KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA NHỮNG CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
   PHẠM THỊ THANH VÂN
KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC
SỞ HỮU VÀ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA
NHỮNG CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  

PHẠM THỊ THANH VÂN

KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC
SỞ HỮU VÀ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA

Phạm Thị Thanh Vân
-MỤC LỤC -
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục viết tắt
Danh mục bảng biểu
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 2
1.1 Giới thiệu 2
1.2 Bối cảnh nghiên cứu của đề tài 3
1.2.1Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 3
1.2.2 Quyền lợi của nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán 5
1.3 Tính cần thiết của đề tài nghiên cứu 6
1.4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 7
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 9
CHƯƠNG III: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Dữ liệu và mẫu nghiên cứu 17
3.2 Biến nghiên cứu và phương pháp đo lường 18
3.2.1 Biến phụ thuộc 18
3.2.2 Biến độc lập 19
3.2.2.1 Sở hữu tổ chức (INST) 19
3.2.2.2 Sở hữu quản lý (MAN) 20
3.2.2.3 Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) 21
3.2.3 Biến kiểm soát 22
3.2.3.1 Quy mô công ty (SIZE) 22
3.2.3.2 Dòng tiền tự do (FCF) 22
3.2.3.3 Cơ hội tăng trưởng trong tương lai (MTBV) 23
3.2.3.4 Đòn bẩy tài chính (LEV) 24

DANH MỤC VIẾT TẮT


Chữ viết tắt
Tên đầy đủ tiếng Anh
Tên đầy đủ tiếng Việt
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
VND

Việt Nam Đồng
FAM
The Full Adjustment Model
Mô hình điều chỉnh đầy đủ
PAM
The Partial Adjustment Model
Mô hình điều chỉnh một phần
FEM
Fixed Effect Model
Mô hình các ảnh hưởng cố định
REM
Random Effect Model
Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên

DANH MỤC BẢNG BIỂU
  

cơ cấu sở hữu ở những công ty niêm yết cũng đa dạng hơn so với trước đây. Bên cạnh
đó, cấu trúc sở hữu là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến những chính sách của công
ty trong đó có chính sách chi trả cổ tức cho các cổ đông, và cấu trúc sở hữu công ty được
kỳ vọng là có mối liên quan với chính sách chi trả cổ tức. Chính vì lý do đó, việc chọn đề
tài “Kiểm định mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách chi trả cổ tức của
những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn nghiên
cứu với mong muốn tìm hiểu xem có tồn tại mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính
sách cổ tức ở các công ty niêm yết tại Việt Nam hay không và từ đó có thể đưa ra những
kiến nghị đầu tư. Bài nghiên cứu này sử dụng hai mô hình cổ tức: Mô hình điều chỉnh
đầy đủ và Mô hình điều chỉnh một phần.Dữ liệu mẫu trong bài nghiên cứu được lấy từ
121 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2011. Kết quả thực
nghiệmtừmô hình điều chỉnh đầy đủ cho thấy sở hữu tổ chức có mối liên kết dương và có
ý nghĩa với chính sách cổ tức, ngược lại sở hữu quản lý và chính sách cổ tức có mối liên
kết âm và có ý nghĩa thống kê, mô hình điều chỉnh một phần cũng cho kết quả tương tự
nhưng không có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng tìm thấy rằng giữa cơ
hội tăng trưởng trong tương lai và chính sách cổ tức có mối liên kết dương, kết quả này
cũng tương tự đối với dòng tiền tự do khi tồn tại mối quan hệ dương giữa dòng tiền tự do
và chính sách chi trả cổ tức, đòn bẩy tài chính thì tác động âm và có ý nghĩa thống kê với
chính sách cổ tức ở mô hình điều chỉnh đầy đủ. 2

CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu:
Quyết định chi trả cổ tức là một trong những quyết định tài chính quan trọng của
doanh nghiệp và được nhiều tác giả nghiên cứu sâu rộng trong những lý thuyết tài chính
doanh nghiệp hiện đại.Vào giữa thập niên 1950, John Lintner đã khảo sát hàng loạt các

đòn bẩy tài chính và dòng tiền tự do tác động như thế nào đến chính sách chi trả cổ tức ở
các doanh nghiệp tại Việt Nam.
1.2 Bối cảnh nghiên cứu của đề tài:
1.2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn năm
2006 đến năm 2011
Việc hình thành và phát triển thị trường giao dịch chứng khoánlà một bước phát
triểntất yếu của nền kinh tế thị trường. Việt Nam với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường cũng đòi hỏi phải có thị trường chứng khoán để làm cầu nối giữa một bên là nhà
đầu tư bao gồm các tổ chức kinh tế - xã hội và dân chúng với một bên là các doanh
nghiệp cần vốn để đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Qua một quá trình chuẩn bị với nhiều nổ lực, Trung tâm giao dịch chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh chính thức được ra đời, chính thức được hội nhập vào thị
trường chứng khoán toàn cầu vào ngày 20/01/2000. Đây là một sự kiện kinh tế trọng đại
thu hút sự quan tâm lớn không chỉ từ các thành phần kinh tế trong nước mà còn đối với
các tổ chức đầu tư nước ngoài. Sự kiện này đã mở ra một trang sử mới cho thị trường tài
chính nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Phiên giao dịch đầu tiên ngày
28/07/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ có hai cổ phiếu niêm yết là Công ty cơ
điện lạnh (REE) và Công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông (SAM) với tổng giá trị
phát hành là 270 tỷ đồng. Đến phiên giao dịch ngày 04/08/2000, thị trường có thêm cổ
phiếu của Công ty giao nhận Kho vận ngoại thương và Công ty cổ phần giấy Hải Phòng
được niêm yết, với tổng giá trị phát hành là 32.08 tỷ đồng.Và sau một năm đi vào hoạt
động, thị trường chứng khoán Việt Nam có 6 cổ phiếu được niêm yết, với tổng giá trị
phát hành là 338.8 tỷ đồng.Ngày 14/07/2005, hệ thống giao dịch của Trung tâm giao dịch
chứng khoán Hà Nộiđi vào vận hành với 6 công ty niêm yết đầu tiên. Tại thời điểm cuối
4

năm 2005, có 32 công ty niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán TPHCM với
mức vốn hóa thị trường là 7732 tỷ đồng tương ứng bằng 0.84% GDP.
Năm 2006 được xem là năm đột phá của thị trường chứng khoán Việt Nam khi
mà số lượng nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia thị trường chứng khoán ngày càng

giúp cho chỉ số VN-Index không sụt giảm nhiều thì ngược lại trên sàn giao dich
chứng khoán Hà Nội, chỉ số HNX-Index liên tục lập các mức thấp kỷ lục trong năm
qua. Bên cạnh đó, giá trị giao dịch cũng liên tục sụt giảm xuống mức thấp, đặc biệt là
tháng 2/2012 với mức giao dịch bình quân chỉ đạt hơn 382 tỷ đồng/phiên và
tháng 11/2012 là 397 tỷ đồng/phiên, mặc dù thị trường đã mở rộng quy mô hơn nhiều
nếu tính về số lượng công ty niêm yết.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của
nền kinh tế giúp nhiều công ty giải quyết được bài toàn nguồn vốn của mình. Tuy nhiên,
thị trường có dấu hiệu phát triển quá nhanh về chiều rộng nhưng không đi đôi với chất
lượng, nhiều doanh nghiệp khi niêm yết được định giá quá cao nên sau đó thị giá sụt
giảm mạnh, gây ảnh hưởng tâm lý đến thị trường, luồng vốn đổ vào thị trường chủ yếu là
nguồn vốn ngắn hạn. Theo báo cáo của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, đối với giao
dịch của nhà đầu tư trong nước thì giao dịch tự doanh của công ty chứng khoán, nhà đầu
tư tổ chức trong nước chỉ chiếm khoảng dưới 20%, còn nhà đầu tư cá nhân trong nước
chiếm tới gần 70% giá trị giao dịch toàn thị trường, 10% còn lại là giao dịch của các nhà
đầu tư nước ngoài. Mặc dù chiếm tỷ trọng chi phối song các nhà đầu tư cá nhân
thường giao dịch theo kiểu lướt sóng kiếm lời nhanh làm thị trường có thể hứng chịu
những cú sốc với biến động rất lớn về giá cổ phiếu cũng như giá trị và khối lượng giao
dịch
1.2.2 Quyền lợi của nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán
Luật Chứng khoán Việt Nam quy định “cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp
hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”. Cổ
đông lớn có các quyền như: được đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát;
xem xét và trích lục Nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính và báo cáo của
ban kiểm soát; yêu cầu triệu tập họp đại hội cổ đông trong một số trường hợp khẩn cấp.
Chính vì vậy, những cổ đông lớn nắm giữ từ 5% vốn cổ phần của tổ chức phát hành có
6

quyền có thể giám sát và chi phối hoạt động của Hội đồng quản trị. Trong bài nghiên cứu
này, cổ đông tổ chức sở hữu từ 5% vốn cổ phần trở lên được đưa vào xem xét trong mối

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, trong bài nghiên cứu này tác giả tập trung
nghiên cứu về mối liên hệ có thể có giữa cấu trúc sở hữu và chính sách chi trả cổ tức tại
các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Với mong muốn tìm
hiểu xem liệu cấu trúc sở hữu của công ty bao gồm sở hữu của những tổ chức là cổ đông
lớn nắm giữa từ 5% vốn cổ phần trở lên và những cổ đông đồng thời là nhà quản lý
doanh nghiệp có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định phân phối cổ tức, liệu lý thuyết
thông tin bất cân xứng và chi phí đại diện giữa người sở hữu và người quản lý có đúng
trong thị trường chứng khoán Việt Nam hay không, nên tác giả đã tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Kiểm định mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách chi trả cổ tức của
những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Từ đó, tác giả có thể
đưa ra một số kiến nghị cho nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên
những kết quả thực nghiệm đạt được.
1.4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Trong thị trường vốn không hoàn hảo, sự hiện diện chi phí đại diện và thông tin
bất cân xứng xuất phát chủ yếu từ xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông, và
chính nó tác động ngược lại đến chính sách cổ tức của công ty. Trong đó, lý thuyết tín
hiệu thì cho thấy rằng thông tin giữa nhà quản lý và cổ đông bất cân xứng vì những nhà
quản lý luôn nắm giữ được những thông tin nội bộ trong khi cổ đông bên ngoài thì không
có thông tin hoặc nắm bắt thông tin chậm hơn. Những nhà quản lý sẽ có những biện pháp
đáng tin cậy để truyền tải những thông tin này, một trong những biện pháp đó là chi trả
cổ tức. Vì vậy, chính sách cổ tức như là một tín hiệu để truyền tải những thông tin liên
quan đến khả năng sinh lời trong tương lai.Tương tự, một sự cắt giảm cổ tức được xem
như truyền tải các thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chi phí đại diệnxuất hiện do nảy sinh mâu thuẫn giữa mục tiêu của các cổ đông và
các nhà quản lý. Năm 1976, Jensen và Mecklingđã thảo luận về những vấn đề của lý
thuyết đại diện. Chính sách cổ tức phụ thuộc vào mối liên hệ giữa quyền sở hữu và
quyền ưu đãi kiểm soát.Vấn đề đại diện nảy sinh sẽ tác động đến chính sách chi trả cổ
8

tức.Chi trả cổ tức có thể giúp giảm chi phí đại diện bởi vì: (1) nhà quản lý bị buộc phải

CHƯƠNG II:
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
John Lintner (1950), đã khảo sát hàng loạt các quan điểm cổ điển của các giám
đốc doanh nghiệp về chính sách phân phối cổ tức và các mô hình cách điệu của Linter về
chi trả cổ tức cho rằng: các giám đốc tài thường tập trung nhiều vào những thay đổi cổ
tức hơn là mức chi trả cổ tức tuyệt đối, nếu cổ tức năm vừa rùi là 1$ thì thanh toán cổ tức
trong năm nay là 2$ sẽ ấn tượng hơn nhiều so việc chi trả cổ tức trong năm qua là 2$;
Các giám đốc rất miễn cưỡng đưa ra những quyết định trong thay đổi chính sách cổ tức;
cổ tức thay đổi theo những thay đổi trong lợi nhuận dài hạn.Mô hình đơn giản của
Lintner xác nhận rằng cổ tức phụ thuộc một phần vào lợi nhuận hiện tại của doanh
nghiệp và một phần vào cổ tức của năm trước. Cổ tức của năm trước lại phụ thuộc vào cổ
lợi nhuận của năm đó và cổ tức của năm trước đó,mô hình đơn giản của Lintner được
viết như sau:
DIV

− DIV

= tỷ lệ điều chỉnh * (tỷ lệ mục tiêu * EPS

−DIV

)
Trong đó: DIV là cổ tức được thanh toán, EPS là thu nhập mỗi cổ phần. Do vậy,
nếu Lintner đúng, chúng ta có khả năng mô tả cổ tức dựa trên bình quân gia quyền của
lợi nhuận hiên tại và cổ tức trong quá khứ. Các giám đốc tài chính trong khảo sát của
Lintner đã miền cưỡng khi thực hiện thay đổi tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu vì họ tin rằng
thích một tiến trình ổn định trong cổ tức.
Jensen và Meckling (1976), đã nghiên cứu “Lý thuyết về doanh nghiệp: hành vi
nhà quản trị, chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu”. Tác giả định nghĩa mối quan hệ đại
diện giống như một hợp đồng của một hoặc một nhóm người (người chủ) thuê người

cũng không tìm thấy một mối liên kết có ý nghĩa nào giữa thay đổi cổ tức và thay đổi sở
hữu tổ chức trong các mô hình hồi quy.
Short và cộng sự (2001), đã xem xét mối liên kết giữa chính sách chi trả cổ tức và
sở hữu tổ chức, đây là lần đầu tiên mô hình chi trả cổ tức được công bố để xem xét mối
liên hệ tiềm ẩn giữa cấu trúc sở hữu và chính sách chi trả cổ tức. Hơn thế nữa, bài nghiên
cứu này của tác giả đã trình bày kết quả đầu tiên về thị trường Vương quốc Anh nơi mà
sở hữu tổ chức đang bùng phát và cấu trúc sở hữu cũng có điểm khác biệt với thị trường
11

Mỹ. Tác giả đã sử dụng bốn loại mô hình cổ tức để kiểm định giả thuyết về mối liên kết
dương giữa sở hữu tổ chức và chính sách cổ tức:
Mô hình điều chỉnh đầy đủ (Mô hình 1, FAM):
D

− D
(

)

=α +rE

− E
(

)

 + r

E


E

∗ Inst +cr

E

∗ DMum − cD
(

)

+ µ


Mô hình Waud (Mô hình 3, WM):
D

− D
(

)

=ad + cdrE

+ cdr

E

∗ Inst + cdr



)

= α + rcE

+ rj
(
1 − c
)
E
(

)

+ rjI
(
1 − c
)
E
(

)

∗ Inst
+ rjM
(
1− c
)
E
(

ý nghĩa đến chính sách cổ tức.
Kumar (2003), đã nghiên cứu “Cấu trúc sở hữu và chính sách chi trả cổ tức ở
Ấn Độ”. Bài nghiên cứu trình bày kiểm định mối liên hệ giữachính sách chi trả cổ tức và
cấu trúc sở hữu của các doanh nghiệp ở Ấn Độ trong giai đoạn 1994-2000 và cố gắng
giải thích kết quả quan sát với sự trợ giúp của các mô hình cổ tức: Linter (1956), Waud
(1966), và Fama và Babiak (1968). Kết quả tìm thấy nhất quán ủng hộ mối quan hệ tiềm
ẩn giữa cấu trúc sở hữu và chính sách chi trả cổ tức, mối quan hệ này có khác nhau giữa
những các nhóm sở hữu và khác nhau ở mức độ nắm giữ cổ phần. Tác giả cũng tìm thấy
bằng chứng về cổ tức được chi trả phụ thuộc vào cổ tức trong quá khứ sau khi điều chỉnh
tất cả những quan sát không đồng nhất. Kết quả cũng ủng hộ giả thuyết cho rằng có một
mối quan hệ tồn tại giữa cổ tức và xu hướng thu nhập. Tuy nhiên, tác giả không tìm thấy
bằng chứng nào ủng hộ mối liên hệ giữa quyền sở hữu nước ngoài và tốc độ tăng trong
chi trả cổ tức.
Trojanowski (2004), xem xét chính sách chi trả cổ tức của những doanh nghiệp
Anh niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán London trong giai đoạn những năm 1990
bằng việc sử dụng dữ liệu bảng để kiểm định mối liên kết giữa tỷ lệ chi trả cổ tức mục
tiêu với nhóm biến cấu trúc sở hữu đặc trưng cho những doanh nghiệp trong mẫu. Tác
giả kiểm định ba giả thuyết cho rằng có một mối liên kết âm giữa quyền biểu quyết bởi
nhà quản lý, bởi tổ chức tài chính, bởi những doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp với
tỷ lệ chi trả cổ tức của doanh nghiệp; và hai giả thuyết cho rằng sự hiện diện của nhóm
cổ đông là tổ chức tài chính và các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp làm suy yếu
độ nhạy cảm của thu nhập với chi trả cổ tức. Một số biến kiểm soát cũng được đưa vào
mô hình như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, biến giả đặc trưng ngành và biến
giả năm thể hiện cú sốc kinh tế vĩ mô. Kết quả tìm được cho thấy chính sách chi trả ở
Anh liên kết có ý nghĩa thống kê với sở hữu của công ty. Sự hiện diện của nhóm cổ đông
13

lớn hoặc nhóm cổ đông liên minh (giám đốc điều hành, tổ chức tài chính, những công ty
khác thuộc ngành công nghiệp) làm suy yếu mối liên kết giữa thu nhập của công ty và
chi trả cố tức.

doanh nghiệp và lợi luận càng cao và tỷ lệ đòn bẩy cũng có tác động đến tỷ lệ chi trả cổ
tức của doanh nghiệp.
Ramli (2010), đã điều tra tác động của những cổ đông lớn đến chính chi trả cổ tức
của những công ty ở Malaysia bằng cách sử dụng dữ liệu bảng từ năm 2000 đến 2006.
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy random-effects tobit để phân tích ảnh
hưởng của những cổ đông lớn lên mức độ chi trả cổ tức. Kết quả thống kê mô tả cho
thấy: cổ đông lớn nhất nắm giữ khoảng 40.21% tổng vốn cổ phần của công ty, cổ đông
lớn thứ hai cũng nắm giữ một tỷ lệ đáng kể trung bình khoảng 10.79%. Số lượng công ty
có cổ đông lớn thứ 2 cũng cũng khá cao, có hơn 75% số quan sát có nhóm cổ đông lớn
thứ 2 (cổ đông nắm giữ từ 5% vốn cổ phần trở lên). Bài nghiên cứu cho thấy những công
ty có thể tỷ lệ nợ càng thấp thì chi trả cổ tức càng cao.Một mối liên kết âm mạnh mẽ có ý
nghĩa thống kê giữa biến đại diện cho mức độ vay nợ của công ty và tỷ lệ chi trả cổ tức
được tìm thấy trong kết quả hồi quy.Hệ số hồi quy của biến đại diện cho quy mô công ty
và tỷ suất sinh lợi (ROA) dương và có ý nghĩa thống kê.Tuy nhiên không có bằng chứng
nào có ý nghĩa thống kê cho rằng những cơ hội đầu tư ở các công ty Malaysia có bất kỳ
ảnh hưởng nào đến tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty.Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng tìm
thấy một mối liên kết âm giữa mức độ rủi ro của công ty và chi trả cổ tức. Kết quả hồi
quy tìm được chỉ ra rằng các công ty sẽ trả cổ tức cao hơn do sở hữu cổ phần của những
cổ đông lớn tăng lên. Tầm quan trọng của việc chi trả cổ tức cũng tăng lên khi có sự hiện
diện đáng kể của nhóm cổ đông lớn thứ hai trong công ty.
Mehrani và các cộng sự (2011), đã nghiên cứu về “Cấu trúc sở hữu và chính
sách cổ tức: chứng cứ từ Iran”. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả kiểm đinh mối
quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức ở Iran.Bài nghiên cứu này là một
trường hợp nghiên cứu ở Iran - một nước đang phát triển với những đặc trưng khác với
những nước đã phát triển, những nền kinh tế mới nổi và những nước đang phát triển như
Trung Quốc, Malaysia.Bằng cách sử dụng dữ liệu bảng, bài nghiên cứu xem xét mối
quan hệ có thể có giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu, đặc biệt vai trò của sở hữu
15

tổ chức và sở hữu quản lý liên quan đến chính sách cổ tức được phân tích trong mô hình

kết quả chỉ ra rằng có mối tương quan âm có ý nghĩa giữa sở hữu tổ chức và cổ tức
trên mỗi cổ phần, đồng thời cũng có mối tương quan âm có ý nghĩa giữa sở hữu
nhà nước và mức độ phân bổ cổ tức đến các cổ đông. Kết quả cũng chỉ ra rằng sở
hữu của năm cổ đông lớn nhất càng cao, thì chi trả cổ tức càng cao. Phân tích hồi
quy tiến hành với mô hình năm nhân tố. Bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng
của quy mô công ty tới mức chi trả cổ tức là âm và ảnh hưởng đáng kể. Những
doanh nghiệp lớn hơn thì ít chi trả cổ tức hơn. Hơn thế nữa, những doanh nghiệp
có những cơ hội đầu tư tốt hơn thì có nhiều khả năng chi trả cổ tức hơn và những
doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thì phân phối cổ tức ở mức thấp hơn.
Al- Gharaibeh và cộng sự (2013), nghiên cứu về “Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu
lên chính sách chi trả cổ tức của những công ty ở Jordan”. Mục đích của bài nghiên
cứu này là xem xét ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến chính sách chi trả cổ tức của 35
doanh nghiệp ở Jordan niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Amman trong giai đoạn
từ 2005 đến 2010. Hai mô hình thực nghiệm về cổ tức được sử dụng: mô hình điều chỉnh
đầy đủ và mô hình điều chỉnh một phần, để kiểm tra mối liên kết tiềm ẩn giữa cấu trúc sở
hữu và chính sách chi trả cổ tức. Kết quả hồi quy cho thấy sở hữu quản lý có hệ số hồi
quy âm và có ý nghĩa trong Mô hình điều chỉnh từng phần, trong khi kết quả từ mô hình
điều chỉnh đầy đủ không như mong đợi và không có ý nghĩa. Kết quả không như kỳ vọng
cho thấy rằng các doanh nghiệp ở Jordan không sử dụng cổ tức như một cơ chế để giảm
chi phí đại diện giữa những nhà quản lý và những cổ đông. 17



1
Nguồn tổng hợp từ Danh sách tổ chức niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được
đăng trên trang: www.hsx.vn và trang www.cafef.vn truy cập vào tháng 06/2013
2
Nguồn tổng hợp từ Danh sách tổ chức phát hành trên Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội được đăng trên trang:
www.hsx.vn và trang www.cafef.vn truy cập vào tháng 06/2013

Trích đoạn Mô hình điều chỉnh đầy đủ (FAM) Mô hình điều chỉnh một phần (PAM) Phương pháp nghiên cứu Mối tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu Kết quảnghiên cứu của Mô hình điều chỉnh đầy đủ (FAM)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status