Luận văn Thạc sĩ Đánh giá sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ tiền gửi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trên địa bàn TPHCM - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ BÍCH TUYỀN
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI
VỚI DỊCH VỤ TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ BÍCH TUYỀN ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3
CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TRẠNG VỀ NGUỒN TIỀN GỬI
CỦA KHCN TẠI CÁC NHTM VN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
1.1 Nguồn tiền gửi trong NHTM 5
1.1.1 Khái quát chung về nguồn tiền gửi trong NHTM 5
1.1.2 Phân loại tiền gửi trong NHTM 9
1.2 Chất lượng dịch vụ 17

1.3 Sự hài lòng của khách hàng 20

3.1.2 Phân tích độ tin cậy của thang đo 48
3.1.3 Phân tích nhân tố khám phá theo kết quả khảo sát 51
3.1.4 Phân tích hồi quy 54
3.2 Kết quả nghiên cứu 58
3.2.1 Giải thích phương trình hồi quy 58
3.2.2 Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng 60
3.2.3 Đo lường sự hài lòng của khách hàng 60
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 61
4.1 Một số đề xuất nâng cao sự hài lòng của KHCN đối với dịch vụ tiền gửi tại
các NHTM VN trên địa bàn TP.HCM 61
4.1.1 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ để mang lại giá trị cho KH 61
4.1.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả phục vụ của NHTM khu vực TP.HCM 62
4.1.3 Giải pháp về sự cảm thông 64
4.1.4 Đảm bảo tính cạnh tranh về lãi suất 65
4.1.5 Củng cố hình ảnh đẹp của NH trong lòng khách hàng 66

4.2 Một số kiến nghị của tác giả 67
4.2.1 Đối với NHNN 67
4.2.2 Đối với NHTM 70
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Quy mô nguồn vốn tiền gửi của KHCN tại các NHTM Việt Nam trên địa
bàn TP.HCM 26
Bảng 1.2 Mối quan hệ giữa mô hình gốc và mô hình hiệu chỉnh 31

để có thể đứng vững và phát triển.
Trong các hoạt động ngân hàng, dịch vụ tiền gửi là một trong những hoạt động
quan trọng nhất của ngân hàng vì nó tạo ra nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng. Bên
cạnh đó, với bản chất là một dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ tiền
gửi sẽ giúp ích cho việc tạo dựng khách hàng trung thành, vốn rất cần thiết để duy trì
hoạt động thường xuyên của bất cứ ngân hàng nào. Từ sự hài lòng của mình đối với
sản phẩm hay dịch vụ của ngân hàng sẽ dẫn tới lòng trung thành của khách hàng đối
với ngân hàng. Số lượng khách hàng trung thành càng lớn sẽ giúp cho ngân hàng nâng
cao uy tín và tăng sức mạnh cạnh tranh với đối thủ trên thị trường.
Do đó, vấn đề đặt ra là các ngân hàng phải làm gì và làm thế nào để dịch vụ
tiền gửi đạt hiệu quả cao góp phần đáp ứng được nhu cầu về vốn huy động cho ngân
hàng, gây dựng niềm tin nơi khách hàng, đồng thời tạo ra lượng khách hàng trung
thành và góp phần nâng cao thương hiệu, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Qua quá
trình tìm hiểu và nhận định thực tế, tác giả nhận thấy việc nâng cao chất lượng của
dịch vụ tiền gửi để đạt được sự hài lòng của các khách hàng là một vấn đề quan trọng
mà hệ thống ngân hàng thương mại cần quan tâm và hoàn thiện hơn nữa trong thời
gian tới. Đề tài: “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ tiền
gửi tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam, trên địa bàn TP.HCM” được thực hiện
nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ tiền gửi cho các NHTM VN .

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
 Tìm hiểu về dịch vụ tiền gửi tại các NHTM.
 Xây dựng thang đo đánh giá sự hài lòng của KHCN về dịch vụ tiền gửi tại các
NHTM VN, trên địa bàn TP.HCM.
 Dựa trên việc phân tích đánh giá sự hài lòng của KHCN về dịch vụ tiền gửi để
đề xuất một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tiền gửi
tại các NHTM VN, trên địa bàn TP.HCM.

hành ngay khi bảng câu hỏi được chỉnh sửa từ kết quả nghiên cứu sơ bộ (xem thêm
Phụ lục 1), nghiên cứu này nhằm thu thập, phân tích dữ liệu khảo sát, cũng như ước
lượng và kiểm định mô hình nghiên cứu.
Bảng câu hỏi do đối tượng tự trả lời là công cụ chính để thu thập dữ liệu. Đối
tượng và phạm vi nghiên cứu là những khách hàng cá nhân đang sử dụng dịch vụ tiền
gửi thuộc các NHTM (Techcombank, ACB, Eximbank, Vietinbank, Vietcombank …)
trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh, khu vực cạnh tranh gay gắt nhất hiện nay trên
cả nước về dịch vụ này. Do hạn chế về kinh phí nên đề tài sử dụng phương pháp chọn
mẫu phân tầng với kích cỡ mẫu nghiên cứu khoảng 495 khách hàng sử dụng dịch vụ
(xem mẫu nghiên cứu được phân tích trong Chương 2).
Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Sự hài lòng của khách hàng là yếu tố sống còn của ngân hàng, muốn tồn tại và
phát triển thì các ngân hàng thương mại bắt buộc phải không ngừng nâng cao mức độ
hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ hay sản phẩm mà ngân hàng cung
4 cấp. Chất lượng này phải được đánh giá bởi chính khách hàng chứ không phải thuần
túy bởi ngân hàng. Muốn vậy ngân hàng phải thường xuyên đo lường mức độ hài lòng
của khách hàng cũng như lý do mà khách hàng chọn giao dịch tại ngân hàng mình. Vì
thế, thang đo về Sự hài lòng của khách hàng sẽ giúp các ngân hàng thương mại xác
định các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của khách hàng một cách đầy đủ và
chính xác hơn. Từ đó ngân hàng sẽ có những cách cải thiện thích hợp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của ngân hàng và giúp cho khách hàng luôn cảm thấy hài lòng mỗi
khi tìm đến ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở phục vụ cho việc triển khai các sản phẩm, và dịch
vụ mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng.Với việc phân tích các yếu tố liên quan đến
mức độ hài lòng của khách hàng, các NHTM sẽ hiểu rõ hơn về nhu cầu của khách hàng
cá nhân trên địa bàn TP. HCM phục vụ cho công tác nâng cao chất lượng của dịch vụ
tiền gửi của ngân hàng.

hiện là lưu giữ bảo đảm các vật có giá (như tài sản bằng vàng, bạc) bởi vì trong giai đoạn
này công chúng rất lo ngại về tình trạng mất mát tài sản do an ninh hoặc chiến tranh.
Những nhà buôn cảm thấy an toàn khi để tài sản của họ ở ngân hàng hơn là mang theo bên
mình trên những chuyến đi trên biển. Người chủ bảo quản phải đảm bảo trả lại chính
những đồng tiền mà họ được chuyển giao để bảo quản. Tất nhiên trong những điều kiện
như vậy, người bảo quản không thể tiến hành các nghiệp vụ cho vay những đồng tiền nhân
bảo quản đó, và không thể thu lợi nhuận để có thể trả lợi tức cho người gửi tiền. Dần dần
xã hội phát triển đã tạo điều kiện mà người gửi tiền không yêu cầu phải trả lại chính những
đồng tiền mà họ gửi, mà chỉ yêu cầu trả lại tổng số tiền mà họ gửi. Thời hạn bảo quản cũng
kéo dài thêm. Chỉ khi đó mới xuất hiện khả năng sử dụng số tiền vay mượn đó để cấp tín
dụng thu lợi tức và trả lãi cho người gửi tiền. Nếu như trước đó việc cấp tín dụng dựa vào
vốn tự có, thì bây giờ còn có thể sử dụng vốn vay mượn, đồng thời phải chú ý tới những
điều kiện gửi tiền.Thông thường người ta xem tiền gửi là các số tiền do khách hàng gửi
vào và để lại trong tài khoản của họ tại ngân hàng. Hiểu như thế chưa trọn nghĩa :
 Đối với người gửi tiền, ý nghĩa tiền gửi phụ thuộc vào mục đích gửi của họ. Có thể
dễ dàng nhận ra hai trường hợp sau: Thứ nhất là khách hàng mở tài khoản để hưởng các lợi
ích từ các công cụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho họ. Thứ hai là khách hàng gửi
tiền vào để hưởng lãi như gửi vào tài khoản tiết kiệm hoặc tài khoản định kì. Nhưng đổi
lại, họ không thể sử dụng các công cụ thanh toán của ngân hàng như séc chng hạn.
6  Đối với ngân hàng, cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng
đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan
trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng – một qu sinh lợi được gửi tại ngân
hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức
lãi suất tương đối cao. Như vậy các loại tiền gửi đã tạo thành nguồn vốn cung cấp cho các
nghiệp vụ sinh lợi trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với NHTM, có hai
nguồn tiền gửi chủ yếu là : tiền gửi của doanh nhân và tiền gửi của dân cư.
Qua những điều trình bày ở trên, người ta nhận thấy có khó khăn trong việc định

thuần là một hợp đồng dịch vụ gửi giữ tài sản, theo đó NH đóng vai trò là bên nhận gửi giữ
để được nhận thù lao. Về sau, do nhu cầu khách quan của hoạt động kinh tế, giữa NH và
khách hàng có thêm thoả thuận NH có thể sử dụng chính số tiền này để đầu tư nhằm mục
đích sinh lợi, với điều kiện là phải hoàn trả cho người sử dụng tòan bộ số vốn đã sử dụng
kèm theo một khoản tiền lãi nhất định tuỳ thuộc vào thời gian mà NH giữ khoản tiền đó.
Giao dịch nhận tiền gửi đã được nhìn nhận là hành vi vay tiền từ công chúng với cam kết
đảm bảo an toàn cho số tiền gửi đó cùng với nghĩa vụ hoàn trả cả lãi và gốc. Việc NH giữ
các khoản tiền gửi này cho khách hàng không đơn thuần là một nghiệp vụ giữ hộ tài sản
hay quản lý tài sản cho khách hàng để nhận thù lao (như giai đoạn khởi thuỷ) mà quan
trọng hơn nó là nghiệp vụ huy động vốn - nghiệp vụ đi vay của NHTM từ nền kinh tế. Do
đó khi người gửi tiền yêu cầu thanh toán thì NH buộc phải thực hiện nghĩa vụ như đã cam
kết trong hợp đồng.
Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác.Thông thường chiếm hơn 50%
tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng.“Tiền gửi là nền tảng
cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng. Đây là khoản mục duy nhất trên Bảng
cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi là
cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự
phát triển trong ngân hàng.
Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc. Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao
hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này.
Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ
ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong những công cụ
8 của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số
nhân tiền tệ. Chính vì thế nên chi phí tiền gửi cao hơn trả lãi cho tiền gửi. Khi huy động
tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm
bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại. Hiện nay, hầu hết
các nhà quản lý ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong việc

bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại. Khả năng huy
động tiền gửi với mức lãi suất hợp lý còn là những chỉ số quan trọng đánh giá tính hiệu
quả trong quản lý ngân hàng. Ngoài ra Ngân hàng còn thu được một khoản lệ phí nhất
định.
1.1.2 Phân loại tiền gửi trong Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Tiền gửi phi giao dịch
Tiền gửi có kì hạn
Các tài khoản này chủ yếu được tượng trưng bằng chứng chỉ tiền gửi (certificates of
deposits – CDs) và được ghi rõ cả thời gian đến hạn và số lượng. Việc rút tiền trước sẽ bị
phạt tiền và có thể vượt quá tiền lãi được hưởng, tính đến ngày rút tiền.
Là loại tiền gửi được ủy thác vào ngân hàng mà có sự thỏa thuận về thời gian rút
tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy, về nguyên tắc, khách hàng gửi tiền chỉ được
rút tiền ra, khi đến hạn đã thỏa thuận. Thực ra, các loại tiền gửi định kỳ này không phải là
những tiền gửi theo nghĩa của pháp lý, mà nó có dạng như một khoản tiền vay của ngân
hàng nhưng không thể hiện bằng một phiếu khoán. Nó là một ngoại lệ của quy tắc khả
dụng, bởi vì ngân hàng chỉ phải hoàn lại số tiền tiền gửi vào ngày đáo hạn ghi trên hợp
đồng. Tiền gửi có kỳ hạn có những đặc điểm sau:
Tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cố định. Tuy nhiên, giữa các loại tiền gửi có
kỳ hạn khác nhau lãi suất được trả sẽ khác nhau. Tiền gửi có kỳ hạn với thời gian càng lâu,
lãi suất sẽ càng lớn bởi vì ngân hàng hoàn toàn có thể dùng tiền gửi này đem đầu tư vào
những dịch vụ hoặc sản xuất có tính lâu dài hơn, lợi tức cao và ổn định hơn; Lãi suất mà
ngân hàng trả cho tiền gửi có kỳ hạn thường là cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn.
Lý do ở đây là, ngân hàng hoàn toàn yên tâm sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay
với thời hạn ổn định và sẽ kiếm được nhiều ợi nhuận hơn. Vì thế tiền thù lao nó trả cho
khách hàng cũng phải cao hơn để kích thích sự gửi tiền nhiều nữa.
10 Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, những người giàu có và các doanh nghiệp được
cung cấp tài khoản gửi kì hạn xác định ( thường kéo dài 30,60,90 hay 180 ngày). Gần đây,

Tiền gửi có kỳ hạn thường dưới các dạng:
a) Các chứng chỉ tiền gửi (Certificate of depoits – CD).
b) Chứng thư tiết kiệm (savings certificates).
c) Trái phiếu tiết kiệm
d) Ngoài ra còn có : Tài khoản hưu trí cá nhân ( Individual Retirement Account _
IRA ra đời 1986) và tiền gửi hưu trí có tên “Keogh plan” ra đời năm 1962. Ưu điểm mạnh
nhất của loại tài khoản này đối với ngân hàng là tính ổn định cao, ngân hàng có thể nhận
được những khoản vốn có kì hạn kéo dài vài năm.
Tiền gửi tiết kiệm
Được lập ra để thu hút vốn của những người muốn dành riêng một khoản tiền cho
những mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Lãi suất áp
dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch. Trong khi chi phí trả lãi
cao, chi phí duy trì và quản lý đối với tài khoản tiết kiệm nói chung thấp.
Một khoản ký thác dưới hình thức tiết kiệm rất đa dạng và phổ biến trong nền
kinh tế được NHTM huy động là các khoản tiền tiết kiệm trong xã hội, loại ký thác này có
dặc điểm: người gửi tham gia gửi tiền vào ngân hàng rất dông, nhưng số tiền gửi từng lần
thường ít, về số lượng tuyệt đối lại rất lớn, chiếm tỷ trọng rất quan trọng trong cơ cấu vốn
ký thác huy động được. Thông thường có 2 loại : Có kì hạn và không có kì hạn. Hình thức
chủ yếu gồm :
a) Tiết kiệm lập sổ ( pass-book savings) : được cung cấp cho khách hàng là gia
đình với giá trị nhỏ ( số dư mở tài khoản tiết kiệm tối thiểu là 5 USD) và có đặc quyền rút
vốn không bị hạn chế. Mặc dù theo luật, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng thông báo
trước về những lệnh rút tiền từ tài khoản tiết kiệm thấp và đồng tiền gửi loại này nói chung
có xu hướng ổn định, ít nhạy cảm với những thay đổi trong lãi suất. Doanh nghiệp, cá
nhân, các tổ chức phi lợi nhuận và các cơ quan Chính phủ cũng có thể sử dụng tài khoản
tiết kiệm nhưng giới hạn quy mô tiền gửi tối đa là 150.000 USD.
12 b) Tiết kiệm thông báo ( statement savings deposits ): trong đó thông qua việc

hưởng lãi khác.
Tiền gửi giao dịch hưởng lãi (chủ yếu là các loại tiền gửi không kì hạn)
Là các loại tiền gửi hoàn toàn theo quy tắc khả dụng, nghĩa là người gửi có quyền rút
tiền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Ngân hàng sẽ sắp xếp loại tiền gửi này vào nhóm tiền gửi
không kỳ hạn, nghĩa là các khoản gửi với thời gian không xác định. Người vừa mới gửi
tiền vào sáng nay, nếu cần anh ta có thể rút ra ngay vào buổi chiều cùng ngày. Nếu không
có nhu cầu sử dụng, anh ta có thể một thời gian sau mới rút ra. Tính bất định về thời gian
gửi, cùng với địa điểm có thể rút ra bất cư lúc nào đã làm cho loại tiền gửi này có tên gọi
theo tiếng Anh là tiền gửi theo yêu cầu.Tiền gửi không kỳ hạn vào mỗi thời điểm trong các
tài khoản không kỳ hạn của các NHTM tạo khả năng có thể viết séc để chi tiền hoặc
chuyển nhượng khi cần. Vì vậy, tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền trong tài khoản
séc (checking accounts). Khách hàng không có ý định để dành và cũng không chú trọng
đến tiền lãi. Khách hàng chỉ muốn đổi hình thức tiền tệ này bằng một hình thức tiền tệ
khác và thích thanh toán bằng séc hơn là bằng tiền mặt. Khả năng tiện lợi của tiền gửi
không kỳ hạn trong thanh toán phụ thuộc vào tổ chức và hoạt động của NHTM đã phát
hành ra nó. Nếu gửi tiền vào tài khoản này ở một NHTM có chi nhánh ở khắp nơi trên lãnh
thổ kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh nhất, thì séc do chủ tài khoản viết ra có hiệu lực
thanh toán và được chấp nhận nhanh chng kém gì tiền mặt. Đó là lý do để tiền gửi không
kỳ hạn được xem là loại hình gần tiền mặt nhất trong tất cả các loại tiền của NHTM. Khả
năng chuyển đổi từ nó sang tiền mặt là nhanh nhất vào bất cứ lúc nào và vì thế ở các nước
phát triển, người ta xem nó như là một loại tiền mạnh. Tuy nhiên, nếu ngân hàng mà chúng
ta gửi tiền vào có quá ít chi nhánh hoặc không quan hệ tốt với các ngân hàng khác, séc của
nó do chúng ta viết ra được chấp nhận trong thanh toán ở vùng này, nhưng chưa chắc đã
được chấp nhận ở các vùng khác. Có lẽ vì lý do này mà ở các nước mới phát triển, tiền séc
vẫn chưa được xem là tiền mạnh.
Tiền gửi loại này có thể phát xuất từ khách hàng là một thương nhân hay từ một
công dân bình thường. Việc phân biệt giữa các tài khoản vãng lai (current account) mở
14

giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi nhuận (nonprofit institutions). Khi NOW được chấp
nhận trên toàn nước M, chính phủ M cho phép ngân hàng thực hiện nghiệp vụ chuyển
vốn tự động, trong đó khách hàng uỷ quyền trước (preauthorize) cho ngân hàng trong việc
chuyển vốn từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản séc đền bù đắp thấu chi (overdraft). Kết
quả cuối cùng là khách hàng hưởng lãi trên tài khoản giao dịch tương đương với lãi thu
được từ tài khoản tiền tiết kiệm.
f) Tài khoản MMDA và tài khoản Super NOW : Việc thông qua đạo luật về các tổ
chức nhận tiền gửi Garn-St Germain năm 1982, hai loại hình tài khoản giao dịch hưởng lãi
quan trọng đã ra đời. Ngân hàng và các tổ chức tiết kiệm phi ngân hàng có thể đưa ra một
loại hình tiền gửi mới để cạnh tranh với tài khoản đầu tư chứng khoán có lãi suất cao hơn,
được cung cấp bởi các qu trên thị trường tiền tệ và được bảo đảm bằng khoản danh mục
đầu tư chứng khoán có chất lượng cao. Kết quả là đưa tới sự ra đời của tài khoản tiền gửi
trên thị trường tiền tệ (MMDA) và tài khoản Super NOW.
MMDA là tài khoản tiền gửi thời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần hay vài
tháng và Ngân hàng có thể trả lãi suất ở mức đủ lớn để thu hút và nắm giữ tiền gửi của
khách hàng. Có tới sáu hối phiếu uỷ quyền trước được phép thực hiện trong một tháng
nhưng số lượng séc phát hành chỉ được giới hạn là 3 lần. Đối với lệnh rút tiền cá nhân thì
không có hạn chế (mặc dù ngân hàng có quyền đặt mức tối đa cho quy mô tiền rút và cho
số lượng lệnh rút tiền cá nhân). Không như NOW, MMDA có thể được nắm giữ bởi cả
doanh nghiệp và cá nhân.
Super NOW (SNOW) ra đời gần như cùng thời gian với MMDA. nhưng tài khoản
này chỉ có thể được nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi nhuận. Không có quy định
nào hạn chế số lượng séc người gửi tiền có thể phát hành. Tuy nhiên, Ngân hàng áp dụng
một mức lãi đối với SNOW thấp hơn cả với MMDA bởi vì SNOW có thể được phát séc
thường xuyên hơn. Do dó, các nhà quản lý trung ương xếp MMDA vào nhóm tiền gửi tiết
kiệm. Tuy vậy, chúng ta xếp tài khoản loại này vào phần tài khoản giao dịch vì chúng có
đặc quyền phát séc (theo quản trị ngân hàng thương mại của Peter S.Rose)
g) Tiền gửi đặc biệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status