BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
**********
NGUYỄN ĐỖ MINH TUẤN CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
HÀNH VI MUA SẢN PHẨM VI PHẠM BẢN QUYỀN
TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
************
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
**********
NGUYỄN ĐỖ MINH TUẤN
NGUYỄN ĐỖ MINH TUẤN
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chương 1:TỔNG QUAN 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu: Lý thuyết và thực tiễn 3
1.6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu 4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý thuyết 5
2.1.1 Sản phẩm vi phạm bản quyền 5
2.1.2 Hành vi mua của khách hàng 7
2.2 Các nghiên cứu có liên quan và mô hình nghiên cứu 10
2.3 Các yếu tố tác động đến hành vi mua sản phẩm vi phạm bản quyền 16
2.3.1 Ảnh hưởng xã hội 16
2.3.2 Giá cả cảm nhận 18
2.3.3 Thu nhập bình quân 19
2.3.4 Nhận thức cá nhân 20
2.4 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 20
2.4.1 Ảnh hưởng xã hội và hành vi mua sản phẩm vi phạm bản quyền 20
2.4.2 Giá cả cảm nhận và hành vi mua sản phẩm vi phạm bản quyền 22
3.4.3.2 Phỏng vấn thu thập dữ liệu 48
3.4.4 Phương pháp xử lý dữ liệu 48
Tóm tắt chương 3 49
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
4.1 Thống kê mô tả mẫu 50
4.2 Kiểm định thang đo 51
4.2.1 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alph 51
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 53
4.3 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 57
4.3.1 Phân tích tương quan 58
4.3.2 Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy 59
4.3.2.1 Giả định mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến 60
4.3.2.2 Giả định phương sai phần dư không đổi 61
4.3.2.3 Giả định phần dư có phân phối chuẩn 62
4.3.2.4 Giả định không có hiện tượng tự tương quan giữa các phần dư 63
4.3.3 Kết quả phân tích hồi quy 63
4.3.3.1 Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội…………… ….63
4.3.3.2 Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố………………………….…… 65
4.3.3.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu………………………………………….66
4.4 Kiểm định sự khác biệt về hành vi mua sản phẩm vi phạm bản quyền ở các
nhóm giới tính và độ tuổi 67
4.4.1 Giới tính……………………………………………….………………… 67
4.4.2 Độ tuổi………………………………………….……………………….…68
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu…………………………………………… 69
Tóm tắt chương 4……………………………………………… …….………….72
Chương 5: KẾT LUẬN 73
5.1 Giới thiệu……………………………… …………………………… 73
5.2 Kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu……………………………….73
5.2.1 Kết quả và đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu……………….… 74
5.2.2 Kết quả và đóng góp về mặt lý thuyết………………………………… 74
Bảng 3.4 Thang đo Tính cách cá nhân…………………………………………….33
Bảng 3.5 Thang đo Hành vi mua sản phẩm vi phạm bản quyền……………….….33
Bảng 3.6 Thang đo Ảnh hưởng xã hội (ký hiệu XH)………………… ………….39
Bảng 3.7 Thang đo Giá cả (ký hiệu Gia)……… …… ……………………… 40
Bảng 3.8 Thang đo Nền kinh tế (ký hiệu KT)…………………………………… 40
Bảng 3.9 Thang đo Tính cách cá nhân (ký hiệu TC)……………….…………… 41
Bảng 3.10 Thang đo Hành vi mua sản phẩm vi phạm bản quyền (ký hiệu HVM) 41
Bảng 4.1 Tổng hợp số liệu thống kê mô tả mẫu……………………… …………50
Bảng 4.2 Kết quả Cronbach’s Alpha và hệ số tương quang biến – tổng các thang
đo………………………………………………………………… …….51
Bảng 4.3 Bảng phân tích tương quan…………………………………………… 58
Bảng 4.4 Hệ số phương trình hồi quy…………………………………………… 59
Bảng 4.5 Các hệ số xác định mô hình…………………………………………… 62
Bảng 4.6 Bảng tóm tắt mô hình………………………………………………… 63
Bảng 4.7 Kết quả phân tích ANOVA về độ phù hợp của mô hình…………… …64
Bảng 4.8 Bảng mô tả thống kê giới tính………………………………………… 67
Bảng 4.9 Bảng mô tả thống kê biến độ tuổi…………………………………….…68
Bảng 4.10 Kiểm định phương sai đồng nhất………………………………………68
Bảng 4.11 Kết quả ANOVA một chiều biến độ tuổi………………………………68
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. BSA : Liên Minh Phần Mềm Doanh Nghiệp
2. IIPA : Liên minh quốc tế về sở hữu trí tuệ (International Intellectual
Property Alliance)
3. MDTCC : Bộ thương mại bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nước
(The Ministry of Domestic Trade, Cooperatives & Consumerism)
4. MDAS : Ngành quản lý hành chính và ngoại giao Malaysia (Malaysian
thiệt hại khoảng 19 triệu USD/năm. Theo báo cáo của phòng thương mại quốc
tế năm 2006 (trích dẫn từ Shih-I Cheng, Hwai-Hui fu and Le Thi Cam Tu,
2011), Việt Nam bị xếp ở vị trí thứ 53 trong các quốc gia có qui mô sử dụng
các sản phẩm vi phạm bản quyền của toàn cầu. Trong đó, phần mềm có giá trị
96 triệu USD, sách 16 triệu USD, phim 10 triệu USD và các sản phẩm khác
như quần áo, mỹ phẩm, đồng hồ.…Theo ông Tarun Sawney, Giám đốc bộ
phận chống buôn lậu vi phạm bản quyền của Liên minh phần mềm doanh
nghiệp (BSA) tại châu Á, so với các nước trên thế giới thì tình trạng vi phạm
bản quyền ở Việt Nam đang ở mức báo động. Chính sự vi phạm bản quyền đã
có tác động nhiều mặt, ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế đang phát triển
của Việt Nam. Theo GS.TS Nguyễn Quang A, “Tôn trọng bản quyền khi đó
mình mới biết thực sự chi phí của mình là thế nào. Khi doanh nghiệp bỏ tiền
cho phần mềm họ sẽ phải tìm cách bù đắp bằng cách khác, tạo ra kích thích
sáng tạo”. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm bản quyền tràn
lan như hiện nay, nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng vi phạm bản quyền không
chỉ xuất phát từ doanh nghiệp cung cấp nó mà chính người sử dụng cũng đang
“tiếp tay” cho những vi phạm này phát triển. Có thể thấy thói quen sử dụng các
sản phẩm vi phạm bản quyền của người sử dụng là nguyên nhân chính trong
bối cảnh việc thực thi luật sở hữu trí tuệ chưa được tốt. Như vậy, việc tìm hiểu
về hành vi của khách hàng hướng đến các sản phẩm vi phạm bản quyền là nhu
cầu cấp thiết, nó sẽ giúp cho các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp có sản
phẩm gốc hiểu được người tiêu dùng hơn từ đó đưa ra các giải pháp, chiến
lược chống vi phạm bản quyền một cách hiệu quả và gia tăng hành vi mua sản
phẩm có bản quyền. Đây chính là lý do tôi nghiên cứu đề tài “Các yếu tố tác
động đến hành vi mua sản phẩm vi phạm bản quyền tại TP. Hồ Chí Minh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các yếu tố có tác động đến hành vi mua sản phẩm vi phạm
bản quyền.
- Xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến hành vi mua sản phẩm
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu: Lý thuyết và thực tiễn
Với mục tiêu nghiên cứu như trên về mặt lý thuyết giúp kiểm định mô
hình sử dụng về hành vi mua sản phẩm vi phạm bản quyền.
Về mặt thực tế kết quả của đề tài giúp đánh giá được tác động của ảnh
hưởng xã hội, giá cả cảm nhận, thu nhập bình quân và nhận thức cá nhân đến
hành vi mua sản phẩm vi phạm bản quyền của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí
Minh – đại diện cho người tiêu dùng Việt Nam. Từ đó sẽ giúp cho các doanh
nghiệp hiểu được các lý do tác động đến hành vi của người tiêu dùng tìm đến
các sản phẩm vi phạm bản quyền và đưa ra các chiến lược thích hợp để khuyến
khích người tiêu dùng hướng đến các sản phẩm có bản quyền. Bên cạnh đó, kết
quả nghiên cứu sẽ góp ý cho các cơ quan nhà nước đưa ra các chính sách thích
hợp hơn để chống tình trạng sản xuất và sử dụng các sản phẩm vi phạm sở hữu
trí tuệ tràn lan như hiện nay.
1.6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu
Báo cáo kết quả được chia làm năm chương.
Chương 1: Tổng quan – Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối
tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và
kết cấu của đề tài.
Chương 2: Cở sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu – Trình bày về các
khái niệm sản phẩm vi phạm bản quyền, hành vi mua của khách hàng, ảnh
hưởng xã hội, giá cả, nền kinh tế, tính cách cá nhân. Trong chương này cũng sẽ
trình bày mô hình nghiên cứu và xây dựng giả thuyết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày về quy trình nghiên
cứu, điều chỉnh thang đo, kiểm định độ tin cậy và phân tích yếu tố khám phá,
phương pháp chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Trình bày và diễn giải kết quả của
nghiên cứu định lượng chính thức, bao gồm các kết quả phân tích thống kê mô
tả mẫu, kiểm định độ tinh cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá
EFA, phân tích hồi quy bội, phân tích T – test và ANOVA.
bòng bong, hỗn độn, phức tạp, rất khó xác định rõ cái nào là thuộc loại vi
phạm nào) (McDonald và Robert, 1994).
Vi phạm bản quyền giống như hàng giả ở chỗ liên quan đến việc sao
chép trái phép hoặc tạo ra sản phẩm giống như sản phẩm bản quyền hay sản
phẩm cấp bằng sáng chế. Vi phạm bản quyền, lừa đảo người có quyền lợi liên
quan trong cùng một cách như sản phẩm giả mạo nhưng không bao gồm các
hành vi lừa dối. Sản phẩm vi phạm bản quyền thường được bán trên thị trường
là một sự sao chép trái phép sản phẩm bản quyền hay sản phẩm cấp bằng sáng
chế. Trong trường hợp này, người tiêu dùng nhạy cảm về giá chọn mua sản
phẩm vi phạm bản quyền trong sự ưu tiên hơn các sản phẩm hợp pháp có giá
tương đối cao. Trong nhiều trường hợp, nhà sản xuất các sản phẩm vi phạm
bản quyền chỉ thực hiện những nỗ lực từng phần như bắt chước bao bì của sản
phẩm hợp pháp. Ví dụ, trò chơi video vi phạm và bản ghi âm thường có màu
sắc tương đối mờ nhạt trên bao bì. Tuy nhiên, bản thân sản phẩm vi phạm bản
quyền thường là một bản sao gần hoặc hoàn hảo (Papadopoulos, 2009).
Mặc dù sản phẩm giả mạo hay sản phẩm vi phạm bản quyền đều là
những sản phẩm bất hợp pháp, người ta vẫn có thể lý luận rằng chúng là khác
nhau dựa trên ý định đánh lừa và mức độ đạo đức cũng như tính phù hợp đạo
lý. Một sản phẩm giả mạo là sản phẩm mà việc sản xuất ra nó có ý định đánh
lừa khách hàng bằng cách khiến họ tin rằng họ đang mua hàng thật, hàng chính
hãng. Do đó, một sự cố ý vi phạm được thực hiện để che đậy sự lừa đảo bằng
cách bắt chước sao cho hàng giả càng giống hàng thật nhiều càng tốt. Ví dụ rõ
nhất cho vụ này chính là tiền giả (McDonald và Robert, 1994).
Sản phẩm vi phạm bản quyền là sản phẩm bất hợp pháp, được sao chép
trái phép hoặc tạo ra sản phẩm giống sản phẩm có bản quyền hay sản phẩm cấp
bằng sáng chế và lừa đảo người có quyền lợi liên quan trong cùng một cách
như sản phẩm giả mạo (không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả)
nhưng không bao gồm các hành vi lừa dối.
Bamossy và cộng sự, 2006).
Schiffman và Kanuk (2007) có một cách tiếp cận tương tự trong việc
xác định hành vi của người tiêu dùng:
"Hành vi người tiêu dùng hiển thị trong tìm kiếm, mua bán, sử dụng,
đánh giá và xử lý các sản phẩm và dịch vụ mà họ hy vọng sẽ đáp ứng nhu cầu
của họ" (trang 3).
Hành vi người tiêu dùng được hiểu là một loạt các quyết định về việc
mua cái gì, tại sao, khi nào, như thế nào, nơi nào, bao nhiêu, bao lâu một lần,
mà mỗi cá nhân, nhóm người tiêu dùng phải có quyết định qua thời gian về
việc chọn dùng sản phẩm, dịch vụ hay ý tưởng (Wayne D.Hoyer và Deborah
J.Macinnis, 2008)
Theo Philip Kotler (2001), trong marketing, nhà tiếp thị nghiên cứu
hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen
của họ, cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, tại sao lại mua sản phẩm,
dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi
nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy
người tiêu dùng mua sắm sản phẩm, dịch vụ của mình.
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng hiện nay còn vượt xa hơn các khía
cạnh nói trên. Đó là, các doanh nghiệp tìm hiểu xem người tiêu dùng có nhận
thức được các lợi ích của sản phẩm, dịch vụ họ đã mua hay không và cảm
nhận, đánh giá như thế nào sau khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Vì điều này sẽ
tác động đến những lần mua hàng sau đó của người tiêu dùng và tác động đến
việc thông tin về sản phẩm của họ đến những người tiêu dùng khác. Do vậy,
các doanh nghiệp, các nhà tiếp thị cần phải hiểu được những nhu cầu và các
yếu tố ảnh hưởng, chi phối hành vi mua sắm của khách hàng.
Philip Kotler đã hệ thống các yếu tố dẫn tới quyết định mua sắm của người tiêu
dùng thông qua mô hình sau :
- Định thời gian
- Định số lượng
Đặc điểm
người mua
Quá trình
ra quyết
định
- Văn hóa
- Xã hội
- Tâm lý
- Cá tính
- Nhận
thức vấn
đề
- Tìm kiếm
thông tin
- Đánh giá
- Quyết
định
- Hậu mãi
Kích thích
Marketing
Kích thích
khác
- Sản
phẩm
- Giá
- Địa
điểm
- Chiêu
những gì người ta có thể mong đợi, khách hàng mua các sản phẩm vi phạm
bản quyền không nhất thiết phải xuất thân từ các tầng lớp kinh tế xã hội thấp
hơn (Phau và cộng sự, 2001; Prendergast và cộng sự, 2002) và rằng thu nhập
thì không liên quan chút nào đến việc mua sản phẩm vi phạm bản quyền
(Kwong và cộng sự, 2003, trích dẫn Ahasanul, Ali và Sabbir 2009).
Châu Á được báo cáo là bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi việc vi phạm bản
quyền. Điều này dường như là do chủng tộc, tôn giáo, văn hoá và truyền thống
khác nhau được áp đặt lên lối suy nghĩ và tư duy của người Châu Á. Các
nghiên cứu trước đây được thực hiện ở các nước phương Tây, do đó chúng ta
biết rất ít về thái độ của người Châu Á khi mua sản phẩm vi phạm bản quyền.
Một nghiên cứu chi tiết về các ảnh hưởng khác nhau mà có thể tác động nhận
thức của khách hàng đối với vi phạm bản quyền và sự ảnh hưởng như thế nào
của việc vi phạm bản quyền đối với thị trường có thể được xem xét. Tại
Singapore, Swee và cộng sự (2001), người đã phát hiện ra rằng các thành viên
của nhóm thu nhập thấp hơn có thái độ yêu thích hơn, ủng hộ hơn đối với CD
vi phạm bản quyền. Những kết quả mâu thuẫn nhau có thể xảy ra nếu hành vi
mua hàng hướng về sản phẩm cụ thể. Ví dụ, đối với quần áo hoặc phụ kiện
hàng nhái bán công khai và dễ dàng bị nhận biết là hàng nhái, các nhóm thu
nhập thấp hơn có khuynh hướng thích mình được nhìn thấy là đang xài hàng
hiệu, loại hàng chỉ thường dành cho giới khá giả. Tuy nhiên, đối với những
sản phẩm được tiêu dùng riêng tư cá nhân, đặc biệt trong phạm vi hộ gia đình,
người ta có thể cho rằng thu nhập gia đình liên quan nhiều hơn thu nhập cá
nhân và những hộ gia đình thu nhập cao hơn sẽ tiêu xài nhiều hơn. Tuy nhiên,
đây chỉ là phỏng đoán (trích dẫn Ahasanul, Ali và Sabbir, 2009).
Trong nỗ lực khám phá những yếu tố tác động đến hành vi mua của
người tiêu dùng Malaysia đối với sản phẩm vi phạm bản quyền. Ahasanul, Ali
và Sabbir đã tiến hành một cuộc khảo sát trong số những người tiêu dùng
Malaysia vào năm 2009. Kết quả của nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ
đáng kể giữa hành vi của người tiêu dùng và ảnh hưởng xã hội, nhận thức cá
lợi ích về sự lan truyền thông tin của xã
hội và niềm tin về đạo đức.
4 Swee và cộng sự (2001)
Ảnh hưởng xã hội, tính cách và nhân
khẩu học.
5
Ahasanul, Ali và Sabbir
(2009)
Ảnh hưởng xã hội, giá cả cảm nhận, thu
nhập bình quân và nhận thức cá nhân. Qua nghiên cứu của Ahasanul, Ali và Sabbir tại Malaysia, tác giả nhận
thấy có sự tương đồng trong môi trường nghiên cứu của Ahasanul, Ali và
Sabbir đã khảo sát và môi trường nghiên cứu mà tác giả đang thực hiện tại TP.
Hồ Chí Minh – Việt Nam. Cụ thể:
Văn hóa:
Trong kho tàng văn hóa đồ sộ của Đông Nam Á có rất nhiều yếu tố đặc
sắc, riêng biệt tiêu biểu cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, song cũng có không ít
yếu tố chung, làm nên cái “khung” Đông Nam Á. Tính thống nhất về mặt văn
hóa của khu vực và tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng
bản sắc riêng của từng vùng văn hóa được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác
nhau, bao hàm trong nó rất nhiều thành tố cả về vật chất lẫn tinh thần của văn
hóa Đông Nam Á. Điều này thể hiện qua một số điểm tiêu biểu như:
- Về ngôn ngữ - chữ viết: Các ngôn ngữ Đông Nam Á đều chỉ thuộc về
một trong số 4 ngữ hệ sau đây: Nam Á, Nam Đảo, Thái, Hán – Tạng. Từ thế kỷ
XVI, với sự can thiệp của các quốc gia phương tây, chữ viết của các quốc gia
Đông Nam Á được chuyển đổi theo hướng Latinh hóa (chữ viết Brunay,
Malaysia, Indonesia, Philippin và Việt Nam) được sử dụng ngày nay.
- Về phong tục tập quán:. Mặc dù rất đa dạng, song những tập tục ấy
12 1987, thay thế Luật Bản quyền năm 1969. Đạo luật 1987 đã được sửa đổi
vào năm 1990 để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn quy định và yêu cầu tối
thiểu theo Công ước Berne. Bản quyền (áp dụng đối với các nước khác) quy
định 1990 có hiệu lực vào 01 tháng 10 năm 1990, ngày Malaysia tham gia
Công ước Berne.
Một số vấn đề vẫn còn tồn đọng của đạo luật 1987 của Malaysia, chẳng
hạn như vai trò phụ thuộc của bộ phận thực thi MDTCC và cán bộ hành chính
MDAS chưa đủ kinh nghiệm giải quyết trường hợp vi phạm bản quyền và
trong nhiều trường hợp đã bị trì hoãn thực thi không cần thiết. Cán bộ MDTCC
một lần nữa mặc nhiên cho chính quyền trong việc xử lý các chức năng hoạt
động thực thi pháp luật và không nên bị chậm lại bởi rào cản quan liêu hoặc
dựa vào trong mọi trường hợp khiếu nại về quyền chủ thể. Hơn nữa, đó là chưa
gia tăng thực thi ở các khu vực có tính chất vi phạm cao như chợ đêm, tiến
hành mạnh tay và quy mô trên diện rộng các trường hợp vi phạm, không đủ
kinh phí và toà án để xử lý (2010 special 301 report on copyright protection
and Enforcement Malaysia). Tại Việt Nam, thực trạng luật sở hữu trí tuệ còn
thiếu chặt chẻ và việc thực thi luật chưa hiệu quả như theo TS. Dương Tử
Giang, Văn phòng luật sư Phạm và Liên Danh phản ánh: “Cái yếu nhất của
Luật Sở Hữu Trí Tuệ ở Việt Nam nằm ở chỗ thiết lập quyền, thủ tục hành
chính còn quá rườm rà và mất rất nhiều thời gian, làm cho người nộp đơn rất
chán nản. Thứ hai là việc thực thi quyền của chúng ta chưa đầy đủ, nhiều khi
còn nửa vời và không có hiệu quả” dẫn đến tình trạng nhiều người tiêu dùng
không nắm rõ luật hay hiểu theo một cách mơ hồ về nó.
Ngoài ra, độ tin cậy mô hình trong nghiên cứu của Ahasanul, Ali và
Sabbir đã được nhóm nghiên cứu kiểm định tại một nước đang phát triển khác
vào năm 2011 đó là Banglades. Kết quả nghiên cứu tại Banglades cho thấy các
yếu tố ảnh thu nhập bình quân và nhận thức cá nhân là yếu tố quan trọng nhất
có tác động đến hành bi mua sản phẩm vi phạm bản quyền tiếng theo là ảnh
hưởng xã hội và giá cả của sản phẩm vi phạm bản quyền. Mức độ tác động của