DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Giải nghĩa
DN Doanh nghiệp
DNVVN
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
NH Ngân hàng
NHTM
Ngân hàng thương mại
NH TMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
PGD Phòng giao dịch
CN Chi nhánh
TCTD
Tổ chức tín dụng
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
KH Khách hàng
TSĐBTài sản đảm bảo
TSCĐTài sản cố định
NHNN
Ngân hàng nhà nước
HĐTD
Hội đồng tín dụng
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HDBANK VÀ PGD NAM ĐÔ –
CHI NHÁNH HÀ NỘI
1.1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của HDBank
1.1.1. Lịch sử hình thành của HDBank
Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà TP.Hồ Chí Minh (HDBank) được
thành lập ngày 04/01/1990 theo Quyết định số 47/QĐ-UB ngày
11/02/1989 của UBND Tp.HCM với vốn điều lệ ban đầu là 5 tỷ đồng và
là một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên của cả nước. Đến nay, vốn
kinh doanh với mục tiêu nâng cao giá trị tài sản của chủ doanh nghiệp.
Luật các tổ chức tín dụng 1997 cũng nêu ra các hoạt động của NHTM bao
gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động cấp tín dụng, hoạt động dịch vụ,
thanh toán và ngân quỹ.
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động cơ bản và thường xuyên nhất của NHTM
nhằm thu hút nguồn vốn phục vụ kinh doanh, giúp cho hoạt động kinh
doanh diễn ra trôi chảy và bảo đảm khả năng thanh toán của ngân hàng.
Vốn huy động chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn và tài trợ cho các
hoạt động chủ yếu của NHTM. NHTM được phép huy động tiền gửi rộng
rãi từ các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi có
kì hạn, tiền gửi không kì hạn và các loại tiền gửi khác. NHTM còn sử
dụng các công cụ như phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ
có giá để huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Ngoài ra, NHTM còn có thể vay vốn từ các TCTD, các NHTM khác,
hoặc vay từ NHNN.
Trong hoạt động huy động vốn, NHTM luôn chú trọng xây dựng cơ cấu
vốn hợp lí. Cơ cấu vốn có thể được phân tích dựa trên các tiêu chí theo kì
hạn, theo đối tượng khách hàng,…Việc xem xét cơ cấu vốn dựa trên
nhiều tiêu chí khác nhau cho phép ngân hàng đánh giá toàn diện thực
trạng nguồn vốn của NH. Cơ cấu vốn linh hoạt và hợp lí là mục tiêu các
NHTM luôn hướng tới.
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu tín dụng đa dạng, NHTM có thể huy động
vốn với nhiều thời hạn khác nhau, nhiều đối tượng khách hàng khác nhau
với bảng biểu lãi suất phù hợp. Do đó cơ cấu vốn ảnh hưởng trực tiếp tới
chi phí vốn, phản ánh việc NH huy động vốn hiệu quả hay không, ảnh
hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh của NH. Vì vậy bên
cạnh hoạt động huy động vốn thì hoạt động quản lý nguồn vốn luôn được
Bên cạnh đó NHTM thường mở rộng quy mô tín dụng, đẩy mạnh cho
vay, gia tăng lợi nhuận kinh doanh bằng việc đổi mới công nghệ, tích cực
tiếp thị tới khách hàng. Tuy vậy, hoạt động tín dụng luôn chứa đựng
nhiều rủi ro, vì vậy công tác phòng ngừa rủi ro luôn được NH đặc biệt
chú trọng
Hoạt động cấp tín dụng của NH là một quá trình bao gồm nhiều bước,
trong đó NH và KH phải làm việc thường xuyên với nhau vào trước,
trong và sau khi đã cấp tín dụng. Việc quản lý và thực hiện mỗi giai đoạn
cấp tín dụng ảnh hưởng trực tiếp kết quả kinh doanh của NH. Vì vậy để
hạn chế rủi ro, các NHTM luôn chú trọng hoàn thiện quy trình tín dụng
và chính sách tín dụng.
1.1.2.3. Hoạt động dịch vụ, thanh toán và ngân quỹ
Để đáp ứng nhu cầu lưu chuyển tiền tệ trong nước và quốc tế, các NHTM
còn thực hiện chức năng thanh toán. Hoạt động thanh toán bao gồm thanh
toán giữa NH với khách hàng và giữa các NHTM với nhau thông qua
NHNN.
Các NHTM được phép mở tài khoản cho khách hàng, thực hiện các thanh
toán của khách hàng thông qua việc điều chỉnh số dư tài khoản. Hoạt
động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động
cung cấp dịch vụ thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước
cho khách hàng, các dịch vụ thu hộ và chi hộ, các dịch vụ thu và phát tiền
mặt cho khách hàng, đồng thời NHTM cũng thực hiện các dịch vụ thanh
toán quốc tế khi NHNN cho phép. Bên cạnh đó các NHTM được mở tài
khoản tại NHNN và tham gia vào hệ thống thanh toán liên NH trong nước
và tham gia hệ thống thanh toán quốc tế theo quy định của NHNN.
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM tạo ra sự đa dạng
trong việc phục vụ lợi ích của khách hàng, là động lực nâng cao năng lực
canh tranh giữa các NHTM. Cùng với tốc độ phát triển của nền kinh tế,
tài chính khi xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ
đông hoặc theo yêu cầu của Cổ đông lớn. Ban kiểm soát báo cáo Đại hội
đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực và hợp pháp của chứng từ, sổ
sách kế toán, báo cáo tài chính và hoạt động của hệ thống kiểm tra kiểm
soát nội bộ.
*Ban Tổng Giám đốc và Giám đốc Tài chính:
Ban Tổng Giám đốc gồm Tổng Giám đốc và 6 Phó Tổng Giám đốc
quản lý điều hành các khối nghiệp vụ của Ngân hàng. Giám đốc Tài
chính thực hiện quản lý về mặt tài chính – kế toán trong toàn hệ thống
HDBank.
Các thành viên trong Ban Tổng Giám đốc và Giám đốc Tài chính đều là
những chuyên gia với kiến thức và kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh
vực tài chính, ngân hàng, kế toán, pháp lý, kinh doanh.
*Ban Tín dụng:
Ban tín dụng có các chức năng :
- Nghiên cứu, đánh giá và tư vấn cho Tổng giám đốc các hồ sơ ủy thác
cho vay, hợp vốn cho vay và vay bảo lãnh của Ngân hàng.
- Tham vấn cho Tổng giám đốc các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh khác
nhau nhằm đưa ra những quyết định chính xác, hiệu quả, giảm thiểu rủi
ro.
*Hội đồng Quản lý tài sản Nợ và Có :
Hội đồng Quản lý tài sản Nợ và Có tham mưu, đề xuất với Tổng Giám
đốc các vấn đề sau:
- Quyết định biện pháp giải quyết tồn tại hiện tại hoặc thực hiện bất cứ
thay đổi cần thiết để phân bổ Tài sản và Nợ trên bảng cân đối kế toán
dựa trên nhận định xu hướng thị trường nhằm khai thác rủi ro vì mục tiêu
lợi nhuận hoặc quản lý các tác động ấu tiềm tàng (rủi ro) có thể ảnh
hưởng đến kinh doanh. Thông qua đó, Hội đồng có trách nhiệm đề xuất
cập nhật, chỉnh sửa các chính sách rủi ro thị trường hiện hành hoặc thực
hiện đối sách tức thời phù hợp mà chính sách rủi ro thị trường chưa chi
khiếu nại của nhân viên liên quan đến các vấn đề nội bộ Ngân hàng.
1.2. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của PGD Nam Đô – CN
Hà Nội
1.2.1. Giới thiệu về Phòng giao dịch Nam Đô – Chi nhánh Hà Nội
PGD Nam Đô – Chi nhánh Hà Nội thuộc hệ thống chi nhánh, phòng giao
dịch của ngân hàng phát triển TP Hồ Chí Minh được khai trương ngày 29
tháng 12 năm 2010, PGD có trụ sở tại số 145 phố Vọng, phường Đồng
Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Phòng giao dịch Nam Đô ra đời trước
yêu cầu cấp thiết của việc mở rộng mang lưới hoạt động kinh doanh và đa
dạng hóa các loại hình dịch vụ của ngân hàng phát triển TP Hồ Chí Minh,
đưa các dịch vụ của HDBANK đến khách hàng thuận lợi hơn đối với khu
vực khách hàng giàu tiềm năng ở quận Hai Bà Trưng - Hà Nội.
Tuy mới chính thức đi vào hoạt động được hơn một năm, nhưng cùng với
toàn hệ thống HD Bank trên toàn quốc, phòng giao dịch Nam Đô – Chi
nhánh Hà Nội cũng đã có những bước tiến vững chắc trở thành một trong
những Phòng giao dịch khá vững mạnh của HD Bank và nâng cao vị thế
uy tín của ngân hàng trên thị trường ngân hàng Hà Nội.
1.2.2. Chức năng của PGD Nam Đô – CN Hà Nội
Phòng giao dịch có những chức sau :
- Thực hiện các nghiệp vụ cho vay và huy động tiền gửi, cung cấp các sản
phẩm dịch vụ phù hợp theo quy chế, quy định của ngân hàng;
- Tổ chức hạch toán kế toán và bảo quản an toàn kho quỹ;
- Thực hiệncông tác tiếp thị phát triển thị phần, bảo vệ thương hiệu,
nghiên cứu, đề xuất cácnghiệp vụ phù hợp cho yêu cầu địa bàn hoạt động.
Đồng thời, phòng giao dịch cũng tổ chức công tác quản lý hành chánh,
đảm bảo an toàn và quản lý nhân sự tại đơn vị.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHO VAY DNVVN TẠI NH TMCP
Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã.
Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh theo Nghị định
02/2000/NĐ- CP ngày 03/02/2001 về đăng ký kinh doanh.
2.1.2. Đặc điểm của DNVVN
DNVVN chiếm đại đa số trong tổng số DN tại các quốc gia và
đóng góp lớn vào việc thực hiện các chính sách về kinh tế - xã hội. Hoạt
động của DNVVN luôn gắn liền với thể chế chính sách và trình độ phát
triển của quốc gia đó. Nhìn chung, các DNVVN ở Việt Nam cũng mang
những đặc điểm tương đồng với DNVVN ở các nước đang phát triển.
Những đặc điểm đó là:
Thứ nhất, DNVVN năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi
của thị trường.
Đây là một trong những đặc điểm ưu việt của DNVVN. DNVVN chủ yếu
hoạt động trong các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho
xã hội. Với mặt hàng phong phú đa dạng, thỏa mãn được nhu cầu tiêu
dùng và nhu cầu sản xuất kinh doanh của các DN lớn đã giúp cho các
DNVVN dễ dàng chiếm được thị trường. DNVVN luôn phải hướng đến
thị hiếu của người tiêu dùng, vì vậy có thể nói đây là lực lượng phản ánh
tín hiệu của thị trường chính xác nhất. Mặt khác, với số vốn ít, vòng quay
vốn của các DNVVN thường là ngắn, các phương án sản xuất kinh doanh
không lâu dài như các DN lớn. Với lợi thế đó, DNVVN dễ dàng thay đổi
quy mô, thay đổi sản phẩm khi có sự thay đổi của thị trường. So với các
DN lớn, DNVVN không gặp nhiều tổn thất khi thị trường biến động, có
thể nói DNVVN là những “thanh giảm xóc” đắc lực cho nền kinh tế.
Thứ hai, các DNVVN hiện nay đã chú trọng đổi mới công nghệ nhưng
còn tương đối lạc hậu, không đồng bộ và trình độ quản lý còn yếu kém.
Công nghệ tốt giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, sản xuất ra
được các sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, đáp ứng được nhu cầu
của người tiêu dùng và giảm bớt chi phí sản xuất, nhờ đó tăng năng lực
Thứ ba, DNVVN góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề lao động và việc
làm, nhưng phần lớn đội ngũ lao động còn yếu kém.
Khác với các DN và các tập đoàn kinh tế lớn, đội ngũ lao động của
DNVVN có trình độ khá đa dạng. Từ lao động thủ công, lao động có tay
nghề đến lao động có trình độ cao đều có cơ hội làm việc tại các
DNVVN, trong đó phần lớn là lao động với trình độ thấp. Chính vì vậy
việc quản lý và sử dụng lao động tại các DN này thường không hiệu quả.
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc chất lượng lao động tại các DNVVN
còn thấp là do đặc thù ngành nghề của DN. Như đã nói ở trên, các
DNVVN chủ yếu cung cấp các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu cho xã hội,
trong đó chủ yếu là các sản phầm tiêu dùng và các sản phẩm truyền
thống.
Ngoài các ngành mới nổi như điện tử, viễn thông…thì các DNVVN chủ
yếu hoạt động trọng các ngành nghề quen thuộc như dệt may, thủy sản,
chế biến lương thực thực phẩm…Trong khâu sản xuất của những ngành
này thường không yêu cầu cao về trình độ lao động, chủ yếu sử dụng lao
động tay chân hoặc lao động truyền thống, không qua đào tạo chính quy.
Ngoài ra DNVVN chủ yếu được hình thành từ hộ kinh doanh cá thể, Hợp
tác xã, hoặc một nhóm người có quan hệ gia đình, bạn bè lập nên, do đó
tính chọn lọc không cao. Với đội ngũ lao động không qua trường lớp,
hoạt động của các DNVVN càng trở nên trì trệ và lỗi thời so với các DN
lớn.
Bên cạnh đó, khả năng thu hút lao động có trình độ cao cũng là một
nguyên nhân chính dẫn đến việc chất lượng lao động DNVVN còn yếu.
Với quy mô vốn nhỏ và trình độ quản lý hạn chế của chủ DN, các
DNVVN thường không tạo ra được môi trường làm việc hấp dẫn đối với
đội ngũ lao động chuyên nghiệp. Những DN, tập đoàn kinh tế lớn mạnh
với môi trường làm việc giàu kinh nghiệm và đem lại nhiều giá trị gia
đình, bạn bè, và một số là từ vay các cá nhân khác với lãi suất cao. Vì vậy
DNVVN rất khó mở rộng quy mô vốn.
Bên cạnh đó, việc tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNVVN còn gặp
nhiều khó khăn. Chính tình trạng này đã khiến cho các DNVVN thiếu các
dịch vụ kinh doanh tiên tiến nhằm đáp ứng thị trường, và không theo kịp
tốc độ cạnh tranh của nền kinh tế quốc tế.
2.1.3. Vai trò của DNVVN
Thứ nhất, DNVVN đóng góp lớn vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân,
góp phần giải quyết công ăn việc làm và ổn định kinh tế xã hội.
Hiện nay ở các quốc gia trên thế giới , DNVVN đều chiếm tỷ lệ áp đảo
trong tổng số DN. Tỷ lệ này ở Việt Nam là khoảng 96%. Một trong
những lí do khiến cho đội ngũ các DNVVN luôn chiếm đại đa số là do
việc thành lập DN khá dễ dàng. Mỗi nước có một quy định khác nhau
trong việc cho phép thành lập DNVVN, tuy nhiên yêu cầu đặt ra thường
thấp, cụ thể ở VN quy định DN phải có vốn điều lệ là 10 tỷ đồng. Theo
thống kê hiện nay, hàng năm lực lượng các DNVVN tại Việt Nam đóng
góp khoảng 40 % vào sản lượng của nền kinh tế và thu hút khoảng 28 %
lao động. Mặt khác, các DNVVN phần lớn được phát triển từ hình thức
kinh tế hộ gia đình, với các loại hình thu hút được nhiều lao động phổ
thông, bao gồm lao động nhàn rỗi ở nông thôn, lao động qua đào tạo dạy
nghề nhiều cấp bậc, và một bộ phận lao động có trình độ cao. Với biên độ
về trình độ lao động lớn như vậy, các DNVVN góp phần giải quyết vấn
đề công ăn việc làm triệt để hơn, giúp nâng cao hiệu quả xã hội, thực hiện
các chính sách vĩ mô về việc làm và phát triển kinh tế.
Thứ hai, hoạt động của các DNVVN tạo ra sự cân đối giữa các vùng
miền, các ngành nghề kinh tế.
DNVVN có cơ cấu ngành nghề khá đa dạng và phong phú, bao gồm cả
các lĩnh vực truyền thống và hiện đại. Bên cạnh các ngành nghề nông,
lâm, nghiệp, thủy sản…, còn có các dịch vụ mới phát triển giúp cho nền
kinh tế năng động hơn. Bên cạnh đó, tại các thành phố lớn thường tập
Thứ tư, DNVVN hỗ trợ hiệu quả các khâu sản xuất kinh doanh cho DN
lớn, là nền tảng để hình thành các DN lớn mạnh trong nền kinh tế thị
trường. Bất cứ DN nào muốn lớn mạnh cũng phải xuất thân từ một
DNVVN. Vì vậy, việc phát triển lực lượng DNVVN sẽ tạo đà cho nền
kinh tế phát triển vững chắc và hội nhập sâu rộng vào sân chơi thương
mại quốc tế.
Bên cạnh đó, cùng với việc phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc,
các DNVVN cũng ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ
hoạt động cho các DN lớn. DNVVN có thể thực hiện các khâu gia công,
đóng gói, vận chuyển, phân phối ra thị trường, nhận thực hiện một phần
của các dự án hoặc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của các DN, các tập đoàn kinh tế lớn mạnh hơn. Đây là sự
phân phối khối lượng công việc một cách tất yếu khách quan, tiết kiệm
thời gian và chi phí, tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong
nền kinh tế thị trường và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho xã hội
2.2. Thực trạng cho vay DNVVN tại PGD Nam Đô – CN Hà Nội
Phòng giao dịch Nam Đô – Chi nhánh Hà Nội mới được thành lập ngày
29 tháng 12 năm 2010 nên các số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh
còn hạn chế, do đó em xin được tham khảo thêm các số liệu trong báo cáo
tài chính của HDBank trong 3 năm gần nhất 2009,2010,2011.
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu về hoạt động của HDBank trong 3 năm gần
nhất
Đơn vị :
triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Giá trị
269.409
38,72%
426.497
58,31%
Tỷ lệ chia cổ tức 10% 14% 4% Dự kiến 14%
0%
( Nguồn: BCTC kiểm toán năm 2009, 2010 và BCTC Quý IV năm 2011
của HDBank)
Năm 2009 được đánh dấu là năm tăng trưởng mạnh và toàn diện của
HDBank sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Với sự tăng
mạnh về tổng tài sản, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng, lợi nhuận
sau thuế của HDBank đạt 194,2 tỷ đồng. Trong năm 2010, mặc dù tình
hình kinh tế không thuận lợi cho ngành ngân hàng nói riêng và ngành tài
chính nói chung với những biến động phức tạp về lãi suất và tỷ giá nhưng
HD Bank vẫn đạt được những kết quả kinh doanh khá khả quan. Tính đến
cuối năm 2010, tổng tài sản và tổng vốn huy động tăng trên 78% so với
năm 2009. Tổng dư nợđạt 11.728 tỷđồng, tăng 3.497 tỷđồng, tương ứng
tăng 42,5% so với năm 2009. Lợi nhuận sau thuế cũng đạt con số tăng ấn
tượng với tỷ lệ trên 38% so với năm 2009. Sang năm 2011, nền kinh tế
phải đối mặt với nguy cơ lạm phát tăng cao, NHNN thắt chặt tín dụng và
cuộc đua lãi suất giữa các NHTM ngày càng diễn ra gay gắt nhưng
HDBank vẫn đảm bảo vị thế của mình trong ngành với kết quả kinh
doanh đáng khích lệ. Đến hết năm 2011, tổng tài sản, tổng vốn huy động,
tổng dư nợ tăng hơn cả năm 2010 với tỷ lệ tương ứng 31,17%, 30,13% và
18,08%. Lợi nhuận trước thuế 566 tỷđồng, đạt 94,3% kế hoạch năm 2011
do ĐHĐCĐđề ra. Lợi nhuận sau thuế đạt trên 426 tỷ, tăng 58,31% so với
năm 2010.
Bảng 2.2. Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn vay qua các năm của
HDBank
Đơn vị : triệu đồng
PGD Nam Đô – CN Hà Nội tuy mới chính thức đi vào hoạt động nhưng
bộ máy tổ chức cũng đã dần ổn định, mô hình tổ chức mới được triển
khai cũng đã mang lại nhiều kết quả tốt do có sự chỉ đạo thường xuyên,
kịp thời của HĐQT, sự năng động của Ban điều hành và nỗ lực của toàn
thể Cán bộ công nhân viên trong PGD. Cụ thể, PGD Nam Đô – CN Hà
Nội đã đạt được những kết quả như sau:
Thứ nhất, số lượng DNVVN có quan hệ tín dụng với NH đã tăng lên
đáng kể.
Thứ hai, doanh số cho vay và dư nợ cho cho vay đối với DNVVN tăng
trưởng nhanh và đều về quy mô.
Thứ ba, cơ cấu cho vay DNVVN chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm
dần tỷ trọng cho vay DN xây lắp và đa dạng hóa cho vay tài trợ hoạt động
xuất nhập khẩu, thương mại và dịch vụ. Bên cạnh đó, trong tổng dư nợ
cho vay đối với DNVVN, tỷ trọng dư nợ trung dài hạn bắt đầu gia tăng,
cho thấy NH đã bắt đầu hướng đến đáp ứng nhu cầu của các DNVVN.
Thứ tư, PGD thực hiện chủ trương mở rộng đối tượng khách hàng, không
phân biệt thành phần kinh tế, đối xử bình đẳng với các DN ngoài quốc
doanh. Tỷ trọng cho vay DNNN đã giảm dần qua các năm và gia tăng cho
vay đối với các DN ngoài quốc doanh, đặc biệt là DNVVN.
Thứ năm, chất lượng tín dụng đối với DNVVN hiện đang được kiểm soát
tốt. Tỷ lệ dư nợ có TSĐB là tương đối cao, tỷ lệ nợ quá hạn duy trì ở mức
thấp so với kế hoach đề ra. Đây là một thành công của Chi nhánh trong
việc đảm bảo chất lượng tín dụng. Năm 2007 được coi là năm thành công
trong việc xử lý nợ xấu và thu hồi nợ ngoại bảng, hội đồng tín dụng và tổ
thu nợ đã tập trung hoàn thiện hồ sơ trình NH TMCP phát triển nhà
TP.HCM duyệt hạch toán ngoại bảng đối với những khách hàng có nợ
xấu; tích cực bám sát doanh nghiệp, lên kế hoạch cụ thể và chi tiết theo
từng khách hàng, từng món nợ để thu hồi tối đa nợ hạch toán ngoại bảng.
trung dài hạn đối với DNVVN đã có sự tăng trưởng, tuy nhiên tỷ trọng
trên doanh số cho vay còn thấp, chỉ chiếm khoảng 28,5%. Nhu cầu vay
vốn trung, dài hạn của các DNVVN là rất đa dạng, và đây là mảnh đất
tiềm năng để các NH nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Thứ ba, tỷ trọng cho vay DN ngoài quốc doanh đạt 58 % dư nợ cho vay
DNVVN là còn thấp, chưa phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội.
Thứ tư, Cho vay đối với những ngành xây lắp và cơ khí còn tương đối
cao.
3.2.2. Nguyên nhân
Qua tổng kết ở trên, có thể thấy công tác cho vay DNVVN tại PGD Nam
Đô - CN Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế, chưa khai thác được tiềm năng
của khách hàng trên địa bàn hoạt động. Những hạn chế đó trước hết xuất
phát từ những nguyên nhân thuộc về phía ngân hàng.
3.2.2.1. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, PGD Nam Đô - CN Hà Nội mới đi vào hoạt động nên chưa xây
dựng được cho mình chính sách tín dụng phù hợp đối với DNVVN.
Trước hết, chính sách khách hàng của PGD thiếu linh hoạt và thực hiện
chưa hợp lí. Chính sách khách hàng của NH bao gồm các chính sách tiếp
thị, phân loại khách hàng, tìm hiểu nhu cầu khách hàng và đa dạng hóa
sản phẩm nhằm tối đa hóa lợi ích của khách hàng…PGD đã đẩy mạnh
nghiên cứu thị trường, tích cực tiếp thị tới khách hàng nhưng chưa hiệu
quả, nguyên nhân là chưa nắm bắt được nhu cầu của các đối tượng khách
hàng khác nhau, chưa chú trọng vào việc đa dạng hóa các phương thức
cho vay. Hiện nay PGD Nam Đô - CN Hà Nội mới chủ yếu cho vay trực
tiếp từng lần, một số ít KH truyền thống thì cho vay theo hạn mức, các
hình thức cho vay khác chưa phổ biến.
Chính sách lãi suất và phí suất tín dụng của PGD còn cứng nhắc. Việc áp
dụng lãi suất và các loại phí còn mang nặng tính rập khuôn, chưa có quy
* Nguyên nhân thuộc về DNVVN
Việc liên kết giữa NH và DNVVN còn nhiều hạn chế và nguyên nhân
không chỉ xuất phát từ phía NH. Tâm lí cẩn trọng của NH khi cho vay
phần lớn xuất phát từ bản thân DN.
Thứ nhất, tính minh bạch về tài chính của DN chưa cao, đặc biệt trong
việc sử dụng các hệ thống kế toán chuẩn, lập báo cáo tài chính chưa đạt
yêu cầu. Các loại báo cáo chứng minh khả năng tài chính của DN thiếu
minh bạch, không có chứng nhận của các công ty kiểm toán độc lập.
Chính những điều đó gây ra rất nhiều khó khăn cho NH trong quá trình
thẩm định, nghi ngờ tình hình hoạt động kinh doanh của DN và hạn chế
trong phê duyệt cho vay.
Thứ hai, các DNVVN hoạt động manh mún, nhỏ lẻ, không tập trung
khiến cho NH khó tiếp cận với DN. Trên địa bàn quận Hoàng Mai, một
số DN và các làng nghề truyền thống nằm rải rác ở khu vực giáp ranh với
các quận, huyện khác, nên gây khó khăn cho NH trong việc tìm kiếm, tiếp
cận và phổ biến các quy định mới cũng như trao đổi về các thủ tục cho
vay.
Thứ ba, DNVVN thiếu hiểu biết về các dịch vụ và thủ tục của NH. Bản
thân DNVVN thường ở thế bị động, chỉ tìm đến những phương thức cho
vay truyền thống của NH mà chưa chủ động tìm hiểu tính ưu việt trong
các loại sản phẩm mới. Bên cạnh đó, quá trình làm việc giữa NH với
DNVVN còn nhiều bất cập, do DN thiếu hiểu biết về thủ tục cho vay của
NH. Mặt khác do DN thiếu kinh nghiệm nên thường xuyên phải chỉnh
sửa, bổ sung hồ sơ, gây mất thời gian, tốn kém chi phí cho cả NH và DN.
Thứ tư, khả năng lập dự án đầu tư còn yếu và thiếu tính thuyết phục. Các
DNVVN do chưa có kinh nghiệm và chưa đầu tư kĩ lưỡng để nghiên cứu
thị trường, nghiên cứu các rủi ro có thể xảy ra nên phương án sản xuất
kinh doanh còn nhiều thiếu sót. Các NH thường gặp khó khăn khi thẩm
định và không đánh giá chính xác được tính khả thi của dự án, dấn đến
hạn chế khả năng cho vay trung, dài hạn của NH.
Mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phát
triển thành phố Hồ Chí Minh - Phòng giao dịch Nam Đô - chi nhánh Hà
Nội ” để làm chuyên đề tốt nghiệp.
Trong chuyên đề tốt nghiệp này, do thời gian thực tập chưa nhiều nên em
xin được nêu một cách khái quát những vấn đề cơ bản về hoạt động cho
vay, đối tượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ , thực trạng cho vay doanh
nghiệp vừa và nhỏ, kết quả đạt được và những hạn chế hiện tại tạị NH
TMCP phát triển TP.HCM - Phòng giao dịch Nam Đô - CN Hà Nội.
Cuối kỳ thực tập, sau khi được tìm hiểu sâu hơn về hoạt động cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong chuyên đề tốt nghiệp, em sẽ làm rõ hơn
những vấn đề nêu trên và đưa ra một số giải phát, kiến nghị nhằm phát
triển hoạt động này tại NH TMCP phát triển TP.HCM - Phòng giao dịch
Nam Đô - CN Hà Nội.
Qua báo cáo tổng hợp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giáo
viên hướng dẫn - Ts. Nguyễn Thị Minh Huệ và ban lãnh đạo cùng toàn
thể các nhân viên trong phòng Tín dụng tại NH TMCP phát triển
TP.HCM, PGD Nam Đô – chi nhánh Hà Nội đã chỉ bảo, giúp đỡ tận tình
để em hoàn thành bản báo cáo tốt nghiệp này !
Sinh viên
thực hiện
Nguyễn
Thị Lan
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2009, 2010 và báo cáo tài chính
Quý IV năm 2011 của HDBank
2.
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………
Ts.Nguyễn Thị
Minh Huệ