LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cô giáo, Thạc sỹ Phùng Thị Thanh
Hiền đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này. Cung
cấp cho em những kiến thức khoa học lý thú, tạo điều kiện thuận lợi cho em được
tiếp cận tới những tài liệu khoa học bổ ích, cung cấp thông tin cho bài khóa luận.
Em học hỏi được rất nhiều về phong cách làm việc, cũng như phương pháp nghiên
cứu khoa học.
Em cũng xin thể hiện sự kính trọng và lòng biết ơn tới thầy – Tiến sĩ Trần
Đình Thụy, trưởng khoa du lịch trường Đại học Đông Đô đã cho em rất nhiều kiến
thức chuyên ngành, cũng như sự đóng góp ý kiến tận tình trong suôt thời gian em
thực tập. Đóng góp ý kiến quý báu để em hoàn thành tốt khóa luận.
Đồng thời, em xin cảm ơn Sở văn hóa – thể thao – du lịch Thành phố Hải
Phòng và các anh chị trong sở đã giúp đỡ em tiếp cận tới những tài liệu, thông
tin… để em hoàn thành tôt bài khóa luận.
Sinh viên
Hoàng Thị Hương Giang
1
MỤC LỤC
Hệ thống giao thông đồng bộ 53
Công ty cổ phần thương mại dịch vụ DL Hồng Bàng 83
Nhà nghỉ bankstar 1 83
Nhà Nghỉ Hòa Bình 83
Nhà hàng Hoàng Anh 83
Khu 2, Đồ Sơn, Hải Phòng 83
Nhà khách văn phòng quân khu 3 84
Nhà nghỉ Camping 84
.
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu du lịch ngày
Trong bối cảnh chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang có xu hướng
chuyển dịch cơ cấu từ nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế phát
triển Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu về tiềm năng,
thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Đồ Sơn sẽ có tác dụng thực tiễn to lớn
trong việc phát triển du lịch ở Hải Phòng nói riêng, và các điểm du lịch tương tự
trong nước nói chung.
Bên cạnh đó, du lịch Việt Nam mặc dù có nhiều tài nguyên thiên nhiên và
nhân văn độc đáo song đến nay vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng.
Trước tình hình như vậy, du lịch Việt Nam đang tìm hướng đi cho mình là xây
dựng biểu tượng của một đất nước thanh bình, thân thiện, đánh thức tiềm năng của
bờ biển dài và đẹp chạy dọc đất nước. Trong đó Đồ Sơn lại là một điểm du lịch
biển quen thuộc có lịch sử khai thác hàng trăm năm nên việc tìm ra giải pháp thúc
đẩy phát triển du lịch biển Đồ Sơn là hết sức cần thiết.
Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau lễ hội khai trương Hồ bơi nước
biển tạo sóng nhân tạo lớn nhất Châu Á đúng vào dịp 30-4-2011, Đồ Sơn đã có
những chuyển biến và đổi mới tích cực, tạo thành một điểm nhấn hấp dẫn đối với
du khách. Mặt khác, những thay đổi trong cách thức tổ chức các hoạt động du lịch
cũng góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội Đồ Sơn, cũng như ngành kinh
tế du lịch Hải Phòng phát triển, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, đồng thời tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động,
tăng thu ngân sách Nhà nước và mở rộng hợp tác, giao lưu văn hóa, phát triển xã
hội giữa Đồ Sơn - Hải Phòng với các tỉnh khác trong cả nước, góp phần vào con
đường phát triển Đô thị loại I cấp quốc gia. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng và phát
triển du lịch Đồ Sơn những năm qua còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng và
thế mạnh sẵn có. Hiện tượng khách du lịch có ấn tượng thiếu thiện cảm với du lịch
Đồ Sơn vẫn còn khá phổ biến.Không những thế, hiện nay sự vươn lên của nhiều
4
địa danh du lịch mới, đặc biệt là du lịch biển ở các địa phương trong cả nước đang
đặt Đồ Sơn trước thách thức của sự cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi địa danh du lịch
này phải nhanh chóng củng cố và làm mới mình để thu hút du khách.
du lịch, khả năng khai thác cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch đã trở thành những
nội dung cơ bản của ngành địa lý và ngành du lịch. Ở Việt Nam, các công trình
nghiên cứu về du lịch có thể kể tới một số công trình: Sơ đồ phát triển và phân bố
ngành du lịch Việt Nam (1986), dự án VIE/89/003 về kế hoạch chỉ đạo, phát triển
du lịch Việt Nam do tổ chức du lịch thế giới (OMT) thực hiện, Madrid, 1992, tổ
chức lãnh thổ du lịch Việt Nam (1991), Đề tài KT - 03 - 18 về luận cứ khoa học
phát triển hệ thống du lịch biển Việt Nam (1994) thuộc chương trình biển KT -
03, Những đề tài và dự án đó đã phân tích cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ du
lịch, đánh giá tổng hợp các dạng tài nguyên phục vụ cho mục đích du lịch, dự báo
nhu cầu du lịch, đề ra chiến lược phát triển du lịch, cơ chế quản lý kinh doanh du lịch
Bên cạnh đó, ở tầm vi mô, các địa phương đã có triển khai xây dựng quy
hoạch tổng thể cho phát triển du lịch trên cơ sở dự báo của Viện nghiên cứu phát
triển du lịch Việt Nam và căn cứ vào tình hình thực tế như: Lạng Sơn, Hải Phòng,
Ninh Bình, Thanh Hóa đặc biệt là phát triển du lịch biển - một tiềm năng rất lớn
nhưng chưa được khai thác đúng mức.
Đối với vấn đề khai thác và phát triển du lịch Đồ Sơn cũng đã có một số nhà
nghiên cứu, nhà báo trong nước và địa phương đề cập tới, song chủ yếu mới dừng
lại ở mức độ biên khảo, tùy bút, điểm tin, giới thiệu phong cảnh Đồ Sơn với du khách.
4. Nhiệm vụ của đề tài.
- Bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học tiến hành phân tích, đánh giá về
du lịch Đồ Sơn, nhất là tiềm năng phát triển du lịch tại đây.
- Phân tích thực trạng phát triển du lịch của Đồ Sơn (Hải Phòng) năm 2008-
2012 và định hướng phát triển tới năm 2020. Trong đó làm rõ những thành tựu
cũng như những mặt còn tồn tại của sự phát triển du lịch Đồ Sơn, phân tích
những nguyên nhân dẫn tới yếu kém của sự hoạt động du lịch tại đây, dự báo xu
thế phát triển du lịch tầm nhìn 2030.
6
- Đề ra giải pháp khoa học nhằm phát triển du lich Đồ Sơn trong những năm
sau, hướng tới sự phát triển bền vững.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.
lịch Đồ Sơn so với tình hình phát triển du lịch cả nước. Cũng bằng phương pháp
này cho phép đánh giá đầy đủ tiềm năng phát triển du lịch tại Đồ Sơn.
6.2.2. Phương pháp biểu đồ, thống kê:Các số liệu thống kê trong nghiên cứu du
lịch là rất phổ biến: diễn biến của khách du lịch hàng năm, diễn biến của số lượng
buồng phòng Bằng phương pháp phân tích biểu đồ, phân tích các bảng thống kê
cho phép rút ra nhiều kết luận quan trọng của hoạt động du lịch. Các loại biểu đồ,
đồ thị là những hình thức biểu hiện sự vật trực quan sinh động.
6.2.3. Phương pháp thực địa:
Tôi tiến hành khảo sát thực tế, phát phiếu điều tra thái độ của du khách tại
điểm du lịch Đồ Sơn để thu thập các thông tin cần thiết, nhằm rút ra những kết
luận chính xác, nâng cao ý nghĩa thực tiễn của luận án.
6.2.4. Phương pháp dự báo:
Để tìm ra những định hướng phát triển du lịch nhằm khai thác có hiệu quả
các tiềm năng du lịch tại Đồ Sơn rất cần có sự dự báo: dự báo số lượng khách, số
giường phòng cần xây dựng thêm, dự báo số vốn đầu tư, số lượng lao động trong
ngành du lịch Vì vậy, cần phải sử dụng nhiều phương pháp dự báo khác nhau:
phương pháp quán tính, phương pháp kịch bản
6.2.5. Phương pháp nghiên cứu liên ngành và khu vực học.
Áp dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu du lịch Đồ Sơn có nghĩa là
không đơn thuần nghiên cứu dưới góc độ của địa lý, du lịch, hay của kinh tế mà
kết hợp nhiều ngành khoa học khác nhau ( địa lý, du lịch, kinh tế, văn hóa, lịch
sử ) nhằm đạt được nhận thức tổng hợp về điểm du lịch này, thấy được mối quan
hệ qua lại giữa con người và tài nguyên du lịch, mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên
và giá trị nhân văn.
8
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được
cấu trúc thành 3 chương như sau:
Chương 1: cơ sở lý luận chung về du lịch và phát triển du lịch bền vững.
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Đồ Sơn (2008 - 2012).
vật chất và tinh thần văn hóa cao.
Xét từ góc độ các quốc sách phát triển du lịch: Lựa chọn các sản phẩm du
lịch độc đáo và đặc trưng từ nguồn nguyên liệu trên, đồng thời xác định
phương hướng qui hoạch xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và cơ sở hạ tầng
dịch vụ tương ứng.
Xét từ góc độ sản phẩm du lịch: Sản phẩm đặc trưng của du lịch là các
chương trình du lịch, nội dung chủ yếu của nó là sự liên kết những di tích
lịch sử, di tích văn hóa và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với những
cơ sở vật chất kỹ thuật.
Xét từ góc độ thị trường du lịch: Mục đích chủ yếu của các nhà tiếp thị du
lịch là tìm kiếm thị trường du lịch, tìm kiếm nhu cầu của du khách để " bán
chương trình du lịch".
1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch.
Tài nguyên được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên
liệu, năng lượng và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan
mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Tài nguyên được phân loại thành nhiều tài nguyên thiên nhiên gắn liền với
các nhân tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con người
và xã hội.
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc săc của tài nguyên nói chung.
Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch.
Tài nguyên du lịch là " cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử
dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du
lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch". Như vậy, tài nguyên du lịch được
coi như tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng
phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch
càng cao bấy nhiêu.
11
1.1.3. Các loại tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính phổ biến.
Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính tập trung dễ tiếp cận.
Tài nguyên du lịch nhân văn có tính truyền đạt nhận thức nhiều hơn là
hưởng thụ, giải trí.
Các dạng tài nguyên nhân văn:
Tài nguyên du lịch nhân văn là những sản phẩm văn hóa nên rất đa dạng và
phong phú. Chúng có thể phân thành những dạng chính sau:
o Các di tích lịch sử văn hóa.Di tích lịch sử văn hóa được coi là một trong những
nguồn tài nguyên du lịch quan trọng, là " những công trình xây dựng, địa điểm,
đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng
như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lich sử, quá trình
phát triển văn hóa - xã hội".
Các di sản văn hóa thế giới.Các di sản văn hóa thế giới được xác
định theo 6 tiêu chuẩn:
Là các tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng
đầu của tài năng con người.
Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật
kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời kỳ
nhất định.
Cung cấp một ví dụ tiêu biểu về một thể loại xây dựng hoặc
kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa.
Cung cấp một ví dụ đặc sắc về một dạng nhà ở truyền thống
nói lên được một nền văn hóa đang có nguy cơ bị hủy hoại
trước những biến động không cưỡng lại được.
Có mối quan hệ trực tiếp với những sự kiện, tín ngưỡng đáp
ứng được những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về
vật liệu, về cách tạo lập cũng như vị trí.
13
Các di tích lịch sử văn hóa thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương
gồm: các di tích khảo cổ học, các di tích lịch sử, các di tích văn
tượng hấp dẫn khách du lịch.
1.2. Phát triển du lịch trong mối quan hệ bền vững với môi trường.
1.2.1. Khái niệm về phát triển du lịch bền vững.
Sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội nói chung và của bất kỳ ngành kinh
tế nào cũng cần đạt 3 mục tiêu cơ bản:
• Bền vững kinh tế.
• Bền vững về tài nguyên và môi trường.
• Bền vững về văn hóa xã hội.
Đối với kinh tế, sự phát triển bền vững thể hiện ở quá trình tăng trưởng liên
tục theo thời gian hoặc không có sự đi xuống xét về chỉ tiêu kinh tế.
Sự phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường đòi hỏi khai thác, sử
dụng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Đối với văn hóa xã hội thì sự phát triển bền vững cần đảm bảo đem lại lợi
ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng
cao mức sống của người dân và ổn định xã hội, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa.
Du lịch được coi là ngành công nghiệp lớn trên phạm vi toàn thế giới, góp
phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, bảo tồn các giá trị văn hóa có tính toàn cầu
cũng như tác động đến mọi khía cạnh về tài nguyên và môi trường. Điều này đòi
hỏi ở du lịch một sự phát triển bền vững.
Vậy sự phát triển bền vững là gì?
"là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng đáp ứng về nhu cầu du lịch của các thế hệ tương lai". Vì vậy trong quá trình
phát triển phải đảm bảo được sự bền vững về kinh tế, về tài nguyên môi trường du
lịch và về văn hóa xã hội.
15
Bền vững về tài nguyên và môi trường là "việc sử dụng các tài nguyên
không vượt quá khả năng phục hồi của nó, sao cho đáp ứng được nhu cầu hiện tại
song không làm suy yếu khả năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng nhu cầu của
thế hệ mai sau".
tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch, tăng
cường sự phong phú về sản phẩm du lịch. Vì vậy, muốn phát triển du lịch thì
không thể tách rời việc bảo tồn đa dạng của các tài nguyên du lịch.
1.2.2.4. Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội.
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng rất cao, vì
vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch phải phù hợp với các
quy hoạch ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội nói chung ở
phạm vi quốc gia, vùng và địa phương. Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát
triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như
với việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, gìn giữ môi trường.
Tiểu kết:
Vấn đề phát triển du lịch bền vững gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường
đang trở thành vấn đề cấp bách và là xu hướng tất yếu của ngành du lịch trên toàn
thế giới. Trên cơ sở những quan điểm về du lịch, bản chất du lịch và xu thế phát
triển du lịch gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường, chúng ta có thể áp dụng cụ thể
vào việc nghiên cứu địa danh du lịch Đồ Sơn.
1.3. Nội dung.
1.3.1. Nhìn chung về du lịch Việt Nam trong những năm gần đây.
1.3.1.1. Việt Nam phát triển du lịch phù hợp với xu thế phát triển du lịch thế
giới và khu vực.
Trên thế giới hiện nay, du lịch trên phạm vi toàn cầu đã phát triển nhanh
chóng với tốc độ tăng trưởng bình quân về khách 6,93%/ năm, về thu nhập
11,8%/năm và trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu. Theo thống kê
của UNWTO, năm 2010 lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới lên tới 935
triệu lượt khách, sau sự giảm sút 4% của năm 2009 – năm chịu ảnh hưởng mạnh
17
nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, thu nhập từ du lịch đạt 900 tỷ USD và
ngành du lịch đã tạo thêm khoảng 150 triệu chỗ việc làm chủ yếu tập trung ở khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Được thúc đẩy bởi sự phục hồi của các nền kinh tế thế giới, ngành du lịch
độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên. Khoa học và công nghệ có
chuyển biến phục vụ ngày càng nhiều hơn cho sản xuất, phát triển các ngành kinh
tế và đời sống. Tình hình trên là nền tảng vững chắc cho du lịch Việt Nam phát triển.
1.3.1.3. Lợi thế phát triển du lịch Việt Nam.
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu
sắc, có tính liên vùng và xã hội hóa cao, phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu
tham gia, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lich quốc tế, góp phần
nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phát
triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế
- xã hội, phát triển du lịch thực sự là một ngành kinh tế mũi nhọn ( Văn kiện Đại
hội Đảng IX).
Việt Nam có những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý kinh tế và chính trị để
phát triển du lịch.
Nằm ở trung tâm Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắn liền với lục địa
vừa thông ra đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển,
đường sông, đường sắt, đường bộ và đường hàng không. Đây là tiền đề rất quan
trọng trong việc mở rộng và phát triển du lịch quốc tế.
Việt Nam có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào, người Việt
Nam thông minh, cần cù, mến khách là những yếu tố quan trọng đảm bảo cho du
lịch phát triển.
Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Việt Nam phong phú và đa dạng.
Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài thứ 27 trong số 156 nước có bờ biển
trên thế giới và là nước ven biển lớn ở khu vực Đông Nam Á. Bờ biển Việt Nam
dài trên 3260 km trải qua 15 vĩ độ, có 125 bờ biển có các điều kiện thuận lợi cho
19
hoạt động nghỉ ngơi, nghỉ dưỡng, tắm biển và vui chơi giải trí trong đó có nhiều
bãi biển nổi tiếng hấp dẫn như bãi biển Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thuận an, Lăng
Cô, Non nước, Văn Phong - Đại Lãnh, Nha Trang, Phan Thiết, Long Hải, Vũng
Tàu, Hà Tiên, Đặc điểm hình thái địa hình vùng ven biển tạo ra nhiều vịnh đẹp
trong đó có vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.
1.4.1. Thuận lợi và cơ hội phát triển du lịch Việt Nam.
• Trong thế kỷ XXI, tình hình thế giới sẽ có nhiều biến đổi sâu sắc với sự
nhảy vọt chưa từng thấy về khoa học và công nghệ. Toàn cầu hóa là một xu
hướng khách quan, ngày càng nhiều nước tham gia, hòa bình, hợp tác và
phát triển là một xu thế lớn phản ánh nguyện vọng của mỗi quốc gia, mỗi
người dân. Trong bối cảnh đó, nhu cầu du lịch tăng mạnh, du lịch thế giới
tăng nhanh với xu thế chuyển sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đặc
biệt là khu vực Đông Nam Á. Đây thực sự là một cơ hội tốt tạo đà phát triển
cho du lịch Việt Nam.
• Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Nhà nước đã tạo điều kiện
thuận lợi cho kinh tế đối ngoại trong đó có du lịch phát triển. Nhà nước quan
tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao sự nghiệp phát triển du lịch của đất nước. du
lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ công nghiệp hóa
- hiện đại hóa đất nước.
• Đất nước con người Việt Nam đẹp và mến khách. Việt Nam có chế độ chính
trị ổn định an ninh đảm bảo, là điểm du lịch còn mới trên bản đồ du lịch thế
giới với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú là điều kiện đặc biệt quan
trọng cho du lịch phát triển.
• Hệ thống pháp luật ngày một hoàn thiện, luật du lịch đã được ban hành,
nhiều văn bản liên quan đến du lịch được sửa đổi, bổ sung, tạo hành lang
pháp lý cho du lịch phát triển.
• Kết cấu hạ tầng cơ sở, hạ tầng kinh tế, xã hội đã được Nhà nước quan tâm
đầu tư mới hoặc nâng cấp tạo điều kiện khai thác các điểm du lịch, tăng khả
năng giao lưu giữa các vùng, các quốc gia
21
1.4.2. Những khó khăn thách thức chủ yếu.
• Cạnh tranh du lich trong khu vực và thế giới ngày càng gay gắt. Trong khi
đó, khả năng cạnh tranh của du lịch việt Nam còn rất hạn chế. Trong phát
triển du lịch toàn cầu và của du lịch Việt Nam cũng phải tính đến những
biến đổi khôn lường của khủng hoảng tài chính, năng lượng, thiên tai, chiến
Những nguồn tài nguyên sinh vật biển quý hiếm không những là đối tượng
tham quan của khách mà còn là nguồn cung cấp thực phẩm, đặc sản quý hiếm cho
khách du lịch, nguyên liệu cho các ngành thủ công mỹ nghệ.
Vùng ven biển và hải đảo nước ta có khoảng 38 triệu người sinh sống với 8 dân tộc
Kinh, Hoa, Khơme, Raglai, Chăm, Sán Rìu, Dao, Ngái ( trong đó ngời Kinh chiếm
đa số). Sự chênh lệch về dân số không ảnh hưởng đến sự duy trì bản sắc riêng của
từng dân tộc.
Do phần lớn tài nguyên du lịch đều tập trung ở khu vực ven biển và hệ thống
đảo ven bờ và do hoạt động kinh tế sôi động ở khu vực này trong những năm qua
nên đã thu hút về đây phần lớn lượng khách du lịch. Số khách du lịch quốc tế vùng
ven biển đạt khoảng 80% lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
23
CHƯƠNG 2
TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỒ SƠN.
2.1. Lich sử phát triển du lịch Đồ sơn.
2.1.1. Khái quát chung về Đồ Sơn.
Thị xã Đồ Sơn là một đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Hải Phòng.
Nằm cách nội thành Haỉ Phòng hơn 20km về phía đông nam, Đồ Sơn ở vao 20°42'
vĩ độ bắc, 106°45' kinh độ đông. Phia đông nam giáp với Vịnh bắc bộ, phía tây bắc
giáp huyện Kiến Thụy. Diện tích 30,94 km0178, dân số 30.600 người (1999). Thị
xã có 5 đơn vị hành chính trực thuộc là các phường Vạn Sơn, Vạn Hương, Ngọc
Hải, Ngọc Xuyên và xã Bàng La.
Đồ Sơn có dải đồi núi thấp chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam nhô
khỏi mặt biển, kéo dài hình 9 con rồng cùng vươn về phía đảo Hòn Dáu, như thể
cùng tranh nhau một viên ngọc. Cả dãy đồi núi tạo lên một bức tường thành che
chở cho cả phía đông huyện Nghi dương (nay la Kiến Thụy). Điểm mút phía đông
là hòn Độc, điểm mút phía tây là hòn Dấu. Xa xa phía ngoài cửa sông Thái Bình,
cửa sông Văn Úc nổi lên hai cồn cát cao khá rộng gọi là đồi song ngư. Dân địa
phương còn gọi đó là cồn Khoai hay cồn Dừa.
Địa hình Đồ Sơn thuộc dạng đồi, cấu tạo chủ yếu là đá cát kết và đá phiến
các ngành địa chất, khí tượng, thủy văn, hải dương học những giá trị đó đã và
đang được khai thác phục vụ cuộc sống trong quá khứ hiện tại và tương lai. Điều
đáng nói là phải có một chính sách khai thác hợp lý tránh làm cạn kiệt, vừa khai
thác vừa tái tạo làm giàu nguồn tiềm năng thiên nhiên quý giá. Vùng đất đầu sóng
ngọn gió thường xuyên phải đối mặt với bọn cướp biển và quân ngoại xâm, dân Đồ
Sơn thường xuyên phải tư bảo vệ tính mạng, tài sản của mình nên họ có tính cộng
đồng rất cao, tạo nên bản sắc riêng cho vùng đất này.
25