38 Tạp chí Y tế Công cộng, 11.2004, Số 2 (2)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Một số yếu tố liên quan đến nạo phá thai
ở phụ nữ có thai lần đầu
tại TP. Hồ Chí Minh
Ths. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang* và cs
Ghi nhận có hơn 680.000 nữ nạo phá thai trong 6 tháng đầu năm 1998, trong đó có đến 70-88% từ
15 đến 24 chưa từng sử dụng các biện pháp tránh thai. Để tìm các yếu tố liên quan đến việc đi phá
thai trong số những phụ nữ tuổi từ 16- 38, mang thai lần đầu tiên một nghiên cứu bệnh chứng được
tiến hành tại Bệnh viện Từ Dũ và phòng khám của Trường Nữ hộ sinh ở thành phố Hồ Chí Minh từ
tháng 6 đến tháng 9 năm 2001. Các học sinh nữ hộ sinh đã qua huấn luyện, phỏng vấn trực diện 87
phụ nữ đến xin phá thai và 81 thai phụ đến thăm thai bằng những bảng câu hỏi được biên soạn sẵn.
Bảng câu hỏi bao gồm 30 câu. Kết quả thu được từ phân tích hồi quy đa biến cho biết tuổi càng lớn
(tỉ suất chênh =0,85) và có hôn nhân hợp pháp (tỉ suất chênh = 0,04) làm giảm nguy cơ mang thai
không mong đợi, dẫn đến phá thai. Không xem chương trình giáo dục kế hoạch hóa gia đình trên
truyền hình (tỉ suất chênh = 2,23) và không biết gì về các tai biến, tác hại của phá thai (tỉ suất
chênh = 10,26) là những yếu tố nguy cơ dẫn đến nạo phá thai. Cũng dùng phân tích hồi qui bội đa
biến với các trường hợp phụ nữ đến phá bào thai không mong đợi của họ và các thai phụ đến thăm
thai với bào thai mong đợi, thấy rằng ý nghóa thống kê giảm đi với yếu tố không biết các tai biến,
tác hại của phá thai. Phân tích thống kê mô tả các yếu tố về tiền sử sinh sản cho thấy 41% phụ nữ
đến phá thai chưa từng dùng các biện pháp tránh thai và lý do họ không dùng là không biết gì về
bất cứ phương pháp tránh thai nào trong 42% các trường hợp. Thậm chí trong số họ, những người
có từng dùng các biện pháp tránh thai thì tỉ lệ dùng thuốc tránh thai chỉ 22%, dùng bao cao su tránh
thai chỉ 20% và dùng thuốc tránh thai cấp cứu chỉ 14%,trong khi đó tỉ lệ dùng phương pháp tránh
ngày rụng trứng lại tới 24% và giao hợp gián đoạn 14%. Thêm vào đó chỉ 24,1 % những phụ nữ đến
phá thai đã từng bàn bạc về kế hoạch hoá gia đình với chồng hoặc bạn tình của họ. Những kết quả
này gợi ý rằng nên khuyến khích các bạn trẻ cả nam lẫn nữ dùng các biện pháp tránh có hiệu quả
cao và cần cung cấp những thông tin về tác hại và tai biến của phá thai cho họ. Những chương trình
truyền hình có lẽ là phương tiện chuyển tải những thông tin này hiệu quả nhất.
It was reported that over 680,000 women had abortions in Vietnam in the first 6 months of 1998, and
70-88 % of women aged 15-24 years had never used a contraceptive method. A case-control study
vào những năm 1990 đã cho thấy có một cuộc cách
mạng về giới tính đã xảy ra ở Việt Nam, nhưng có
đến 70-88% các phụ nữ trong lứa tuổi từ 15-24 chưa
bao giờ sử dụng biện pháp ngừa thai nào
4, 5
. Trong
khi đó, Daniel Goodkind đã miêu tả rằng sự gia
tăng của hoạt động tình dục trước hôn nhân, kiến
thức về các biện pháp tránh thai, và sự thiếu thốn
các dòch vụ về kế hoạch hóa gia đình là những yếu
tố quan trọng đóng góp rất nhiều trong sự gia tăng
tỉ lệ nạo phá thai của một quốc gia
6
.
Một nghiên cứu đònh tính và đònh lượng đã
được thực hiện tại Kenya và đã phát hiện rằng
những phụ nữ nạo phá thai có khuynh hướng là
những phụ nữ chưa lập gia đình, tuổi dưới 24, có
thai lần đầu, nghèo và trình độ học vấn ở mức độ
trung học cơ sở
7
.
Mặt khác, một nghiên cứu ở Luân Đôn (Anh)
đã kết luận rằng không có sự khác biệt giữa những
người nạo phá thai và những người không nạo phá
thai
8
. Tại Việt Nam, cũng đã có vài công trình
nghiên cứu đònh tính trên những người nạo phá thai,
đặc biệt là những phụ nữ có thai lần đầu vì biến
bảo vệ sức khoẻ sinh sản của người phụ nữ, nghiên
cứu của chúng tôi tập trung đánh giá những đặc tính
về dòch tễ xã hội của những người có thai lần đầu-
và nạo phá thai và kiến thức về ngừa thai của họ.
cy; statistical significance diminished for the knowledge about adverse effects of abortion.
Descriptive analysis of reproductive history among abortionists showed that 41.4% of them had never
used contraceptives and the reason for non-usage was lack of knowledge of any type of contracep-
tives in 42.8% of the cases. Even among abortionists who had ever used contraceptives, proportions
of those who used the pill, condom and the emergency pill were only 22%, 20% and 14%, respec-
tively, whereas proportions for rhythm method and coitus interrupt were as high as 24% and 14%,
respectively. Additionally, only 24.1% of abortionists had discussed about family planning with their
partners. These results suggest that effective contraceptive methods should be promoted among
young poppulation, both female and male, and that they need to be informed of the consequences of
abortion. Television program could be an effective mode of providing such information.
40 Tạp chí Y tế Công cộng, 11.2004, Số 2 (2)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Phương pháp nghiên cứu
1. Thiết kế nghiên cứu
Đây là nghiên cứu bệnh chứng không kết cặp
thực hiện tại TP.HCM từ 06/2001 - 09/2001. Các
cuộc phỏng vấn được thực hiện tại Bệnh viện Từ
Dũ và phòng khám của Trường Nữ hộ sinh.
2. Đối tượng nghiên cứu
Nhóm bệnh bao gồm các phụ nữ có thai lần đầu
đến khoa Kế hoạch hoá gia đình của Bệnh viện Phụ
sản Từ Dũ và phòng khám Trường Nữ hộ sinh để
nạo phá thai.
Nhóm chứng bao gồm các phụ nữ có thai lần
đầu đến khám thai tại Bệnh viện Từ Dũ và phòng
khám thai Trường Nữ hộ sinh.
ở những nghiên cứu trước đây. Các biến liên tục
(như tuổi của các đối tượng nghiên cứu, tuổi của
bạn tình và tuổi đầu tiên có hoạt động tình dục) và
các biến lưỡng phân được sử dụng trực tiếp trong
phân tích. Trong khi đó, các biến có trên 2 phân
nhóm được phân nhóm lại thành biến lưỡng phân
để phân tích.
Trước tiên phân tích đơn biến cho từng yếu tố.
Các yếu tố liên quan hay gần liên quan có ý nghóa
thống kê với nạo phá thai trong phân tích đơn biến
(p<0.05 và p<0,1) sẽ được đưa vào phân tích đa
biến. Trong số các yếu tố có tương quan mạnh với
nạo phá thai (nghóa là hệ số tương quan trên 0.5 với
p< 0.05) hoặc những yếu tố có vẻ tương quan với
nạo phá thai về phương diện nội dung, thì yếu tố nào
Số lượng (%) hay trung vò (min, max)
Tỉ suất
chênh
(Odds
ratio)
Khoảng tin
cậy 95%
Biến số
Không muốn
có thai (N=87)
Muốn có thai
(N=81) Tuổi
có thai (N=87)
Muốn có thai
(N=81)
Tỉ suất
chênh
(Odds
ratio)
Khoảng tin cậy
95%
Thông tin về KHHGĐ gần đây
Truyền thanh
17 (19.5)
21 (26.2)
1.46
1.07 – 1.99
Truyền hình
41 ( 47.1)
58 (72.5)
2.95
1.54 –5.56 **
Báo/ tạp chí
46 (52.8)
42 (52.5)
0.98
0.53 – 1.80
Kiến thức về bao cao su (BCS)
7.0
0.84 – 58.20 #
càng vừa hợp với phương trình hồi quy hoặc những
yếu tố mang đặc tính chuyên biệt hơn sẽ đươc chọn
vào phân tích đa biến.
Mứùc độ thỏa đáng của phương trình sau cùng
được thử nghiệm lại bằng phép kiểm tính chất thích
hợp của các biến trong phương trình.
Chúng tôi đã chọn yếu tố muốn mang thai và
không muốn mang thai để khảo sát trong nghiên
cứu nhằm hạn chế tối đa các sai số do phân nhóm
nhằm lẫn. Nhóm bệnh được xem là nhóm không
mong muốn có thai và nhóm chứng là nhóm mong
muốn có thai. Và đặc tính này cũng được sử dụng
trong suốt quá trình phân tích.
Kết quả
Nghiên cứu bao gồm 168 đối tượng, trong đó 81
trường hợp bệnh và 87 trường hợp chứng. Có 3 đối
tượng bò loại khỏi phân tích vì bảng câu hỏi in sai. Tỉ
lệ câu trả lời sai dưới 1% trong tổng số các câu hỏi.
Phân tích đơn biến cho thấy có sự khác biệt
giữa nhóm bệnh và nhóm chứng về các đặc tính
dòch tễ xã hội (Bảng 1). Các phụ nữ nạo phá thai có
khuynh hướng trẻ hơn nhóm phụ nữ ở nhóm chứng.
Trung vò tuổi của những người nạo phá thai là 22
trong khi đó trung vò tuổi của nhóm chứng là 25.
Những yếu tố khác biệt khác giữa nhóm bệnh và
nhóm chứng bao gồm: tuổi của bạn tình, tuổi của
lần giao hợp đầu tiên, tình trạnh hôn nhân, tình trạng
chung sống với bạn tình, biết về trình độ học vấn
# : p<0.1 ; * : p,<0.05 ; ** : p<0.01
42 Tạp chí Y tế Công cộng, 11.2004, Số 2 (2)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
nhóm thai kỳ không mong muốn và những phụ nữ
khám thai như nhóm thai kỳ mong muốn, kết quả
thu được cũng tương tự như trên ngoại trừ kiến thức
về hậu quả của nạo phá thai khác biệt có ý nghóa
thống kê.
Trong phân tích mô tả về tiền sử sản khoa, kết
quả ghi nhận rằng 41,4% những người nạo phá thai
chưa bao giờ sử dụng các biện pháp ngừa thai (bảng
4). Lý do không sử dụng là vì thiếu kiến thức về các
biện pháp tránh thai chiếm 42,8% các trường hợp.
Ngay cả ở những người nạo phá thai đã từng sử
dụng các biện pháp ngừa thai thì tỉ lệ sử dụng thuốc
ngừa thai, bao cao su và thuốc ngừa thai cấp cứu chỉ
là 22%, 20% và 14%, và tỉ lệ những người sử dụng
các biện pháp ngừa thai không chắc chắn truyền
thống như ngừa thai theo chu kỳ kinh 24% và xuất
tinh ngoài âm đạo 14%. Ngoài ra, 54% những người
nạo phá thai chưa bao giờ thảo luận với người khác
về kế họach hóa gia đình, chỉ có 24,1% những
người nạo phá thai có thảo luận với chồng hay bạn
tình.
Thảo luận
Nghiên cứu của chúng tôi tập trung trên các
phụ nữ có thai lần đầu đến bệnh viện. Số liệu thu
thập tại Bệnh viện Từ Dũ và phòng khám Trường
Nữ hộ sinh. Từ Dũ được xem là Bệnh viện sản phụ
khoa lớn nhất trong thành phố đông dân cư nhất
đó. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu tại
Ý đã đònh yếu tố loại trừ cho nhóm chứng là "không
có nạo phá thai trong vòng 3 tháng gần đây". Tuy
nhiên, các yếu tố thêm vào này có thể gây ra sự
mất cân đối giữa số lượng nhóm bệnh và nhóm
chứng. Trong nghiên cứu của chúng tôi, để tránh
sai số do lầm lẫn trong phân nhóm, chúng tôi chỉ
tập trung vào các đối tượng mang thai lần đầu.
Như kết quả nghiên cứu khác ở nước ngoài,
chúng tôi cũng tìm thấy các phụ nữ độc thân và trẻ
tuổi có nhiều nguy cơ nạo phá thai hơn. Tuy nhiên,
theo như chúng tôi biết, không có một nghiên cứu
nào tại Việt Nam chứng minh rõ ràng, và theo
Goodkind thì tỉ lệ nạo phá thai cao xảy ra ở những
phụ nữ có gia đình ở lứa tuổi đỉnh điểm của hoạt
động tình dục.
# : p<0.1 ; * : p,<0.05 ; ** : p<0.01
Bảng 3: Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến phá thai
Biến
Tỉ suất chênh
Khoảng tin cậy
Tuổi
0.84
0.75 – 0.94 **
Tình trạng hôn nhân (có gia đình)
0.05
0.01 – 0.23 **
Thông tin về KHHGĐ từ TV (không)
2.28
1.05 – 4.93 *
thực hiện phỏng vấn thành 2 nhóm khác nhau, một
nhóm thu thập số liệu cho nhóm bệnh và một nhóm
thu thập số liệu cho nhóm chứng, và quá trình phân
tích số liệu chỉ thực hiện sau khi đã hoàn tất quá
trình thu thập số liệu.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi góp phần
cung cấp nhiều thông tin hơn cho giới chức trách
thành phố cũng như các nhà chuyên môn về các
yếu tố có liên quan đến nạo phá thai tại thành phố
Hồ Chí Minh. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn gợi
ý rằng các biện pháp tránh thai hiệu quả nên được
phổ biến rộng rãi trong thanh niên, cả nam lẫn nữ,
cũng như cần phải cung cấp kiến thức về hậu quả
của việc nạo phá thai cho thanh niên. Tất cả các
thông tin này có thể được cung cấp qua các chương
trình truyền hình hấp dẫn và dàn dựng công phu.
Kết luận
Nạo phá thai là một biện pháp dùng để chấm
dứt thai kỳ không mong muốn. Mặc dù nạo phá thai
góp phần giảm tỉ lệ gia tăng dân số trong xã hội
nhưng nạo phá thai cũng gây ra những biến chứng
tức thời và lâu dài ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ
về thể chất lẫn tinh thần của người phụ nữ. Nghiên
cứu các yếu tố liên quan đến tình hình nạo phá thai
không chỉ cung cấp cho các nhà chuyên môn cũng
như các ban ngành có liên quan cái nhìn bao quát
hơn về tình hình nạo phá thai trong thành phố.
Đồng thời, góp phần cung cấp thông tin cụ thể cho
công tác xây dựng các chiến lược về kế hoạch hóa
gia đình cho thành phố nói riêng và cho quốc gia
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tác giả: Ths.BS. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang hiện đang là
giảng viên Bộ môn Phụ sản - Đại học Y dược Thành phố
Hồ Chí Minh. Đòa chỉ: 217 Hồng Bàng - Thành Phố Hồ Chí
Minh; E-mail:
Tài liệu tham khảo
1. Henshaw SK; Singh S; Hass T. Recent trends in abortion
rates worldwide. International family planning perspec-
tives. 1999; 25(1): 44-8
2. Anonymous. Vietnam's abortion rate remain high.
Population headliners 1998; 265:3.
3. Anonymous. Vietnam's abortion rate rises "baby
boomers" come of age. Cable News network Feb6,1999.
4. Belanger D và Khuất Thu Hồng. Nạo phá thai ở các phụ
nữ trẻ, độc thân tại Hà nội, Việt nam. Tạp chí dân số châu
Á -Thái Bình Dương 1996; 13(2): 179-85
5. Belanger D và Khuất Thu Hồng. Kinh nghiệm quan hệ
tình dục ở những phụ nữ độc thân và tình trạng nạo phá thai
tại Hà Nội, Việt Nam. Các vấn đề về sức khoẻ sinh sản
1999; 7(14): 71-82.
6. Goodkind D. Abortion in Vietnam: measurement, puzzle,
and concerns. Studies in family planning. 1994; 25(6Pt1):
342-52
7. Fort A, Ankomah, Aloo-Abunga C, and Otieno M. Socio-
cultural determinants of abortion in developing countries:
Kenyan chapter. 1994 Feb.21
8. Houghton A. Women who have abortions, are they dif-
ferent? Journal of Public Medicine. B1994; 16(3): 296-304
9. Efroymson D. Vietnam faces modern sexuality problems
with inadequated knowledge and solutions. Siecus reprot