh bằng (thanh không)  nỗi nhớ
thương buâng khuâng da diết, đậm màu sắc nữ tính,
biết ghìm nén cảm xúc không bộc lộ một cách dễ
dải.
* Đèn:
+ Nỗi nhớ được đo theo thời gian: Nhớ từ ngày 
đêm.
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
15
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
11. Hình ảnh “ đèn
không tắt” diễn tả điều
gì?
12. Hình ảnh “ mắt ngủ
không yên” cho thấy tâm
trạng nhân vật trữ tình
lúc này ra sao?
13. Câu hỏi cuối bài ca
dao chothấy nhân vật trữ
tình đang lo lắng điều
gì?
( Thương anh cũng muốn
nói ra
Sợ me bằng đất, sợ cha

như nén chặt nỗi thương nhớ. Cuối cùng trào ra bằng
nỗi lo âu hạnh phúc của mình (“đêm qua … một bề”)
vì hạnh phúc của họ thường bấp bênh: Thương nhau
chưa chắc dẫn đến hôn nhân.
 Đây là bài ca dao hoàn chỉnh, hay nhất về nỗi nhớ
của cô gái.
4. Bài 5: Ước muốn mãnh liệt trong tình yêu của
người con gái.
- Hình ảnh chiếc cầu: Chỉ nơi gặp gỡ, hẹn hò của đôi
lứa đang yêu, là phương tiện để họ có thể đến với
nhau  Chi tiết quen thuộc, đặc sắc trong ca dao.
- Cầu dãi yếm: Không có thực, được dệt nên bằng
ước muốn táo bạo của con người  Vẻ đẹp đồng
quê, dân gian trong ca dao.
- Ước muốn: Sông một gang + bắc cầu dải yếm:
Mãnh liệt nhưng cũng rất trữ tình. Người con gái
muốn dùng cái vật thân thiết nhất, gần gũi nhất để
bắc cầu mời mọc người yêu.
 Chiếc cầu là máu thòt, là trái tim rạo rực yêu
thương của cô gái đồng quê.
 Chiếc cầu tình yêu đẹp nhất trong dân gian: Gần
gũi thân quen, vừa táo bạo trữ tình vừa đằm thắm nữ
tính.
5. Bài 6: Tình nghóa thuỷ chung của vợ chồng.
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
16
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
đầm
Muốn sang anh bẻ cành
trầm cho sang

tình yêu. (Đôi ta nghóa nặng tình dày)
+ Muối gừng (láy 2 lần), ba năm, chín tháng còn
mặn, còn cay, tình dày, lối nói trùng điệp, liền mạch,
tiếp nối khẳng đònh lòng chung thuỷ.
- Câu cuối: Câu bát kéo dài 13 tiếng chỉ một đời
người  Có nghóa là không bao giờ xa cách.
III. Ghi nhớ: SGK
4. Củng cố:
-Thống kê các hình ảnh so sánh, ẩn dụ trong những bài ca dao đã học và cho biết
người bình dân thường lấy các hình ảnh đó từ đâu?
+ Các hình ảnh thành biểu tượng của ca dao: Chiếc cầu, tấm khăn, ngọn đèn,
gừng cay muối mặn, …
+ So sánh, ẩn dụ: * Lấy từ cuộc sống: tấm lụa đào, củ ấu gai, …
* Thiên nhiên, vũ trụ: mặt trời, trăng, sao,…
- Tìm thêm một số câu ca dao nói về: Chiếc khăn, chiếc áo, cây đa- bến nước,….
5. Dặn dò :
- Học thuộc lòng các bài ca dao + phân tích + ghi nhớ
- Soạn: Ca dao hài hứơc
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
17
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
2.Kết quả đạt được:
Vận dụng các phương pháp dạy học văn học dân gian trên, tôi thấy đạt kết
quả hơn so với phương pháp giảng dạy trước đây. Cụ thể, tôi nhận thấy:
*Về tri thức:
- Giúp học sinh hiểu được một tác phẩm văn học dân gian cụ thể.
- Cảm nhận được tình cảm và tâm hồn tinh tế của tác giả dân gian trong
từng tác phẩm.
- Có ấn tượng sâu sắc đối với từng tác phẩm.
*Về kỹ năng:

- Tổ chức hoạt động nhóm phong phú: chia nhóm thảo luận, sân khấu hoá
các trích đoạn.
- Lựa chọn bài tập để rèn kỹ năng và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
II/ĐỀ XUẤT Ý KIẾN:
- Duy trì và phát huy nhiều hơn nữa việc viết sáng kiến kinh nghiệm về đổi
mới phương pháp dạy học.
- Nếu chuyên đề nào, sau khi thẩm định, thấy có giá trị thực tế cao thì nên tổ
chức triển khai trong nhà trường.
Với mong muốn góp phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học, mặc dù
đã cố gắng nhưng do năng lực có hạn nên trong bài viết này chưa thể chuyển tải
hết ý tưởng mà tôi muốn trình bày. Đề tài rộng, các ví dụ minh họa chắc hẳn chưa
tiêu biểu và hay nhất. Vả lại, tôi chỉ mới áp dụng trong thời gian ngắn nên chưa
thể khẳng định được tính chính xác hiệu quả của nó.
Giáo viên: Nguyễn Lê Ngọc Sương – Trường THPT Dưỡng Điềm
19
Đề tài: Phương pháp giảng dạy văn học dân gian theo thể loại
Trên đây là những ý tưởng của tôi, ít nhiều vẫn còn mặt hạn chế. Mong quý
đồng nghiệp, bạn đọc góp ý chân tình để bản thân tôi rút kinh nghiệm và hoàn
thiện hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên .
- Sách giáo khoa Ngữ văn 10 (tập 1) của Bộ Giáo dục và đào tạo.
- Sách giáo viên Ngữ văn 10 (tập 1) của Bộ Giáo dục và đào tạo
- Sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 (tập 1)
- Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh( chủ biên), Chu Xuân Diên,
Võ Quang Nhơn
- “ Mười tác phẩm ca dao qua sự cảm thụ, phân tích, tranh luận theo dòng thời
gian” do Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang biên soạn.
- “Văn học dân gian- những công trình nghiên cứu” của tác giả Bùi Mạnh Nhị,
Hồ Quốc Hùng .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status