BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Họ và tên học viên: SOM NARIN TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở CAMPUCHIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO
Nhận xét của Người hướng dẫn khoa học
(tối đa 1 trang A4)
1. Họ và tên học viên: SOM NARIN Khóa: 19
2. Mã ngành: 60.34.02.01
3. Đề tài nghiên cứu: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
ở Campuchia.
4. Họ tên Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT
5. Nhận xét: (Kết cấu luận văn, phương pháp nghiên cứu, những nội dung (đóng góp)
của đề tài nghiên cứu, thái độ làm việc của học viên)
………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
6. Kết luận: ……………………………………………………………………………
7. Đánh giá: (điểm / 10).
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tác giả xin gửi lời chân thành cảm ơn đến giáo
viên hướng dẫn khoa học PGS.TS. PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT
về những ý kiến đóng góp, những hướng dẫn chỉ bảo rất có giá trị
giúp tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong khoa Tài
chính doanh nghiệp, gia đình và bạn đã hết lòng ủng hộ và động
Danh mục chữ viết tắt:
- NBC: Ngân hàng nhà nước Campuchia (National Bank of Cambodia)
- ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Development Bank)
- WB: Ngân hàng thế giới (World Bank)
- IMF: Quỹ tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund)
- MOC: Bộ thương mại Campuchia (Ministry of Commerce)
- MOEF: Bộ kinh tế - tài chính (Ministry of Economic and Finance)
- MOP: Bộ kế hoạch (Ministry of Planning)
- NIS: Viện thống kê quốc gia (National Institute of Statistics)
- WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
- UNCTAD: United Nations Conference on Trade and Development
- MNCs: Công ty đa quốc gia (Multinational Companies)
- ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of South-East
Asian Nations)
- CDC: Hội đồng phát triển Campuchia (Council for Development of
Cambodia)
- ILO: Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization)
- ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Association)
- ADF: Kiểm định Augmented Dickey-Fuller
- LS: Phương pháp bình phương nhỏ nhất (Least Squares)
- GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
- FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
- L: Lực lượng lao động (Labour force)
- K: Đầu tư trong nước (Gross domestic capital formation)
- INF: Lạm phát (Inflation)
Tóm tắt …………………………………………………………………… … 1
Chương I. Giới thiệu chung 2
Chương II. Tổng quan các nghiên cứu trước đây 6
2.1. Giới thiệu…………………… ….…………………………………. 6
2.2. Sự tác động trực tiếp của FDI ……………………………….…… 11
2.3. Sự tác động gián tiếp của FDI ……………………………….……. 12
Chương III. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu 14
3.1. Khung lý thuyết của bài nghiên cứu 14
3.2. Phương pháp nghiên cứu………………… ………………………. 16
3.2.1. Kiểm định nghiệm đơn vị …………………………… 16
3.2.2. Kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy… … 17
3.2.3. Kiểm định tự tương quan………………………… …… 18
3.2.4. Kiểm định phương sai sai số thay đổi…………………… 18
3.2.5. Kiểm định bỏ sót biến giải thích………………………… 19
3.2.6. Kiểm định phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên……… 19
3.2.7. Kiểm tra đa cộng tuyến……………………….… ……… 20
3.3. Mô tả dữ liệu…………………………………………….………… 20
Chương IV. Phân tích thực nghiệm và kết quả nghiên cứu 25
4.1. Kiểm định tính dừng bằng phương pháp ADF 25
4.2. Kiểm định Wald…………………………………………………… 26
4.3. Kiểm định Breusch-Godfrey………………….…………………… 28
4.4. Kiểm định White…………………………………….…………… 29
4.5. Kiểm định Ramsey………………………………………………… 30
4.6. Kiểm định Jarque-Bera…………………………… ……………… 31
4.7. Kiểm tra Theil………………………… …………………………. 31
4.8. Ma trận tương quan giữa các biến………………………… …… 31
Chương V. Kết luận 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc
nội.
2
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Hiện nay, toàn cầu hóa vốn nước ngoài, đặc biệt là dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) đã tăng đáng kể ở các nước đang phát triển, bởi FDI là
một thành phần ổn định và phổ biến nhất của dòng vốn nước ngoài. Tầm quan
trọng của FDI đã thể hiện từ vai trò của các công ty đa quốc gia trong việc tạo ra
những ngoại tác tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua các nguồn lực tài
chính, tạo việc làm, chuyển giao công nghệ tiên tiến, nâng cao kỹ năng quản lý
và tổ chức doanh nghiệp, và tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong nước. FDI thường được xem như là một chất xúc tác quan trọng
cho sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Nó ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế của nước sở tại bằng cách kích thích đầu tư trong nước, tăng
cường nguồn nhân lực và tạo điều kiện chuyển giao công nghệ. Đầu tư trực tiếp
nước ngoài không chỉ bổ sung cho vấn đề thiếu hụt vốn ngắn hạn mà còn đóng
vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển bằng
cách tạo ra nhiều lợi ích hơn cho nền kinh tế của nước sở tại. Theo báo cáo
UNCTAD (2012) cho rằng dòng vốn FDI có khả năng tạo ra việc làm, tăng năng
suất, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy xuất khẩu và tiếp tục tăng trưởng kinh tế
lâu dài và sự phát triển của các nước đang phát triển.
Campuchia là một trong những nước đang phát triển và dòng vốn nước
ngoài vào đất nước này đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển
nền kinh tế xã hội. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) đã đóng góp tích cực tăng trưởng kinh tế Campuchia trong những
năm gần đây. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong những năm gần đây tổng
sản phẩm quốc nội GDP của Campuchia đạt con số trung bình 7%/năm, lạm phát
trung bình là 5%/năm . Theo Hội đồng phát triển Campuchia (CDC) cho biết từ
năm 1994 đến 2011, Campuchia đã thu hút các dự án của các nhà đầu tư trong và
FDI có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tất cả các linh vực kinh tế, văn hóa
và xã hội. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước nghèo,
4
kỳ vọng lớn nhất của việc thu hút FDI chủ yếu là nhằm mục tiêu tăng trưởng
kinh tế. Sự kỳ vọng này dường như được thể hiện trong tư tưởng của các nhà
kinh tế và các nhà hoạch định chính sách với ba lý do chính: Một là, FDI góp
phần vào tăng thặng dư của tài khoản vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán
nói chung và ổn định kinh tế vĩ mô. Hai là, các nước đang phát triển thường có
tỷ lệ tích lũy vốn thấp và vì vậy, FDI đuợc coi là một nguồn vốn quan trọng để
bổ sung vốn đầu tư trong nước nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Ba là, FDI tạo
cơ hội cho các nước nghèo tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn, dễ dàng chuyển giao
công nghệ hơn, thúc đẩy quá trình phổ biến kiến thức, nâng cao kỹ năng quản lý
và trình độ lao động v.v. Tác động này được xem là các tác động tràn về năng
suất của FDI, góp phần làm tăng năng suất của các doanh nghiệp trong nước và
cuối cùng là đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nói chung. Trên thực tế không
phải nước nào cũng đạt được cùng một lúc hai mục tiêu này. Một số nước thu
hút được dòng vốn FDI khá lớn nhưng tác động tràn hầu nhu không xảy ra. Ở
một tình thế khác, vốn FDI đổ vào một nước có thể làm tăng vốn đầu tư cho nền
kinh tế nhưng đóng góp của nguồn vốn này vào tăng truởng là thấp. Cả hai
trường hợp trên đều được coi là không thành công với chính sách thu hút FDI
hay chưa tận dụng triệt để và lãng phí nguồn lực này dưới góc độ tăng trưởng
kinh tế. Thực trạng này khiến cho các nhà kinh tế ngày càng quan tâm nhiều hơn
tới việc đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là của các
nước đang phát triển, thông qua hai kênh tác dộng đề cập ở trên.
Với những lý do trên cũng như qua các bài nghiên cứu trước đây, mục
tiêu của luận văn này nghiên cứu về sự tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế
Campuchia trong những năm qua và sẽ đo lường sự tác động của nó.
Đối tượng nghiên cứu là đầu tư trực tiếp nước ngoài và phạm vi nghiên
cứu là quốc gia Campuchia trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2012.
quốc gia thông qua FDI áp dụng cách tiếp cận tổ chức công nghiệp cho lý thuyết
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nước ngoài. Các công ty sở hữu và
kiểm soát các cơ sở giá trị gia tăng nước ngoài, thì họ phải có một số lợi thế sở
hữu, đó là sự thuận lợi đặc biệt cho họ để có thể có cơ hội đầu tư ra nước ngoài.
Việc sở hữu như vậy là lợi thế đặc biệt cho công ty nước ngoài đủ để bù đắp
nhiều hơn cho những bất lợi khi cạnh tranh với các công ty nội địa mà là quen
thuộc với tình hình địa phương hơn và không bị cái gọi là “trách nhiệm của
người ngoại quốc” (Ludo Cuyvers, 2008).
Từ những năm 1980, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã phát
triển mạnh ở hầu hết các nước đang phát triển. Điều này là do nhiều nước đang
phát triển đã thực hiện chính sách mở rộng nhằm giảm các rào cản FDI và cung
cấp các ưu đãi về thuế và các khoản trợ cấp để thu hút nó. Lý thuyết chung là
dòng vốn FDI tăng cường và thể hiện sự tăng trưởng kinh tế ở nước sở tại. Vì
vậy, nghiên cứu này tập trung vào việc nhận ra sự ảnh hưởng của FDI và đầu tư
trong nước đến tăng trưởng kinh tế ở nước sở tại, và làm thế nào đo lường mức
độ ảnh hưởng của các biến đến khả năng thu hút dòng vốn FDI của nước sở tại.
Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ đánh giá tác động của FDI trên DI và tăng trưởng
kinh tế. Điều này sẽ được thực hiện bằng cách tập trung vào lý thuyết tăng
trưởng kinh tế hiện nay và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. Họ sẽ cung
cấp lời giải thích cho việc các kênh của dòng vốn FDI ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế ở nước sở tại (Elboiashi, 2011).
Lý thuyết sự tăng trưởng nền kinh tế cho thấy sự đóng góp của FDI vào
tăng trưởng kinh tế là sự đóp góp mạnh mẽ để tích lũy vốn, cũng như dòng vốn
nước ngoài khác, nó có vai trò giống như là một phương tiện để chuyển giao
kiến thức, công nghệ tiên tiến và kỹ năng quản lý doanh nghiệp. Những yếu tố
này được dự kiến sẽ tăng cường mức năng suất và tiến bộ công nghệ, dẫn đến
tăng trưởng kinh tế cao hơn (Elboiashi, 2011).
7
Một số bài nghiên cứu về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở các
ra, nghiên cứu cũng đưa ra bằng chứng cho rằng FDI là nguồn vốn bổ sung cho
vốn trong nước chứ không phải là nguồn vốn thay thế hoàn toàn vốn trong nước.
Kết luận này cho phép bác bỏ tác động lấn át đầu tư của FDI trong tổng thể nền
kinh tế.
- Mahanta Devajit (2012) nghiên cứu về tác động của FDI tới nền kinh tế
Ấn Độ năm 2008-2011. Họ kết luận rằng là một chiến lược đầu tư mà Ấn Độ cần
tiếp cận để đạt mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế bằng tạo việc làm, mở
rộng hoạt động công nghiệp sản xuất, dự án ngắn và dài hạn trong ngành chăm
sóc sức khỏe, giáo dục, nghiên cứu và phát triển.Chính phủ thiết lập các chính
sách theo dòng vốn FDI, khuyến khích đẩy mạnh sản xuất trong nước, tiết kiệm
và xuất khẩu thông qua việc phân phối công bằng giữa các quốc gia bằng cách
cung cấp nhiều tự do cho các quốc gia, để họ có thể thu hút dòng vốn FDI cấp
riêng của họ. FDI có thể giúp nâng cao sản lượng, năng suất và xuất khẩu ở cấp
ngành của nền kinh tế Ấn Độ. Tuy nhiên, nó có thể quan sát kết quả của đầu ra
cấp ngành, năng suất và xuất khẩu ở mức tối thiểu do dòng thấp của FDI vào Ấn
Độ cả ở tầm vĩ mô cũng như ở cấp ngành. Vì vậy để biết thêm mở cửa của nền
kinh tế Ấn Độ, đó là khuyến khích để mở ra các ngành định hướng xuất khẩu và
tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế có thể đạt được thông qua sự phát triển
của các lĩnh vực này.
- Ngov Penghuy (2011) nghiên cứu về mối quan hệ tam giác giữa quản trị
của chính phủ, FDI và tăng trưởng kinh tế qua phân tích các quốc gia và bằng
chứng nước Campuchia trong giai đoạn năm 1986 đến năm 2003. Tác giả phân
tích cả mô hình định tính và mô hình định lượng, trong bài nghiên cứu này tác
giả áp dụng mô hình định tính của Narula và Dunning (năm 2000), họ cho rằng
mối quan hệ tam giác cải cách quản trị của chính phủ, đầu tư trực tiếp nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng cách ước tính rằng chính phủ là nhân
tố tạo điều kiện cho cả đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài, sau đó
9
họ suy ra vốn đầu tư này đóng góp vào nền kinh tế và làm cho xã hội phát triển,
tế khu vực Nam Á, họ kết luận rằng nhân tố thu hụt FDI gồm có vốn con người,
thương mại, cơ sở hạ tầng và vốn đầu tư của nước chủ nhà.
- Beatrice Farkas (2012) nghiên cứu về khả năng thu hút và sự tác động của
FDI đến tăng trưởng kinh tế. Họ chọn dữ liệu đại diện cho 69 quốc gia và bao
gồm biện pháp của FDI và các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế khác trong
khoảng thời gian từ 1975-2000, những yếu tố đó gồm có GDP, tỷ lệ vốn đầu tư,
tỷ lệ thương mại. Họ thấy rằng FDI đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và
rất quan trọng. Kết quả chứng tỏ rằng một mức tối thiểu của nguồn nhân lực và
thị trường tài chính phát triển tốt là rất cần thiết cho tác động lan tỏa tích cực từ
FDI để tồn tại.
- Carlas Pestana Barros, Zhongfei Chen, Bruno Damasio (2013) nghiên cứu
về sự thu hút FDI bằng phân tích nước Châu Á. Ho sử dụng mô hình Panel phân
tích trong khoảng thời gian 2003-2011, cho thấy ảnh hưởng nhân quả của mô
hình này là tích cực và lớn cho các quốc gia nhỏ, nhưng nhỏ và không đáng kể
cho các nước lớn trong một số biến.
- Suon Vichea (2005) nghiên cứu về các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
FDI ở Campuchia. Theo bài nghiên cứu cho thấy 3 yếu tố ảnh hưởng đến FDI,
đó bao gồm yếu tố thị trường, nguồn nhân lực và chính sách của chính phủ.
- Egwaikhide (2012) nghiên cứu về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh
tế của Nigeria trong giai đoạn 1980-2009 bằng phân tích thực nghiệm, sử dụng
phương pháp đồng liên kết của Jonansen. Nghiên cứu cho thấy FDI tác động
không đáng kể đến một số ngành trong nền kinh tế nước này như nông nghiệp,
công nghiệp, viễn thong, xăng dầu và tài nguyên.
2.2. Sự tác động trực tiếp của FDI
Trong những năm gần đây, vốn FDI của các MNCs đang đóng một vai trò
ngày càng quan trọng trong việc tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế ở các nước
11
đang phát triển. Vốn FDI được biết như là một thành phần tập hợp của chứng
khoán vốn, kiến thức và công nghệ (Ludo Cuyvers, 2008). Dòng vốn FDI có thể
2.3. Sự tác động gián tiếp của FDI
Dựa vào nghiên cứu nền kinh tế của các nước đang phát triển đã giải thích
được sự khác biệt về tác động của các doanh nghiệp nước ngoài. Họ cho rằng
FDI tạo ra yếu tố bên ngoài theo hình thức chuyển giao công nghệ (Aitken và
Harrison, 1999). Các quốc gia tiếp nhận công ty đa quốc gia MNCs có thể hiểu
về sự cần thiết của công nghệ mà không thể sản xuất được bởi các công ty trong
nước (Blomstrom và Kokko 1999). Nhìn chung, những lợi ích này bị hạn chế để
tác động lan tỏa. Mặc dù vậy, những lợi thế của FDI không tự động tích lũy vốn
và đồng đều giữa các quốc gia, khu vực và cộng đồng địa phương.
Khi vốn MNCs xâm nhập vào thị trường kinh tế của nước chủ nhà thì nó
đã làm cho phương tiện thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước được
cải thiện hơn (Colen et al. 2008). MNCs có cách quản lý tổ chức, tiếp thị thị
trường quốc tế, phân phối và sản xuất có hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp
trong nước, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. MNCs có thể cung cấp cả
kiến thức và kênh phân phối về điều kiện thị trường quốc tế và tiếp cận với tiếp
thị nước ngoài cho các doanh nghiệp trong nước. Nó cũng thường có quy mô
hoạt động kinh doanh lớn hơn doanh nghiệp trong nước và có thể tài trợ các
khoản chi phí cố định cao để phát triển giao thông vận tải, cở sơ hạ tầng, thông
tin liên lạc, và các dịch vụ tài chính. Đó là những yếu tố rất cần thiết trong việc
khuyến khích hoạt động xuất khẩu (Blomstrom và Kokko 1999).
Cuối cùng, tác động lan tỏa theo chiều dọc (giữa các ngành công nghiệp)
chỉ xảy ra khi MNCs trực tiếp đầu tư sản xuất ở nước ngoài một sản phẩm mới
hoặc sử dụng các đầu vào khác cho quá trình sản xuất của họ tại nước chủ nhà.
Sự xuất hiện của FDI có thể làm ảnh hưởng đến các công ty nội địa từ các lĩnh
vực khác bởi việc áp dụng công nghệ và dịch vụ mới của FDI làm cho công nghệ
nước chủ nhà trở nên lạc hậu. Vấn đề khác bao gồm các công ty cung cấp đầu
13
vào và dịch vụ cho các doanh nghiệp FDI bởi các doanh nghiệp FDI đòi hỏi tiêu
chuẩn cao. Từ đó, làm cho doanh nghiệp trong nước cố gắng cải thiện tiêu chuẩn
Mô hình tăng trưởng Solow là một mô hình thuyết minh về cơ chế tăng
trưởng kinh tế do nhà kinh tế Mỹ Robert Solow (1956), mô hình hàm sản xuất
tân cổ điển gồm thành phần đầu vào lao động và vốn đầu tư. Từ mô hình đó
nghiên cứu của Egwaikhide (2012) thể hiện hàm sản xuất tổng hợp như:
Y = f (L, K, A) …………… (1)
Trong đó Y là tổng sản phẩm quốc nội GDP, L là nguồn lao động, K là
tổng vốn đầu tư trong nước và A là năng suất các yếu tố tổng hợp (Total Factor
Productivity). TFP là chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời cả lao động và
vốn trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế. TFP phản ảnh sự tiến bộ
của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ
thuộc vào sự tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn tùy thuộc vào chất
lượng của các yếu tố đầu vào là lao động và vốn. Cùng với lượng đầu vào như
nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào việc cải tiến chất lượng lao động, vốn
và cách sử dụng hiệu có quả các nguồn lực này. Vì vậy, tăng TFP gắn liền với áp
dụng các tiến bộ kỹ thuật, cơ cấu vốn, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức
quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động… Những các
yếu tố đóng góp vào tăng TFP này lại phụ thuộc vào sự tác động của dòng vốn
FDI đối với các nước đang phát triển. TFP được tính từ phương pháp ước lượng
15
nguồn tăng trưởng từ hàm sản xuất, sau khi trừ đi các yếu tố đóng góp về lượng
lao động và vốn đầu tư trong nước.
Ðể nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, cũng như
đánh giá được tác động của nó, phần này trình bày một khung khổ lý thuyết sử
dụng mô hình tăng trưởng nội sinh. Theo lý thuyết tăng trưởng này, A là hàm nội
sinh được xác định bởi yếu tố kinh tế. Trong nghiên cứu này, không thể tách rời
các thành phần địa phương và nước ngoài của đầu tư trong nước như nó được bổ
sung bởi lĩnh vực nước ngoài. Giả định rằng hàm A phụ thuộc vào yếu tố FDI;
lạm phát và chính sách mở cửa thương mại, vì vậy biến đại diện được đưa vào
phương trình là:
ଷ
ܭ
௧
+ ߚ
ସ
ܨܦܫ
௧
+ ߚ
ହ
ܫܰܨ
௧
+ ߚ
ܧܺ
௧
+ ݑ
௧
…… …. (4)Trong đó Y là tổng sản phẩm quốc nội GDP; t là chuỗi thời gian; u là sai
số nhiễu ngẫu nhiên; ߚ
1
, ߚ
2
, ߚ
3
, ߚ
4
, ߚ
ngẫu nhiên
∆ܻ
t
=ߚ
1
+ ߚ
2
ݐ +ߜY
t-1
+
u
t
………………………. (5)