BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ BÍCH LIỄU
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NỘP THUẾ XUẤT
NHẬP KHẨU CHO KHÁCH HÀNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
tôi cũng đã tham khảo một số tài liệu có liên quan và các nội dung tham khảo được
đưa vào đề tài hoàn toàn đúng với nguồn trích dẫn.
Tác giả đề tài
Nguyễn Thị Bích Liễu MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NỘP THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU
CHO KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1. Các dịch vụ của ngân hàng thương mại (NHTM) 1
1.1.1. Các dịch vụ ngân hàng truyền thống 1
1.1.2 Các dịch vụ ngân hàng hiện đại 2
1.2. Dịch vụ thanh toán qua NHTM 3
1.2.1 Các yếu tố tác động đến sự phát triển dịch vụ thanh toán qua NHTM 4
1.2.2 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTM 6
1.3. Dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng tại NHTM 10
1.3.1 Khái niệm dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng tại NHTM 10
1.3.2 Quy trình dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng tại NHTM 11
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho
2.2.3 Quá trình phát triển dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng tại
Eximbank 30
2.2.4 Quy trình thực hiện dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng tại
Eximbank 33
2.2.5 Kết quả phát triển dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng tại
Eximbank 36
2.3. Thực trạng phát triển dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng
tại Eximbank qua khảo sát ý kiến khách hàng và nhân viên Eximbank 43 2.3.1. Mô tả cách thức thực hiện khảo sát 44
2.3.1.1. Chọn mẫu khảo sát 44
2.3.1.2. Bảng câu hỏi khảo sát 45
2.3.1.3. Cách thức khảo sát 45
2.3.1.4. Phân tích dữ liệu từ khảo sát 45
2.3.2. Kết quả khảo sát về dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng tại
Eximbank 46
2.3.2.1. Đánh giá về dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng tại
Eximbank 46
2.3.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ nộp thuế xuất nhập
khẩu cho khách hàng tại Eximbank 47
2.4. Đánh giá chung về thành công và hạn chế của dịch vụ nộp thuế xuất nhập
khẩu cho khách hàng tại Eximbank 52
2.4.1. Thành công của dịch vụ 52
2.4.2. Hạn chế của dịch vụ 54
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NỘP THUẾ XUẤT NHẬP
KHẨU CHO KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 59
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Diễn giải
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ATM Automatic Teller Machine - Máy rút tiền tự động
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BKNT/GNT Bảng kê nộp thuế/Giấy nộp thuế
Citad Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
Eximbank Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam
HSBC Hongkong Shanghai Banking Corporate
KBNN Kho bạc Nhà nước
L/C Thư tín dụng
MaritimeBank Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải
MB Bank Ngân hàng Quân đội
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NSNN Ngân sách Nhà nước
SWIFT
Society for Worldwide Interbank and Financial
Telecommunication - Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và
tài chính quốc tế
Techcombank Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
Biểu đồ 2.6: Số lượng giao dịch và doanh số nộp thuế xuất nhập khẩu 38
Biểu đồ 2.7: Tốc độ tăng số giao dịch và doanh số thuế xuất nhập khẩu trong
tương quan với dư nợ và tiền gửi và tình hình xuất nhập khẩu 39
Biểu đồ 2.8: Thu phí dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu 41
Biểu đồ 2.9: Cơ cấu thu phí dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu theo khu vực 42
Biểu đồ 2.10: Tỷ trọng vốn huy động và dư nợ từ doanh nghiệp xuất nhập khẩu .43
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng gặp nhiều
khó khăn. Trong bối cảnh hoạt động tín dụng và huy động vốn đang rất hạn chế do
nền kinh tế vẫn còn dấu hiệu trì trệ, tín dụng tăng trưởng rất chậm, tiềm ẩn nhiều rủi
ro thì việc đẩy mạnh phát triển các dịch vụ ngân hàng để gia tăng tiện ích phục vụ
khách hàng và tăng thu nhập hoạt động từ các dịch vụ ngoài tín dụng là điều hết sức
cần thiết. Hơn nữa, cạnh tranh trên lĩnh vực ngân hàng ngày càng lớn cũng đặt ra
yêu cầu phải đa dạng hóa dịch vụ và hoàn thiện hơn nữa dịch vụ đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của khách hàng.
Chính vì vậy, với thế mạnh là ngân hàng tài trợ vốn cho doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập
khẩu Việt Nam (Eximbank) đã luôn cố gắng nghiên cứu, triển khai nhiều sản phẩm
phục vụ tốt phân khúc khách hàng xuất nhập khẩu.
Bên cạnh những sản phẩm thế mạnh như tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay bảo
hiểm tỷ giá, bảo lãnh thanh toán, phát hành L/C các dịch vụ thanh toán khác cũng
đang được Eximbank chú trọng phát triển. Đặc biệt, khi Tổng cục Hải Quan triển
khai hiện đại hóa hoạt động thu thuế, kê khai thuế bằng phương thức điện tử,
khẩu trong dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu của Eximbank được hiểu là thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và các
loại thuế khác tính trên hàng hóa xuất nhập khẩu theo tờ khai thuế của doanh
nghiệp xuất nhập khẩu tại chi cục Hải quan.
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Eximbank, đối
tượng khảo sát ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Hà Nội
- Đối tượng khảo sát: doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu,
nhân viên Eximbank đang trực tiếp cung cấp dịch vụ. - Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian
từ tháng 08/2013 đến tháng 10/2013. Số liệu thứ cấp, sơ cấp thu thập từ
01/01/2008 đến 30/06/2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mô tả, định tính: Nghiên cứu về thực tế triển khai dịch vụ của
Eximbank.
Phương pháp định lượng: Thống kê mô tả từ khảo sát lấy ý kiến nhân viên
Eximbank và khách hàng sử dụng dịch vụ.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Xuất phát từ thực tế công tác phát triển sản phẩm tại Eximbank, người viết
nhận thấy dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu phải được hoàn thiện để đáp ứng nhu
cầu, gia tăng tiện ích cho khách hàng mục tiêu của Eximbank là doanh nghiệp hoạt
động trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, đem lại sự hài lòng, gắn bó, từ đó tạo điều kiện
phát triển các dịch vụ khác. Tuy nhiên, quá trình triển khai dịch vụ vẫn còn nhiều
hạn chế. Do đó, đề tài sẽ nghiên cứu, đánh giá toàn diện về dịch vụ, tìm hiểu những
yếu tố ảnh hưởng để đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ tại Eximbank.
6. Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm 3 chương với nội dung mỗi chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ nộp thuế xuất nhập khẩu cho khách hàng tại ngân
hàng thương mại trình bày về cơ sở lý luận về dịch vụ thanh toán qua ngân hàng,
Trao đổi ngoại tệ là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên, tạo điều
kiện cho sự ra đời của NHTM. Lúc đầu, dịch vụ này chỉ đơn thuần là việc ngân
hàng đổi loại tiền này lấy loại tiền khác cho khách hàng và hưởng chênh lệch giữa
giá mua và giá bán. Sau đó, khi thị trường ngoại hối quốc tế hình thành, NHTM
thực hiện dịch vụ kinh doanh ngoại tệ với số lượng lớn, đem lại lợi nhuận cao
nhưng rủi ro cũng cao.
- Cho vay và chiết khấu thương phiếu
Cho vay thương mại và chiết khấu thương phiếu cũng là một trong những
dịch vụ đầu tiên của NHTM. NHTM huy động vốn để cho vay, đáp ứng nhu cầu
kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế.
- Nhận tiền gửi
Để có nguồn vốn cho vay, NHTM đứng ra tập trung, huy động các nguồn
vốn rải rác trong nền kinh tế thành nguồn vốn đủ lớn. Nguồn vốn dùng để cho vay
của NHTM chủ yếu là từ huy động tiền gửi tiết kiệm.
2
- Bảo quản vật có giá
Ngay từ khi mới hình thành, NHTM đã cung cấp dịch vụ bảo quản vàng và
các vật có giá khác cho khách hàng. Giấy chứng nhận bảo quản vật có giá được
ngân hàng phát hành có thể được lưu hành như tiền.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch, thanh toán
Trung gian thanh toán là một trong hai chức năng quan trọng hàng đầu của
NHTM. NHTM cung cấp các tài khoản giao dịch, các công cụ và hình thức thanh
toán khác nhau, cải thiện đáng kể hiệu quả quá trình thanh toán. Nhờ dịch vụ này
mà các giao dịch mua bán, kinh doanh dễ dàng, nhanh chóng và an toàn hơn.
- Dịch vụ ủy thác
NHTM cung cấp đến khách hàng dịch vụ quản lý tài sản cũng như quản lý
tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp để thu phí. Đây được gọi là dịch vụ ủy
thác. Các dịch vụ ủy thác phổ biến bao gồm quản lý và đầu tư tiền tiết kiệm cho con
Như trên đã trình bày, chức năng trung gian thanh toán là một trong những
chức năng quan trọng nhất và dịch vụ thanh toán là một dịch vụ truyền thống của
NHTM. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra
đời nhiều hoạt động và dịch vụ ngân hàng mới. Một dịch vụ được đánh giá là mới
và quan trọng nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài khoản tiền gửi giao dịch
(demand deposit) - cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán mua hàng hóa, dịch
vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là một trong những bước
đi quan trọng nhất trong ngành ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của
quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng, nhanh
chóng và an toàn hơn.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và các tiến bộ khoa học kỹ
thuật, theo yêu cầu phát sinh từ hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng, các dịch
vụ của ngân hàng cũng được mở rộng hơn. Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng cũng
vậy, các công cụ thanh toán, phương thức thanh toán ngày càng đa dạng, hiện đại.
4
1.2.1 Các yếu tố tác động đến sự phát triển dịch vụ thanh toán qua NHTM
- Sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
Trên thực tế, các tổ chức bảo hiểm, chứng khoán, quỹ tín dụng… cũng cung
cấp nhiều dịch vụ tài chính tương tự như ngân hàng. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò
quan trọng như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ trong tương lai. Ngân hàng
ngày càng gia tăng nhanh chóng danh mục dịch vụ dưới áp lực cạnh tranh gia tăng
từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng và
từ sự thay đổi công nghệ. Các dịch vụ mới tạo ra những nguồn thu mới cho ngân
hàng – các khoản phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu hướng tăng
trưởng nhanh hơn so với nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay.
- Cách mạng công nghệ trong ngân hàng
Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, nhiều năm gần đây, các ngân hàng đã
và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động điện tử thay thế cho hệ thống dựa
khách hàng, tạo điều kiện phát triển các dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ
thanh toán nói riêng. Ngày nay ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán rất đa
dạng, không chỉ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, tiền điện, nước theo hóa đơn mà
còn thanh toán nợ vay, lãi vay, chi lương theo danh sách, thanh toán thuế…
- Sự phát triển của thương mại điện tử
Thương mại điện tử phát triển nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây đặt
ra yêu cầu hệ thống ngân hàng phải đáp ứng được nhu cầu thanh toán của các giao
dịch thương mại điện tử ngày càng nhiều. Thương mại điện tử cho phép các bên
tham gia giao dịch kinh doanh mà không cần phải gặp gỡ nhau và phạm vi giao dịch
về mặt địa lý cũng không có sự cách trở. Do đó, yêu cầu về dịch vụ thanh toán cũng
phải phát triển tương ứng.
- Sự củng cố và mở rộng hoạt động về địa lý
Để sử dụng hiệu quả quá trình tự động hóa và những đổi mới công nghệ đòi
hỏi các hoạt động ngân hàng phải có quy mô lớn. Vì vậy, ngân hàng cần phải mở
rộng cơ sở khách hàng bằng cách vươn tới các thị trường mới xa hơn, và gia tăng số
6
lượng tài khoản. Với việc phân bổ mạng lưới chi nhánh, điểm giao dịch rộng khắp
yêu cầu ngân hàng phải phát triển hệ thống thanh toán tương ứng.
- Quá trình toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại
Sự mở rộng mạng lưới hoạt động và hợp nhất các ngân hàng đã vượt khỏi
ranh giới lãnh thổ một quốc gia đơn lẻ và lan rộng ra với quy mô toàn cầu. Ngày
nay, những ngân hàng lớn trên thế giới cạnh tranh với nhau trên tất cả các lục địa và
trở thành đối thủ mạnh của các ngân hàng trong nước, ngân hàng địa phương. Các
ngân hàng lớn trên thế giới cạnh tranh và nắm được thị phần ngày càng tăng trên thị
trường toàn cầu về dịch vụ ngân hàng. Các Hiệp ước về mậu dịch tự do cho phép
thương mại quốc tế dễ dàng phát triển hơn. Thương mại quốc tế nói riêng và thương
mại nói chung mở rộng đặt ra yêu cầu dịch vụ thanh toán qua ngân hàng phải được
nâng cấp đảm bảo việc thanh toán giữa các bên thuận tiện, nhanh chóng.
yêu cầu thu tiền hộ.
Khi nhận được giấy ủy nhiệm thu, ngân hàng bên mua trích tài khoản bên
mua trả ngay cho bên bán để hoàn tất việc thanh toán.
- Thanh toán bằng thư tín dụng
Thư tín dụng (L/C) là một sự thỏa thuận trong thanh toán, trong đó ngân
hàng (ngân hàng mở L/C) theo yêu cầu của người nhập khẩu tiến hành mở và
chuyển đến cho chi nhánh hay đại lý của ngân hàng này ở nước ngoài (ngân hàng
thông báo L/C) một L/C để trả cho người được hưởng (người xuất khẩu) một số tiền
nhất định, trong phạm vi và thời gian xác định, với điều kiện người được hưởng
phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với những nội dung đã ghi trong L/C.
- Thanh toán bằng thẻ ngân hàng
Cơ sở lý luận tiền tệ hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác về thẻ nhưng
có thể hiểu “Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách
hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi
số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng
8
đã ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Hoá đơn thanh toán thẻ chính là
giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ. Cơ sở chấp nhận thẻ và đơn
vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua ngân hàng thanh toán
thẻ và ngân hàng phát hành thẻ” (Bùi Văn Danh, 2011).
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại, gắn liền với kỹ thuật
tin học ứng dụng trong ngân hàng. Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán
cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, để lĩnh tiền mặt tại
ngân hàng hay rút tiền tại máy rút tiền tự động (ATM).
Mặc dù mới mẻ, nhưng thẻ cũng có lịch sử hình thành và phát triển từ nhiều
thập kỷ qua. Quan hệ giữa khách hàng và cơ sở cung ứng hàng hoá dịch vụ là tâm
điểm của kinh doanh thẻ.
Hình thức sơ khai của thẻ là Charg-it, một hệ thống mua bán chịu do John
hỏi nhiều thủ tục giấy tờ, do đó tiết kiệm được chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển
Đây là hình thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả và có thể giúp
nhà nước quản lí nền kinh tế cả về vi mô và vĩ mô.
- Thanh toán qua ngân hàng điện tử
Dịch vụ ngân hàng điện tử được thực hiện trên nền tảng khoa học công nghệ
phát triển. Vào thập niên 70 của thế kỷ trước có sự xuất hiện của hệ thống ATM và
mạng lưới này đã lan rộng nhanh chóng. Đến những năm 80, ngân hàng cung ứng
chương trình phần mềm cho khách hàng có thể xem số dư tài khoản, đồng thời thực
hiện một số lệnh thanh toán cho vài dịch vụ công như tiền điện, tiền nước…
Theo Bùi Văn Danh (2011) ngân hàng điện tử (tiếng Anh Electronic
Banking) được hiểu là một loại hình thương mại về tài chính ngân hàng có sự trợ
giúp của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng. Ngân hàng
điện tử là hình thức thực hiện các giao dịch tài chính ngân hàng thông qua các
phương tiện điện tử.
Năm 1995, ngân hàng điện tử chính thức được triển khai qua phần mềm của
công ty Intuit Inc, với sự tham gia của 16 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ. Well Fargo
là ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua Internet.
10
Ứng dụng của dịch vụ ngân hàng điện tử rất phổ biến. Việc rút tiền từ ATM,
trả tiền cho hàng hóa dịch vụ bằng thẻ tín dụng, kiểm tra số dư tài khoản qua mạng
Internet hoặc điện thoại Mobile Banking, dịch vụ ngân hàng tại nhà Home
Banking đều có thể gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử. Trong đó, dịch vụ ngân hàng
qua mạng máy tính toàn cầu - Internet Banking đang được nhiều ngân hàng đầu tư
nghiên cứu phát triển, đặc biệt là mở rộng các hình thức thanh toán. Mọi giao dịch
như chuyển tiền, mở thư tín dụng, truy vấn thông tin số dư tài khoản, kiểm tra các
giao dịch phát sinh trong quá khứ, thanh toán hóa đơn, mở tài khoản, chi lương cho
nhân viên, trả nợ vay… đều có thể được khách hàng thực hiện thông qua Internet
Banking mà không cần phải đến trực tiếp ngân hàng.
Bước 1: NHTM tiếp nhận yêu cầu của người nộp thuế, kiểm tra tính hợp lệ
của chứng từ nộp thuế và yêu cầu khách hàng bổ sung thông tin hoặc các điều kiện
chuyển tiền phù hợp (nếu có).
Bước 2: NHTM chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng
đến tài khoản của cơ quan có chức năng thu nộp thuế vào NSNN - ở Việt Nam là tài
khoản của Kho bạc Nhà nước (KBNN).
Bước 3: NHTM xác nhận đã nộp tiền trên giấy nộp tiền của khách hàng.
Khách hàng dùng chứng từ đó để cung cấp cho Cơ quan Hải quan để được thông
quan hoặc giải phóng hàng hóa.
- Trường hợp NHTM kết nối dữ liệu với Cơ quan Hải quan
Bước 1: NHTM tiếp nhận yêu cầu của người nộp thuế, kiểm tra tính hợp lệ
của chứng từ nộp thuế và yêu cầu khách hàng bổ sung thông tin hoặc các điều kiện
chuyển tiền phù hợp (nếu có).
Bước 2: Truy vấn thông tin nợ thuế của khách hàng qua hệ thống dữ liệu kết
nối với Cơ quan Hải quan, đối chiếu yêu cầu nộp thuế của khách hàng với thông tin
nợ thuế của khách hàng trên hệ thống thông tin của Tổng cục Hải quan.