BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ T.P HỒ CHÍ MINH
---------------
TRẦN THỊ HẬU
ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU TỚI CHÍNH
SÁCH CỔ TỨC TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HCM, năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ T.P HỒ CHÍ MINH
---------------
TRẦN THỊ HẬU
ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU TỚI CHÍNH
SÁCH CỔ TỨC TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên nghành
: Tài chính – Ngân hàng
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT ..................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU .....................................................................................2
1.1.Lý do chọn đề tài ...............................................................................................2
1.2 .Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu ........................................................................3
1.3 .Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .....................................................................3
1.4 .Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................4
1.5 .Cấu trúc bài nghiên cứu. ....................................................................................4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY ............................................................................................................6
2.1.Chính sách cổ tức ...............................................................................................6
2.2 .Chi phí đại diện .................................................................................................8
2.3 .Lý thuyết phát tín hiệu .....................................................................................11
2.4 .Cấu trúc sở hữu................................................................................................13
2.4.1 Phần trăm cổ phần do cổ đông lớn nhất nắm giữ (TOP) .........................13
2.4.2 Phần trăm cổ phần do năm cổ đông lớn nhất nắm giữ (TOP5)................16
2.4.3 Phần trăm cổ phần do nhà đầu tư tổ chức nắm giữ (INST) .....................18
2.4.4 Phần trăm cổ phần do các tổ chức trong nước nắm giữ (DINST) và phần
trăm cổ phần do các tổ chức nước ngoài nắm giữ (FINST) ...............................20
2.4.5 Phần trăm cổ phần do các cá nhân nắm giữ (INDV) ...............................21
2.4.6 Phần trăm cổ phần do các cá nhân trong nước nắm giữ (DINDV) và phần
trăm cổ phần do các cá nhân nước ngoài nắm giữ (FINDV) .............................21
2.4.7 Phần trăm cổ phần do cổ đông nước ngoài nắm giữ (FOREIGN) ...........22
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .........................24
3.1.Dữ liệu nghiên cứu. .........................................................................................24
3.2 .Mô hình nghiên cứu ........................................................................................24
3.3.Mô tả các biến số .............................................................................................26
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AGE
:
Logarit độ tuổi doanh nghiệp tính từ khi thành lập
DPR
:
Cổ tức trên thu nhập ròng.
DINDV
:
Phần trăm cổ phần do cá nhân trong nước nắm giữ
DINST
:
Phần trăm cổ phần do tổ chức trong nước nắm giữ
FCF
:
Sàn Giao Dịch Chướng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh.
INDV
:
Phần trăm cổ phần do cá nhân nắm giữ.
INST
:
Phần trăm cổ phần do tổ chức nắm giữ.
LEV
:
Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản.
MTB
:
Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của vốn cổ phần.
RETE
:
Bài nghiên cứu tập trung vào quyết định tài chính quan trọng có tác động lớn đến
các nhà đầu tư đó là chính sách cổ tức. Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của cấu
trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của doanh nghiệp bao gồm sở hữu cổ phần của cổ
đông lớn nhất, sở hữu cổ phần của năm cổ đông lớn nhất, sở hữu cổ phần của cá
nhân, sở hữu cổ phần của cá nhân trong nước, của cá nhân nước ngoài, sở hữu cổ
phần của tổ chức, sở hữu cổ phần của tổ chức trong nước, của tổ chức nước ngoài,
sở hữu cổ phần của nước ngoài. Mẫu nghiên cứu gồm 160 công ty được niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm
2014. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy Logit để xem xét ảnh hưởng
của các nhân tố sở hữu đến quyết định chi trả cổ tức của các công ty, phương pháp
hồi quy Tobit để xem xét nhân tố nào là nhân tố quyết định đến mức chi trả cổ tức
và hồi quy hai bước để kiểm tra vấn đề nội sinh giữa cấu trúc sở hữu và chính sách
cổ tức.
Tôi tìm thấy sở hữu cổ phần của tổ chức có mối quan hệ cùng chiều với chính sách
chi trả cổ tức của các công ty. Ngược lại, sở hữu cổ phần của cá nhân, bao gồm cả
cá nhân trong nước và cá nhân nước ngoài có mối quan hệ ngược chiều với việc chi
trả cổ tức của các công ty. Trong khi đó sở hữu cổ phần của cổ đông lớn nhất không
có ý nghĩa thống kê.
Các biến kiểm soát trong bài nghiên cứu gồm: thu nhập trên tài sản (ROA), dòng
tiền tự do (FCF), quy mô công ty (SIZE), giá trị thị trường trên giá trị sổ sách
(MTB), đòn bẩy (LEV), lợi nhuận giữ lại trên vốn cổ phần (RETE), độ tuổi công ty
(AGE). Trong các biến kiểm soát thì biến có quan hệ cùng chiều với chính sách chi
trả cổ tức là thu nhập trên tài sản và lợi nhuận giữ lại trên vốn cổ phần, các biến
kiểm soát có mối quan hệ ngược chiều là quy mô công ty, giá trị thị trường trên giá
trị sổ sách, đòn bẩy.
Từ khóa: chính sách cổ tức, cấu trúc sở hữu.
2
Vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của những cấu
trúc sở hữu vừa đề cập đến quyết định chi trả cổ tức của doanh nghiệp với luận văn
“Ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu tới chính sách cổ tức tại các công ty niêm yết
trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”. Qua đó tác giả sẽ phân tích mối quan hệ
giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2014.
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu của bài nghiên cứu là xem xét tác động của cấu trúc sở hữu: phần trăm sở
hữu cổ phần của cổ đông sở hữu lớn nhất, phần trăm sở hữu cổ phần của năm cổ
đông lớn nhất, phần trăm sở hữu cổ phần của tổ chức, phần trăm sở hữu cổ phần của
tổ chức trong nước, phần trăm sở hữu cổ phần của tổ chức nước ngoài, phần trăm sở
hữu cổ phần của cá nhân, phần trăm sở hữu cổ phần của cá nhân trong nước, phần
trăm sở hữu cổ phần của cá nhân nước ngoài, phần trăm sở hữu cổ phần của nước
ngoài lên chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014. Để trả lời các câu hỏi sau:
1. Nhân tố nào tác động tới quyết định có chi trả cổ tức của các công ty trên thị
trường chứng khoán Việt Nam?
2. Nhân tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ chi trả cổ tức của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam?
1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của các công
ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm
2009 đến năm 2014. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được
kiểm toán, báo cáo thường niên, báo cáo bạch, nghị quyết đại hội cổ đông thường
niên được công bố trên các website: http.vietsock.vn, cophieu68.vn, stockbiz.vn của
các công ty được nghiên cứu trong mẫu.
5
Chƣơng 5: Kết luận, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Chương cuối sẽ nêu nên những kết luận nhằm tổng quát lại bài, đưa ra những hạn
chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
6
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC
NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
Chương 2 sẽ tóm lược lại một số vấn đề lý thuyết liên quan đến chính sách cổ tức,
các yếu tố của cấu trúc sở hữu tác động đến chính sách cổ tức, các nghiên cứu trước
đây liên quan tới vấn đề này.
2.1 Chính sách cổ tức
Chính sách cổ tức là một trong ba chính sách tài chính quan trọng của công ty, bên
cạnh hai quyết định khác là quyết định tài trợ và quyết định đầu tư. Chính sách cổ
tức là chính sách ấn định phân phối giữa lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư hay chi trả
cổ tức cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại sẽ được sử dụng để tái đầu tư từ đó cung
cấp cho các nhà đầu tư một khoản tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng trong tương lai,
còn việc chi trả cổ tức cung cấp cho các cổ đông một nguồn thu nhập ở hiện tại.
Chính sách cổ tức sẽ ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công ty sẽ được phân phối
như thế nào và phân phối ra sao, bao nhiêu phần trăm được giữ lại để tái đầu tư và
bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông. Chính vì vậy mà chính sách cổ
tức có thể ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của các công ty,
cũng như chi phí sử dụng vốn của các công ty.
Chính sách cổ tức của các công ty bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, nhân tố khách
tương ứng.
Wei và các cộng sự (2004) thực hiện nghiên cứu thì phát hiện không có bất cứ một
luật lệ nào về tỷ lệ phần trăm chắc chắn của lợi nhuận hay lợi nhuận giữ lại được
chi trả cho cổ đông, các công ty được phép chi trả cổ tức theo chính sách của riêng
họ. Các công ty sẽ đưa ra những chính sách cổ tức khác nhau tuy thuộc vào nhiều
yếu tố tác động tới hoạt động của công ty.
Theo nghiên cứu của Baker và Wurgler (2004) thì cho rằng các nhà quản lý thường
quyết định chính sách cổ tức theo nhu cầu và mong muốn của nhà đầu tư. Nên các
nhà đầu tư thích chi trả cổ tức thì các nhà quản lý sẽ thực hiện việc chi trả cổ tức và
đây được xem như là một phần lợi nhuận cho việc đầu tư của các nhà đầu tư. Nếu
8
các nhà đầu tư không muốn chi trả cổ tức do muốn hưởng sự gia tăng vốn trong
tương lai thì các nhà quản lý sẽ không chi trả hoặc chi trả cổ tức ở mức thấp.
Tóm lại: có rất nhiều lý thuyết cũng như những nghiên cứu thực nghiệm được thực
hiện nhằm lý giải các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức của các công ty tại các
thị trường trên thế giới. Các nghiên cứu có những điểm tương đồng, cũng như
những điểm khác biệt do nhiều lý do như: tăng trưởng kinh tế, chính sách thuế, quy
định luật của mỗi quốc gia, hoạt động quản lý doanh nghiệp …
2.2 Chi phí đại diện
Chi phí đại diện là vấn đề thường được nhắc đến trong kinh doanh khi mà người
chủ và người quản lý không cùng mục tiêu và vấn đề bất cân xứng thông tin. Sự
mâu thuẫn giữa mục tiêu của người chủ và người đại diện đã tạo nên mâu thuẫn
giữa người chủ - người quản lý. Các cổ đông là người chủ và các nhà quản lý
chuyên nghiệp là người đại diện quản lý. Các cổ đông sẽ yêu cầu các nhà quản lý là
làm sao để tăng giá trị của công ty nhưng các nhà quản lý có thể rút lui khỏi công
việc nặng nhọc này hoặc có thể vun vén cho cá nhân để làm giàu. Chi phí đại diện
xuất hiện khi các nhà quản lý thay vì mang lại lợi ích tốt nhất cho các cổ đông thì
tức, chi trả cổ tức làm giảm lượng tiền mặt nằm dưới sự kiểm soát của các nhà quản
lý, chi trả cổ tức là công cụ để dung hòa mâu thuẫn giữa người quản lý và các cổ
đông vì các nhà quản lý muốn giữ lại nguồn lực tài chính thay vì chi trả cổ tức cho
cổ đông. Các nhà quản lý ưa thích lợi nhuận giữ lại vì nó sẽ mang lại cho các nhà
quản lý nhiều quyền định đoạt hơn trong việc sử dụng. Nhưng các cổ đông thì lại
thích chi trả cổ tức hơn là lợi nhuận giữ lại. Nếu lợi nhuận giữ lại không được chi
trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức, các nhà quản lý có thể thay đổi mục tiêu,
hướng các chính sách phục vụ cho lợi ích của họ hoặc đầu tư vào những dự án
không mang lại lợi nhuận.
Eckbo và Verma (1994) phân tích thực nghiệm trên thị trường chứng khoán
Toronto - Canada từ năm 1976 đến năm 1988 từ, mẫu quan sát bao gồm 308 công
ty, trên nền tảng dữ liệu bảng, sử dụng mô hình cố định (Fixed Effect Model –
10
FEM) đã đưa ra kết luận rằng cổ đông định chế sẽ thích dòng tiền tự do được phân
phối dưới hình thức cổ tức hơn, nhằm mục đích để làm giảm chi phí đại diện.
Còn theo nghiên cứu của Laporta và cộng sự (2000) cho rằng việc chi trả cổ tức có
thể làm giảm chi phí đại diện bởi vì các nhà quản lý buộc phải tạo tiền mặt đủ để
chi trả cổ tức, cũng như buộc các nhà quản lý phải tiếp cận thị trường vốn bên ngoài
để tài trợ cho các dự án, do đó các nhà quản lý sẽ phải cung cấp ra thị trường nhiều
thông tin nội bộ hơn và cuối cùng là dòng tiền mặt tự do sẽ giảm (đây là dòng tiền
mặt nằm dưới sự định đoạt của các nhà quản lý), từ đó sẽ giảm được việc sử dụng
lãng phí hoặc việc sử dụng không đúng mục đích gây ra những tổn thất lợi ích đối
với các cổ đông.
Một nghiên cứu khác của Short và cộng sự (2002), khi tiến hành xem xét thực
nghiệm về mối quan hệ giữa sở hữu của các định chế với chính sách chi trả cổ tức
dựa trên nguồn dữ liệu của 211 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Luân
Đôn trong giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1992, tác giả đã tìm thấy bằng chứng
Theo Li và Zhao (2008) đã tranh luận rằng chính sách cổ tức đóng vai trò quan
trọng vì nó được sử dụng để truyền tải thông tin tới các cổ đông về giá trị của công
ty. Khi công ty đã thực hiện việc chi trả cổ tức, đó như một tín hiệu tốt truyền tải tới
các cổ đông, khi đó các nhà quản lý sẽ gặp khó khăn trong việc cắt giảm cổ tức bất
kể vì nguyên nhân gì. Việc cắt giảm cổ tức đồng nghĩa với việc truyền tải thông tin
xấu về tình hình công ty tới các cổ đông.
Thực hiện nghiên cứu của Zenckhauser và Pound (1990) xem xét 286 công ty từ 22
ngành công nghiệp khác nhau tại thị trường Mỹ, cho rằng cổ tức và các cổ đông
định chế có thể được xem như là thiết bị truyền tín hiệu thay thế cho nhau. Cổ đông
lớn làm hạn chế việc chi trả cổ tức, nhưng ngược lại, với sự hiện diện của các cổ
đông lớn trong vốn góp của công ty cũng được xem là một tín hiệu tốt do các cổ
đông này có tầm ảnh hưởng trong việc giám sát hoạt động của công ty, như vậy sẽ
giúp công ty hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, có một điều không rõ ràng là cổ
đông định chế sẽ phát tín hiệu về triển vọng trong tương lai của công ty ra thị
trường chính xác như thế nào. Có hai kịch bản xảy ra. Thứ nhất, sự hiện diện của cổ
đông định chế báo hiệu cho thị trường biết chi phí đại diện đang giảm do các hoạt
động giám sát của cổ đông định chế. Thứ hai, các thông tin thêm được đưa ra cho
12
thấy cổ đông định chế có thể liên quan tới triển vọng trong tương lai vì cổ đông
định chế có thể dễ dàng kiểm soát việc quản lý, thị trường hoàn toàn có thể giải
thích sự hiện diện của một cổ đông định chế như là một tín hiệu tốt về triển vọng
trong tương lai của công ty.
Miller và Rock (1985) chính sách cổ tức có thể được sử dụng để làm công cụ giảm
bớt vấn đề bất cân xứng thông tin giữa người quản lý và các cổ đông thông qua việc
truyền tải cho các cổ đông những thông tin nội bộ và phát tín hiệu về triển vọng
trong tương lai của công ty.
Bản thân sự hiện diện của các định chế đã nhấn mạnh cổ tức như là một tín hiệu về
2.4 Cấu trúc sở hữu
Cấu trúc sở hữu là cơ cấu góp vốn trong công ty. Có hai loại cấu trúc sở hữu là sở
hữu tập trung và sở hữu phân tán. Trong sở hữu tập trung, cả quyền sở hữu lẫn
quyền kiểm soát công ty tập trung trong tay một số cá nhân, gia đình, ban quản lý,
hoặc các định chế cho vay. Những cá nhân hoặc nhóm người này thường kiểm soát
và có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của công ty. Vì vậy, cấu trúc sở hữu tập trung
thường được xem là hệ thống nội bộ. Những cổ đông lớn kiểm soát doanh nghiệp
trực tiếp bằng cách tham gia góp vốn vào hội đồng quản trị và ban điều hành. Cổ
đông lớn có thể không sở hữu toàn bộ vốn nhưng có quyền biểu quyết đáng kể, nên
vẫn có thể kiểm soát được công ty. Trong khi cấu trúc sở hữu phân tán thì có nhiều
cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu một số cổ phần của công ty, quyền kiểm soát hoạt
động do ban quản lý nắm giữ. Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ
hoạt động của công ty và không tham gia vào hoạt động điều hành của công ty. Cơ
cấu sở hữu trong các công ty có thể gây ra những tác động tới quá trình hoạt động
của các công ty và chính sách cổ tức cũng không phải là ngoại lệ.
2.4.1 Phần trăm cổ phần do cổ đông lớn nhất nắm giữ (TOP)
Có hai loại cấu trúc sở hữu: sở hữu phân tán, sở hữu tập trung. Trong cấu trúc sở
hữu tập trung, thì quyền sở hữu và quyền kiểm soát đều tập trung trong tay một số
cá nhân, gia đình, ban quản lý hoặc các định chế cho vay. Những cổ đông lớn
thường kiểm soát công ty trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều
hành. Đối với cấu trúc sở hữu tập trung, công ty do những người bên trong kiểm
soát và những người này có quyền lực để kiểm soát công ty chặt chẽ. Nhờ đó giảm
14
thiểu được tình trạng sai phạm hay hành vi trục lợi của nhà quản lý, làm giảm thiểu
chi phí đại diện. Các cổ đông lớn có thể yêu cầu các nhà quản lý chi trả cổ tức để
làm giảm vấn đề chi phí đại diện, nhưng họ cũng có thể tác động tới các nhà quản lý
để thực hiện chính sách chi trả cổ tức thấp để nhận được khoản lợi ích riêng trên sự
công ty không chi trả cổ tức. Tuy nhiên, trong những công ty chi trả cổ tức, họ thích
những công ty chi trả cổ tức ít hơn và chưa tìm thấy mối quan hệ về sự tác động của
quyền sở hữu cổ đông lớn nhất đến chính sách chi trả cổ tức.
Còn đối với Truong và Heany (2007) kiểm định mối quan hệ giữa chính sách cổ tức
và phần trăm sở hữu của cổ đông lớn nhất trong các công ty ở 37 nước trên thế giới
và đưa ra kết luận cho thấy rằng mối quan hệ này là biến thiên. Cổ đông lớn nhất
chiếm cổ phần thấp thì mối quan hệ này là ngược chiều, cùng chiều khi cổ đông lớn
chiếm tỷ lệ cao.
Harada và Nguyen (2011) thực hiện nghiên cứu tại thị trường chứng khoán Nhật
Bản từ tháng 4 năm 1995 đến tháng 2 năm 2002 cung cấp thêm bằng chứng hỗ trợ
cho giả thuyết là sở hữu tập trung có mối quan hệ ngược chiều với chính sách chi
trả cổ tức bằng cách chia mẫu quan sát thành hai nhóm: nhóm sở hữu tập trung cao
và nhóm sở hữu tập trung thấp. Cho kết quả, các công ty có cổ đông lớn nhất chiếm
tỷ lệ cao thì công ty thực hiện việc chi trả cổ tức càng thấp.
Yordying Thanatawee (2013) thực hiện nghiên cứu dựa trên mẫu quan sát gồm 287
công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Thái Lan, với 1010 mẫu
quan sát, trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến 2010, sử dụng hồi quy Logit thì
cho kết quả là cổ đông lớn nhất không ảnh hưởng tới quyết định chi trả cổ tức,
nhưng lại có ảnh hưởng cùng chiều tới tỷ lệ chi trả cổ tức khi tác giả thực hiện hồi
quy Tobit.
Tóm lại, ảnh hưởng của cổ đông lớn nhất tới chính sách của các công ty được thực
hiện qua nhiều nghiên cứu trước đây cho kết quả không đồng nhất. Đa số các bài
nghiên cứu cho rằng mối quan hệ này là ngược chiều như bài nghiên cứu của
Gugler và Yurtoglu (2003), Khan (2006),Harada và Nguyen (2011). Và một số kết
quả khác như của Truong và Heany (2007) cho rằng mối quan hệ này là biến thiên,
hay không có ảnh hưởng của cổ đông lớn nhất đối với quyết định có thực hiện chi
16
17
rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu tập trung và chính sách chi trả cổ tức
tại thị trường chứng khoán Phần Lan.
Còn theo Farinha, J.(2003) thực hiện nghiên cứu tại Anh với hơn 600 công ty được
chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn một từ năm 1987 đến năm 1991, giai đoạn 2 từ năm
1991 đến năm 1996, tìm thấy mối quan hệ chữ U giữa việc chi trả cổ tức và tập
trung sở hữu.
Đối với nghiên cứu của Naceur, Goaied và Belanes (2006) thực hiện mẫu nghiên
cứu gồm 48 công ty từ năm 1996-2002 ở Tunisia, kết quả cho thấy các công ty ở
Tunisa, giống như các nước ở thị trường mới nổi, không ổn định việc chi trả cổ tức.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng không tìm thấy mối quan hệ giữa tập trung sở hữu đối
với việc chi trả cổ tức. Các công ty được tổ chức chặt chẽ sẽ có ít xung đột giữa nhà
quản lý và các cổ đông cho nên không cần dùng đến chính sách chi trả cổ tức để
làm giảm vấn đề chi phí đại diện.
Truong và Heany (2007) thực hiện kiểm định mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và
chính sách chi trả cổ tức trong các công ty ở 37 nước trên thế giới và đưa ra kết luận
của bài nghiên cứu là có mối quan hệ cùng chiều tới quyết định chi trả cổ tức của
công ty, nhưng đây không phải là nhân tố quyết định đáng kể tới tỷ lệ chi trả cổ tức.
Đối với nghiên cứu của Ramli (2010), thực hiện nghiên cứu tập trung vào tác động
của những cổ đông lớn nhất và chính sách cổ tức của các công ty ở thị trường
Malaysia từ năm 2002 đến năm 2006, với 245 công ty phi tài chính, nơi mà cấu trúc
sở hữu có xu hướng tập trung nhiều, tác giả phát hiện rằng phần góp vốn của các cổ
đông lớn tăng thì các công ty sẽ điều chỉnh để chi trả cổ tức cao hơn do các cổ đông
đa số có thể có ảnh hưởng lớn đối với chính sách chi trả cổ tức.
Tương tự Harada và Nguyen (2011) thực hiện nghiên cứu đối với các công ty lớn
tại Nhật Bản, thì lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu tập trung và
chính sách chi trả cổ tức tại thị trường này. Tập trung sở hữu có mối quan hệ ngược
chiều, có ý nghĩa đối với chi trả cổ tức, những công ty có sở hữu tập trung thấp
cũng ít có khả năng để chi trả cổ tức khi thu nhập tăng hoặc giảm nợ.
và chính sách chi trả cổ tức dựa trên dữ liệu thu thập được từ 211 công ty được
niêm yết trên sàn chứng khoán Luân Đôn, Anh trong giai đoạn từ năm 1988 đến