BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HCM ĐỖ THỊ THIÊN HƯƠNG
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP
HÀNG HẢI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HCM ĐỖ THỊ THIÊN HƯƠNG GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP
HÀNG HẢI VIỆT NAM
Tp, Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thiên Hương
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. : TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
2.1. Khái quát về hoạt động cho vay của các Ngân hàng Thương Mại 5
2.1.2. Khái niệm cho vay 5
2.1.3. Các hình thức cho vay: có nhiều cách để phân loại hình thức cho vay 5
2.1.4. Nguyên tắc vay vốn 7
2.1.5. Điều kiện vay vốn 7
2.2. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 8
2.2.2 . Khái niệm DNVVN 8
2.2.3 Đặc điểm của DNVVN Việt Nam 10
2.2.4. Vai trò của DNVVN 11
2.3. Hoạt động cho vay của NHTM đối với DNVVN 12
2.3.2.1. Từ phía Maritime Bank 51
2.3.2.2. Từ phía DNVVN hiện đang có vay vốn tại Maritime Bank 54
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại 55
CHƯƠNG 3. NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC MỞ RỘNG QUY MÔ CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI MARITIME
BANK 58
3.1 Đối tượng khảo sát: 58
3.2. Phạm vi khảo sát: các chi nhánh của Maritime Bank trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh. 58
3.3. Thời gian khảo sát: từ tháng 02/2013 đến tháng 03/2013 58
3.4. Phương pháp nghiên cứu 58
3.5. Thu thập dữ liệu 58
3.6. Thiết kế nghiên cứu: 59
3.6.1. Nghiên cứu định tính: 59
3.6.2. Nghiên cứu định lượng 59
3.7. Đánh giá thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 63
3.8. Đánh giá thang đo các nhân tố tác động đến mức độ mở rộng cho vay đối với
DNVVN bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 66
3.8.1. Thang đo các nhân tố tác động đến mức độ mở rộng cho vay đối với DNVVN 66
3.8.2. Thang đo thuộc nhân tố sự mở rộng cho vay 72
3.9. Mô hình nghiên cứu 72
3.10. Phân tích hồi quy đa biến 73
3.10.1. Xem xét ma trận tương quan giữa các biến 73
3.10.2. Phân tích hồi quy 74
3.10.3. Kiểm định mô hình hồi quy 75
3.11. Đánh giá kết quả khảo sát 77
CHƯƠNG 4. : GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NGÂN
HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM 81
4.1. Định hướng phát triển kinh doanh của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam 81
4.2. Giải pháp mở rộng cho vay DNVVN tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam 82
từ năm 2010-2012 40
Bảng 2.3: Dư nợ cho vay DNVVN/ Tổng cho vay khách hàng tại
Maritime Bank. 46
Bảng 2.4: thu nhập từ cho vay DNVVN tại Maritime Bank
(2010- 2012) 47
Bảng 3.1 Tổng hợp mẫu điều tra theo giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm
làm việc của các chuyên viên dịch vụ tín dụng đang công tác 61
tại Maritime Bank
Bảng 3.2: Mã hóa các biến nghiên cứu 62
Bảng 3.3: Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha 65
Bảng 3.4 KMO and Bartlett's Test 67
Bảng 3.5 Rotated Component Matrix
a
68
Bảng 3.6 Component Score Coefficient Matrix 70
Bảng 3.7 Ma trận tương quan 73
Bảng 3.8 Kết quả thống kê mô tả 74
Bảng 3.9 Model Summary 75
Bảng 3.10 ANOVA
b
76
Bảng 3.11 Coefficients
a
76
PHẦN HÌNH – ĐỒ THỊ
Biểu 2.1: Vốn huy động của Maritime Bank (2010- 2012) 37
Biểu 2.2: Huy động vốn và cho vay khách hàng của Maritime Bank
( 2010- 2012) 38
Biểu 2.3: Biến động số lượng DNVVN quan hệ vay vốn tại Maritime Bank
( 2010- 2012) 41
Nhóm khách hàng truyền thống của Maritime Bank chủ yếu là các công ty
trong ngành hàng hải và viễn thông. Đây được xem là lợi thế của Maritime
trong giai đoạn đầu thành lập, tuy nhiên, khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập
với nền kinh tế thế giới và các NHTM khác ngày càng lớn mạnh về quy mô,
tiềm lực tài chính và năng lực quản lý, thì lượng khách hàng truyền thống của
Maritime Bank phải chia sẻ cho các NHTM khác. Để đạt được mục tiêu là
2-
một trong những ngân hàng cổ phần lớn nhất Việt Nam, Maritime Bank đã đa
dạng hóa nhóm khách hàng mục tiêu, ngoài việc duy trì đẩy mạnh khách hàng
truyền thống, Maritime Bank còn mở rộng hoạt động tín dụng sang nhóm
khách hàng là các DNVVN. Từ năm 2010, Maritime Bank đã xây dựng mô
hình ngân hàng SME để phục vụ các DNVVN.
Tuy nhiên, thực tế nhận thấy các DNVVN tại Việt Nam hiện nay vẫn gặp
nhiều khó khăn. Trong đó, khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng tại các ngân
hàng thương mại Việt Nam nói chung và tiếp cận nguồn vốn vay Maritime
Bank nói riêng vẫn còn hạn chế. Ngân hàng và doanh nghiệp vẫn chưa tìm
được quan điểm chung trong quan hệ tín dụng. Với vị trí là chuyên viên dịch
vụ tín dụng khách hàng DNVVN, kết hợp với quá trình học tập, tôi nhận thấy
việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề cho vay DNVVN là cần thiết. Chính vì
vậy, tôi lựa chọn đề tài “ Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề sau:
- Tìm hiểu về hoạt động và vai trò của các DNVVN tại Việt Nam, đúc
kết lý luận tổng quan về mở rộng hoạt động cho vay đối với DNVVN của các
NHTM, một số hạn chế trong việc phát triển hoạt động cho vay của các
NHTM đối với các DNVVN tại Việt Nam
- Phân tích thực trạng hoạt động cho vay đối với các DNVVN tại
Chương 1: Tổng quan về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại các NHTM.
4-
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Maritime Bank.
Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động
cho vay đối với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
Chương 4: Các giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Maritime Bank.
5-
vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu tiền bán hàng
của doanh nghiệp.
Căn cứ theo thời hạn cho vay:
Cho vay ngắn hạn: Hình thức cho vay này nhằm tài trợ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động. Nguồn trả nợ là từ hoạt động sản xuất
kinh doanh. Thời hạn cho vay dưới 1 năm.
Cho vay trung và dài hạn: hình thức cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu
đầu tư mua sắm trang thiết bị, công nghệ, xây dựng nhà xưởng. Thời gian
hoàn vốn trên 1 năm. Nguồn trả nợ là từ hoạt động sản xuất kinh doanh và
khấu hao tài sản.
Căn cứ vào hình thức đảm bảo của các khoản vay
Cho vay có đảm bảo: tài sản đảm bảo được xem là phương án dự phòng
rủi ro cho các NHTM. Hiện nay, tài sản đảm bảo được nhận làm tài sản cầm
cố, thế chấp tại các NHTM khá đa dạng như: bất động sản, xe ô tô, máy móc,
thiết bị, hàng hóa, khoản phải thu…
Cho vay không có đảm bảo: Là khoản cho vay mà Ngân hàng không nắm
giữ tài sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều
kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng tín dụng. Thông thường chỉ có những
khách hàng có quan hệ lâu năm với Ngân hàng hoặc những khách hàng có uy
tín mới được áp dụng hình thức vay này.
Căn cứ vào hình thức hình thành khoản vay
Cho vay trực tiếp: Hầu hết các khoản cho vay của Ngân hàng là cho vay
trực tiếp. Đây là các khoản cho vay khi khách hàng trực tiếp đến Ngân hàng
7-
và xin vay vốn. Ngân hàng trực tiếp chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng
trên cơ sở những điều kiện mà hai bên thoả thuận.
Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung
gian. Ngân hàng cho vay thông qua các tổ, đội, hội, nhóm, như nhóm sản xuất
hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ Cho vay gián tiếp thường
điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng quốc gia và nó cũng thay đổi theo
từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, mỗi nước lại
chọn cho mình những tiêu chí khác nhau để phân chia loại hình doanh nghiệp
sao cho phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước trong
từng thời kỳ, từng giai đoạn của nền kinh tế.
Hiện nay, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình một hệ thống định lượng
để phân loại doanh nghiệp. Các tiêu chí này được cụ thể hóa thành các con số
như số lao động, giá trị vốn, doanh thu hoặc lợi nhuận…Các tiêu chí đánh giá
định lượng này có tính thực tiễn cao, dễ xác định và hình dung. Theo các định
nghĩa về DNVVN của các quốc gia, DNVVN thường được chia thành 3 loại:
doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Theo các nước thuộc Cộng đồng chung
Châu âu, DNVVN cũng được chia thành 3 cấp và dựa vào số lượng lao động,
doanh thu hoặc tài sản. Chi tiết như sau:
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNVVN của Châu Âu
Loại doanh
nghiệp
Số lượng nhân
viên
Doanh số
Hoặc
Tài sản
DN siêu nhỏ
Dưới 10
<=2 tỷ €
<=2 tỷ €
DN nhỏ
Dưới 50
<= 10 tỷ €
<= 10 tỷ €
DN vừa
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Số lao
động
Tổng
nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
10-
II. Công nghiệp và
xây dựng
bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
1.2.3. Đặc điểm của DNVVN Việt Nam
Qui mô về lao động của các DNVVN khá khiêm tốn, hệ thống tổ chức sản
xuất và quản lý tại các DNVVN được xây dựng gọn nhẹ, linh hoạt, theo
phương thức quản lý điều hành trực tiếp.
Trình độ tay nghề của người lao động thấp, chủ yếu là lao động phổ thông,
ít được đào tạo chuyên môn, kỹ năng làm việc kém cũng như trình độ văn hóa
thấp. Tuy nhiên, lao động trong các doanh nghiệp này có kinh nghiệm làm
việc lâu năm, đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh
hàng hóa thủ công mỹ nghệ, không đòi hỏi lao động trí thức.
Trình độ công nghệ thấp, nguyên nhân do hạn chế về vốn nên các
DNVVN không có khả năng đầu tư vào các công nghệ hiện đại, tiên tiến. Các
doanh nghiệp này chỉ trang bị các công nghệ cơ bản, đủ để phục vụ hoạt động
sản xuất kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ, chỉ kinh doanh dịch
vụ thì hầu như không đầu tư vào công nghệ
Khả năng cạnh tranh của DNVVN còn rất hạn chế, các doanh nghiệp chưa
xây dựng được đường lối kinh doanh cho riêng mình, chủ yếu là từ những
kinh nghiệm có được. Hầu như các hoạt động maketing, nghiên cứu phân
khúc thị trường, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới vẫn chưa được xem
11-
trọng. Chính những điểm hạn chế này nên các DNVVN vẫn chưa tạo cho
mình sức cạnh tranh rõ rệt.
Hệ thống kế toán khá sơ sài, còn hệ thống kiểm soát thì hầu như không tồn
tại. Các số liệu kế toán chỉ mang tính chất tham khảo hoặc để cung cấp cho cơ
quan thuế theo quy định của pháp luật. Có những DNVVN việc cập nhật số
liệu kế toán một năm thực hiện một lần và bộ phận kế toán chỉ là một nhân
viên thuê ngoài.
Trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của các chủ DNVVN phần lớn
là do kinh nghiệm và thực tiễn đúc kết thành. Mối quan hệ giữa các chủ sở
lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
nước và các loại máy móc, thiết bị, công cụ và các linh kiện cần thiết cho các
ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp.
- Các DNVVN chủ yếu đi lên từ các cơ sở kinh doanh, hộ gia đình, nguồn
vốn hoạt động chủ yếu huy động được từ người thân trong gia đình, bạn bè.
Do đó, khả năng thu hút được nguồn vốn trong dân cư khá lớn.
- Các ngành nghề truyền thống thông qua các DNVVN được giữ gìn, phát
hay. Không bị quá trình công nghiệp hóa làm tan biến.
- Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế
của đất nước, thì DNVVN lại có mặt ở khắp các địa phương và tạo công ăn
việc làm ở địa phương. Ngoài ra, các doanh nghiệp này còn đóng góp đáng kể
vào việc xây dựng và phát triển cho mỗi địa phương, cụ thể là hỗ trợ xây
dựng cơ sở hạ tầng, trường học, bệnh viện và các công trình phúc lợi khác. Vì
vậy, các DNVVN có thể được xem là trụ cột của kinh tế địa phương.
1.3. Hoạt động cho vay của NHTM đối với DNVVN
1.3.2. Các phương thức cho vay đối với DNVVN
13-
Phương thức cho vay là cách thức thực hiện việc cấp tín dụng cho khách
hàng của ngân hàng. Hiện nay, trong cho vay đối với các doanh nghiệp nói
chung và cho vay đối với DNVVN nói riêng, tùy thuộc vào nhu cầu, đặc
điểm, tài sản thế chấp và dòng chu chuyển vốn của khách hàng mà ngân hàng
và khách hàng sẽ lựa chọn phương thức cho vay phù hợp.
Cho vay từng lần:
Phương thức cho vay này áp dụng đối với khách hàng không có nhu cầu
vay vốn thường xuyên. Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng sẽ thực
hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết để vay vốn.
Cho vay theo hạn mức tín dụng:
Đây là phương thức được các DNVVN sử dụng nhiều nhất. Khách hàng và
ngân hàng sẽ xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời
về lượng).
Mở rộng cho vay đối với DNVVN theo chiều sâu là sự gia tăng số lượng
sản phẩm cho vay đối với DNVVN cũng như gia tăng về chất lượng các
khoản vay ( mở rộng về chất).
1.3.3.2. Vai trò của việc mở rộng cho vay đối với DNVVN
Mở rộng cho vay DNVVN góp phần phát huy các ngành nghề truyền
thống, là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhón.
Việc mở rộng cho vay giúp các DNVVN đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh được liên tục và mở rộng. Đáp ứng nhu cầu vốn trung dài hạn để các
doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, thiết bị, từ đó cải
thiện phương thức kinh doanh
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các DNVVN. Để sử dụng được nguồn
vốn vay của ngân hàng, đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được phương án
15-
kinh doanh hiệu quả, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân
hàng nhằm trả được nợ và kinh doanh có lãi.
Khi sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp đã hình thành cơ cấu
vốn tối ưu cho hoạt động kinh doanh của mình. Nguồn vốn vay chính là công
cụ đồn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn. Từ đó, doanh
nghiệp sẽ hình thành được mức giá vốn bình quân rẻ nhất. Bên cạnh đó, ngân
hàng còn tư vấn cho các DNVVN những vấn đề liên quan đến tài chính, thị
trường. Giúp doanh nghiệp hoàn thiện kế hoạch, phương án kinh doanh có
hiệu quả nhất.
Tập trung vốn sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh cho các DNVVN, để cạnh
tranh với các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước, đòi hỏi các DNVVN
phải tăng cường liên doanh, liên kết, mở rộng đầu tư sản xuất . Tuy nhiên để
có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn
hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được, vuột
mất cơ hội đầu tư. Như vậy có thể đáp úng kịp thời, các doanh nghiệp vừa và
của các thành phần kinh tế. Khi sử dụng nguồn vốn vay, các cá nhân, doanh
nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi
đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp
kinh doanh có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi người đi vay vốn có
phương án sản xuất, tiêu dùng khả thi. Không chỉ thu hồi đủ vốn mà còn phải
tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo
tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh
doanh có lãi.
Hoạt động cho vay góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh
tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng