BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
***
PHẠM THỊ HỒNG DƯƠNG
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN
TRƯỜNG THI ĐẠI HỌC – CAO ĐẲNG CỦA HỌC SINH
THPT TẠI HUYỆN BÙ GIA MẬP – TỈNH BÌNH PHƯỚC LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP. HCM – 2013
Tôi tên là: Phạm Thị Hồng Dương, là học viên cao học lớp Ngày 2 khóa K20
khoa Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Kinh tế TP. HCM
Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu, kết
luận trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên
cứu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên Phạm Thị Hồng Dương LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian chuẩn bị và tiến hành nghiên cứu, tôi đã hoàn thành đề tài
“Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường thi Đại học – Cao đẳng của
học sinh THPT huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước”. Trong quá trình nghiên
cứu, tôi đã nhận được sự hỗ trợ từ phía gia đình, bạn bè cũng như giáo viên hướng
dẫn và quý thầy cô trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Hữu Lam, thầy đã tận tình hướng dẫn
tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô tham gia giảng dạy cao học
tại trường ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, quý thầy cô đã cung cấp cho tôi những
kiến thức quý báu về lĩnh vực quản trị kinh doanh.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và học sinh các trường THPT trên
địa bàn huyện Bù Gia Mập đã hỗ trợ tôi trong quá trình khảo sát thực tế.
Cảm ơn các bạn học viên cùng khóa đã động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình
2.1.1 Khái niệm về trường ĐH – CĐ và kỳ thi tuyển sinh ĐH – CĐ 5
2.2.2 Tiến trình ra quyết định chọn trường 5
2.2 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới và Việt Nam 7
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của HS 10
2.3.1 Đặc điểm cá nhân và gia đình của HS 10
2.3.2 Các cá nhân ảnh hưởng đến việc ra quyết định của HS 11
2.3.3 Mức độ phù hợp của trường ĐH – CĐ với điều kiện sống của HS 11
2.3.4 Đặc điểm của trường ĐH – CĐ 11
2.3.5 Chương trình truyền thông của trường ĐH – CĐ 12
2.3.6 Mong đợi sau khi tốt nghiệp 12
2.4 Mô hình nghiên cứu 12
2.4.1 Mô hình nghiên cứu 12
2.4.2 Các giả thuyết nghiên cứu 13
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Nghiên cứu sơ bộ 15
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu sơ bộ 15
3.1.2 Xây dựng thang đo 16
3.2 Nghiên cứu chính thức 18
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu chính thức 18
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu 19
3.2.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 19
3.2.4 Điều chỉnh mô hình nghiên cứu lý thuyết 20
3.2.3 3.2.5 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 20
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
4.1 Dữ liệu thu thập được 22
4.2 Đánh giá thang đo 24
4.2.1 Đánh giá thang đo qua kiểm tra hệ số tin cậy Cronbach Alpha 24
4.2.2 Kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 27
4.2.3 Diễn giải và đặt tên nhân tố 30
4.3 Mô hình điều chỉnh 31
- HS : Học sinh
- THPT : Trung học phổ thông
- ĐH – CĐ : Đại học – Cao đẳng
- SES : socialeconomic status DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 2.1 : Tóm tắt các mô hình lựa chọn trường ĐH – CĐ 7
Bảng 2.2: Mô hình nghiên cứu của Hossler & Gallagher (1987) 9
Bảng 3.1: Mã hóa thang đo các khái niệm nghiên cứu 17
Bảng 4.1: Tóm tắt mẫu nghiên cứu theo đặc điểm cá nhân 22
Bảng 4.2: Tóm tắt mẫu nghiên cứu theo đặc điểm gia đình 23
Bảng 4.3 : Cronbach Alpha của thang đo “Đặc điểm cá nhân” 24
Bảng 4.4 : Cronbach Alpha của thang đo “Cá nhân có ảnh hưởng” 24
Bảng 4.5 : Cronbach Alpha của thang đo “Mức độ phù hợp của trường 25
ĐH – CĐ với điều kiện sống của HS ”
Bảng 4.6 : Cronbach Alpha của thang đo “Đặc điểm của trường ĐH – CĐ” 25
Bảng 4.7 : Cronbach Alpha của thang đo “Hoạt động truyền thông” 25
Bảng 4.8 : Cronbach Alpha của thang đo “Mong đợi của HS sau khi tốt nghiệp 26
ĐH - CĐ”
Bảng 4.9 : Thang đo “Mức độ phù hợp của trường ĐH–CĐ với điều kiện sống 26
của HS ” sau khi loại biến
Bảng 4.10 : Thang đo “Đặc điểm của trường ĐH – CĐ” sau khi loại biến 27
Bảng 4.11: Kiểm định KMO (KMO and Bartlett's Test) (lần 1) 28
Bảng 4.12: Ma trận nhân tố đã xoay (lần 1) 28
Bảng 4.13: Ma trận nhân tố đã xoay (lần 2) 29
Bảng 4.14: Ma trận nhân tố đã xoay (lần 3) 30
Bảng 4.15: Bảng tóm tắt thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết 31
Theo thống kê của Bộ Giáo dục – Đào tạo, năm 2012- 2013 cả nước có 204
trường đại học và 215 trường cao đẳng. Mỗi năm có khoảng 1,5 triệu thí sinh đăng
ký dự thi vào các trường ĐH – CĐ với chỉ tiêu tuyển sinh năm 2013 của ĐH chính
quy là 133.000 và CĐ chính quy là 17.000. Qua đó cho thấy, áp lực chọn trường dự
thi phù hợp với năng lực và nguyện vọng của các em là rất lớn. Bên cạnh đó, hiện
nay nước ta có sự chênh lệch rất lớn về lực lượng lao động, dư thừa lao động khối
ngành kinh tế - tài chính và thiếu hụt lao động các khối ngành khác, đặc biệt là
ngành kỹ thuật. Điều này dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc làm việc trái với
chuyên môn sau khi tốt nghiệp gây lãng phí chi phí đào tạo của nhà nước và thời
gian, tiền bạc của gia đình; đồng thời, các em có tâm lý bi quan, chán nản, miễn
cưỡng trong lao động làm giảm chất lượng của một lực lượng lao động không nhỏ
cho đất nước. Vì vậy, một trong các vấn đề mà trường ĐH-CĐ, trường THPT và gia
đình quan tâm là những yếu tố chính nào tác động đến việc chọn trường của các em
nhằm có kế hoạch định hướng đúng đắn cho con em mình từ sớm.
Vấn đề xem xét các yếu tố tác động đến quyết định chọn trường của HS lớp 12
cũng như sinh viên năm nhất đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm
và tập trung nghiên cứu. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một nghiên cứu nào được
thực hiện riêng cho học sinh tại các vùng miền núi và cao nguyên.
Một số nghiên cứu đã cho thấy sinh viên có thu nhập thấp và dân tộc thiểu số
thường bước vào con đường ĐH-CĐ mà thiếu các thông tin và các nguồn lực sẵn có
(Bergerson, 2009). Theo Cabera và La Nasa (2000), việc chọn trường của học sinh
phụ thuộc rất nhiều vào sự sẵn có, tính minh bạch và chất lượng thông tin nhận
được. Các em tiếp nhận thông tin qua nhiều cách khác nhau như thầy cô, cha mẹ,
bạn bè, đại diện các trường ĐH-CĐ và internet. Tuy nhiên, mức độ truy cập và sử
dụng các nguồn thông tin này lại khác nhau đối với từng chủng tộc/dân tộc, thu
nhập gia đình và trình độ học vấn của phụ huynh (McDonough, 1997). Do đó, các
2
nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của các em sẽ có những khác biệt so
với những học sinh vùng đồng bằng hay những vùng kinh tế phát triển.
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường thi
tuyển sinh ĐH – CĐ
- Đối tượng khảo sát: HS đang theo học lớp 12 phân ban tại các trường THPT
- Phạm vi khảo sát: Trường THPT Đak Ơ, trường THPT Nguyễn Khuyến,
trường THPT Phú Riềng, trường PTTH Ngô Quyền thuộc huyện Bù Gia Mập –
Tỉnh Bình Phước.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua các giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu
chính thức.
Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính nhằm khám phá bổ sung mô
hình, điều chỉnh cách đo lường các khái niệm cho phù hợp với tình hình thực tế tại
phạm vi nghiên cứu. Từ đó, phát triển hoàn chỉnh thang đo để sử dụng trong nghiên
cứu chính thức.
Giai đoạn nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng, được thực
hiện bằng cách gửi bảng câu hỏi đến HS lớp 12 các trường THPT, gợi ý hướng dẫn
họ trả lời vào bảng câu hỏi, sau đó thu lại để tiến hành phân tích. Mẫu điều tra trong
nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng điều tra ngẫu nhiên một số lớp phân ban
tại 4 trường THPT trên địa bàn huyện Bù Gia Mập (200 HS)
Việc kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cùng với các giả thuyết đề ra
được thực hiện thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach Alpha, phân tích nhân tố
khám phá EFA, phân tích tương quan và hồi quy dựa trên kết quả xử lý số liệu
thống kê SPSS. Nghiên cứu cũng tiến hành phân tích phương sai ANOVA để kiểm
định sự khác biệt về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường giữa các
nhóm HS khác nhau về đặc điểm cá nhân và đặc điểm gia đình.
1.5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Đề tài có ý nghĩa trong việc xác định rõ những nhân tố tác động đến quyết
định chọn trường của học sinh vùng miền núi – cao nguyên và đánh giá mức độ tác
động của chúng như thế nào. Đối với các trường ĐH-CĐ, kết quả nghiên cứu giúp
4
tạo tổ chức hằng năm, ngay sau kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông khoảng một
tháng. Tất cả thí sinh phải có điểm thi cao hơn điểm sàn do Bộ GDĐT ban hành
mới đủ tiêu chuẩn xét vào các trường ĐH – CĐ.
2.2.2 Tiến trình ra quyết định chọn trường
Kotler và Fox (1976) cũng đưa ra mô hình 7 bước tiến hành ra một quyết định
phức tạp. Theo mô hình này, để ra một quyết định phức tạp như chọn trường thi ĐH
– CĐ, học sinh phải trải qua một tiến trình từ lúc có ý muốn học ĐH – CĐ sau khi
tốt nghiệp THPT, tìm hiểu thông tin về các trường, đánh giá, nộp đơn xin nhập học,
sau khi có sự chấp nhận của các trường sẽ so sánh các lựa chọn và cuối cùng là
đăng ký học tại một trường phù hợp nhất.
Hanson & Litten (1982) kiểm tra lại mô hình của Kotler và chia quá trình ra
quyết định chọn trường của HS gồm 5 bước : nguyện vọng vào ĐH-CĐ, bắt đầu
tiến trình tìm kiếm, thu thập thông tin, nộp hồ sơ và thi tuyển sinh.
Jacson (1982) cũng tạo ra một mô hình gồm 3 bước truyền thống. Ông đã kết
hợp sự ảnh hưởng của kinh tế xã hội vào mô hình của mình gồm sự tham khảo, sự
loại trừ và sự đánh giá. Trong đó, giai đoạn đầu tiên chịu sự ảnh hưởng của gia
6
đình, bạn bè, nguyện vọng cá nhân và thành tích học tập. Ở giai đoạn này, học sinh
thiết lập cho mình một danh sách các trường tiềm năng dựa trên sự tham khảo ý
kiến của các cá nhân có ảnh hưởng và từ đặc điểm cá nhân của mình. Giai đoạn thứ
hai HS tiến hành loại trừ các trường ĐH-CĐ ra khỏi danh sách các trường tiềm năng
của họ, dựa trên các yếu tố như chi phí học tập, đặc điểm trường ĐH, v.v. Giai đoạn
thứ ba, học sinh tiến hành đánh giá các lựa chọn và đưa ra quyết định cuối cùng. Họ
xếp hạng các trường dựa trên một số tiêu chí cá nhân và đưa ra quyết định phù hợp
nhất.
Theo Hossler & Gallagher (1987), tiến trình chọn trường ĐH-CĐ là một quá
trình bắt đầu từ lúc học sinh ý thức được việc tiếp tục học sau khi tốt nghiệp THPT
đến lúc quyết định đăng ký dự thi tuyển sinh vào một trường cụ thể. Tiến trình này
có thể bắt đầu từ rất sớm, từ khi học sinh còn học THCS, và được chia thành 3 giai
Do đặc thù của hệ thống giáo dục quốc dân, tại Việt Nam, HS phải trải qua kỳ thi
tuyển sinh ĐH – CĐ do Bộ Giáo dục đào tạo tổ chức mới đủ điều kiện tham dự
chương trình học ĐH – CĐ tại các trường. Vì vậy, mô hình của Kotler (1976) và
Litten (1982) không phù hợp cho nghiên cứu. Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng
mô hình lựa chọn trường ĐH – CĐ của Hossler & Gallagher (1987).
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Nghiên cứu đầu tiên về việc lựa chọn trường ĐH – CĐ được John Holland
thực hiện vào năm 1957 và ông đã khám phá ra rằng nền tảng của HS với sự phát
triển cá nhân và văn hóa gia đình ảnh hưởng đến quyết định chọn trường. Ông cũng
cho rằng cha mẹ có ảnh hưởng lớn đến việc chọn trường của HS.
Berdie & Hood (1966) thực hiện cuộc điều tra trên 3.817 sinh viên và đưa ra
kết luận rằng cha mẹ, bạn bè, thầy cô, nhân viên tư vấn ảnh hưởng đến quyết định
chọn trường của sinh viên (Trích từ Derek Takumi Furukawa, 2011)
Nảy sinh nhu cầu
Thu thập thông tin
Đánh giá
Nộp đơn nhập học
Sự chấp nhận
Lựa chọn trường
Đăng ký học
Muốn học ĐH-CĐ
Bắt đầu tìm kiếm
Thu thập thông tin
Nộp đơn nhập học
Tuyển sinh
Sự tham khảo
Sự loại trừ
Sự đánh giá ĐẶC ĐIỂM CỦA HỌC
SINH VÀ GIA ĐÌNH
Đặc điểm gia đình
Đặc điểm cá nhân
CÁC ẢNH HƯỞNG BÊN
NGOÀI
Các cá nhân có ảnh hưởng
Đặc điểm cố định của
trường ĐH - CĐ
Nỗ lực giao tiếp của
trường ĐH – CĐ với HS
Ấn
tượng
về
trường
ĐH -
CĐ
Quyết
định
chọn
trường
ĐH -
CĐ
cứu quan tâm và có một số kết quả nhất định. Cụ thể :
- Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sinh viên chọn trường” do TS.
Nguyễn Minh Hà, ThS. Huỳnh Gia Xuyên, ThS. Huỳnh Thị Kim Tuyết - Trường
đại học Mở TP.HCM thực hiện. Kết quả có 7 nhân tố tác động đến việc sinh viên
chọn trường, bao gồm (1) Nỗ lực của nhà trường đưa thông tin đến HS sắp tốt
nghiệp THPT, (2) Chất lượng dạy – học, (3) Đặc điểm của bản thân sinh viên, (4)
Công việc trong tương lai, (5) Khả năng đậu vào trường, (6) Người thân trong gia
đình, (7) Người thân ngoài gia đình.
- Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của
HS phổ thông trung học” do Trần Văn Quí, Cao Hào Thi – Trường Đại học Bách
10
Khoa thực hiện. Kết quả có 5 yếu tố bao gồm (1) Cơ hội việc làm trong tương lai,
(2) Đặc điểm cố định của trường đại học, (3) Bản thân cá nhân HS, (4) Cá nhân có
ảnh hưởng đến quyết định của HS, (5) Thông tin có sẵn.
- Nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến việc chọn trường của HS lớp 12 THPT
trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” do Nguyễn Phương Toàn thực hiện. Kết quả có 5 yếu
tố (1) Mức độ đa dạng và hấp dẫn ngành đào tạo; (2) Đặc điểm của trường đại học;
(3) Khả năng đáp ứng sự mong đợi sau khi ra trường; (4) Nỗ lực giao tiếp của
trường đại học và (5) Danh tiếng của trường đại học.
2.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN TRƯỜNG THI ĐH
– CĐ CỦA HS THPT
2.3.1 Đặc điểm cá nhân và gia đình của HS
Theo nghiên cứu của D.W.Chapman (1981), đặc điểm cá nhân của học sinh là
một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH – CĐ. Trong đó,
năng lực của HS thể hiện ở thành tích học tập tại trường THPT và điểm thi tuyển
sinh đầu vào các trường ĐH – CĐ. Những học sinh có năng lực học tập cao thường
độc lập và có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn trường (Galotti & Mark, 1994).
Ngược lại, những HS có năng lực học tập thấp hơn phải quan tâm tới nhiều yếu tố
khác để đảm bảo vừa chọn được trường phù hợp với bản thân vừa có khả năng
trường có chi phí thấp. Tuy nhiên, yếu tố này còn tác động mạnh hơn đối với những
HS có SES thấp và dân tộc thiểu số (Stewart & Post, 1990). HS cũng có xu hướng
chọn trường gần nhà và vị trí thuận tiện cho việc đi lại. Môi trường sống và học tập
như ký túc xá, mức độ an toàn, mối quan hệ thầy cô - bạn bè cũng ảnh hưởng tới
việc chọn trường của HS, đặc biệt là HS ngoại tỉnh.
2.3.4 Đặc điểm của trường ĐH – CĐ
Theo Chapman (1981), Hossler (1989), đặc điểm của trường ĐH – CĐ cũng là
một trong những yếu tố ảnh hưởng quyết định chọn trường của HS. Nó thể hiện ở
chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên, danh tiếng trường ĐH – CĐ, cơ sở trang
thiết bị dạy và học, các hoạt động ngoại khóa, mô hình trường công lập – ngoài
công lập, v.v
12
Hoạt động đào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của sinh viên sau
khi tốt nghiệp. Do đó, nó là yếu tố tác động lớn nhất đến quyết định chọn trường
của HS. Yếu tố này có thể làm suy giảm sự tác động của các yếu tố khác (Chapman,
1981, Hossler, 1989).
2.3.5 Chương trình truyền thông của trường ĐH – CĐ
Kealy & Rockel (1987) cho rằng có một sự liên kết gián tiếp nhưng rất quan
trọng giữa sự nỗ lực giao tiếp với HS của các trường ĐH – CĐ và quyết định chọn
trường của HS. Sự nỗ lực giao tiếp thể hiện thông qua các hoạt động giới thiệu,
quảng bá hình ảnh đến HS như xây dựng website, tư vấn tuyển sinh, đăng quảng
cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua các hoạt động văn hóa văn
nghệ, thể dục thể thao, tài trợ học bổng, tham quan trường học và phát các tài liệu
có sẵn. Chọn trường là một quyết định không đầy đủ thông tin của HS. Do đó, chất
lượng thông tin và sự đầy đủ thông tin trong các tài liệu có sẵn là một sự hỗ trợ
không nhỏ trong việc chọn trường của HS (Chapman, 1981)
2.3.6 Mong đợi sau khi tốt nghiệp
Theo Cabera và La Nasa (được trích bởi M.J.Burns, 2006), ngoài mong đợi về
học tập trong tương lai thì mong đợi về công việc trong tương lai cũng là một trong
Đặc điểm của trường ĐH – CĐ, (5) Chương trình truyền thông của trường ĐH – CĐ
và (6) Mong đợi sau khi tốt nghiệp ĐH – CĐ của HS
Các giả thuyết cho mô hì nh nghiên cứu được đề xuất như sau:
H1: Sự phù hợp của ngành học với năng lực và sở thích, khát vọng của HS
càng cao, HS có khuynh hướng chọn trường đó càng lớn.
H2: Sự định hướng của những người thân quen vào một trường nào đó càng
nhiều, HS có khuynh hướng chọn trường đó càng lớn
H3: Trường có mức độ phù hợp với điều kiện sống của HS càng cao thì HS
càng có xu hướng chọn trường đó
H4: Trường có đặc điểm càng nổi bật, HS có khuynh hướng chọn trường đó
càng lớn
Yếu tố về đặc điểm cá nhân HS
Yếu tố về các cá nhân có ảnh
hưởng đến quyết định của HS
Yếu tố về mức độ phù hợp của
trường ĐH – CĐ với điều kiện
sống của HS
Yếu tố về đặc điểm của trường
ĐH - CĐ
Yếu tố về chương trình truyền
thông của trường ĐH-CĐ
Quyết định chọn
trường thi ĐH -
CĐ
Yếu tố về mong đợi sau khi tốt
nghiệp
14
H5: Trường nào có chương trình truyền thông đến HS càng tốt, HS có xu