HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
___________________
Nguyễn Phương Duy HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM
TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2013



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ Đề tài "Hoàn thiện hoạt động Bảo
hiểm tiền gửi tại Việt Nam" là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu đề cập trong Luận văn là trung thực và có
nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.

Tp. Hổ Chí Minh, ngày tháng năm
Học viên
Nguyễn Phương Duy

MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ
Mở đầu
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1
1.1. Bảo hiểm tiền gửi 1
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi 1
1.1.2. Bản chất bảo hiểm tiền gửi 2
1.1.3. Đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi 3

2.3. Hạn chế của hoạt động BHTG và nguyên nhân 57
2.3.1. Hạn chế 57
2.3.2. Nguyên nhân 60
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI
VIỆT NAM 65
3.1. Định hướng phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 65
3.2. Các giải pháp 65
3.2.1. Về phía Nhà nước 65
3.2.2. Đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 75
3.2.3. Đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi 85
3.2.4. Đối với người gửi tiền 87
Kết luận 88
Tài liệu tham khảo

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BH
Bảo hiểm
BHTG
Bảo hiểm tiền gửi
BTC
Bộ Tài Chính
CDIC
Công ty BHTG Canada
DICJ
Công ty BHTG Nhật
DIV
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
DN
Doanh nghiệp
EU

Tổ chức tài chính
TCTD
Tổ chức tín dụng
TCTG BHTG
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
TD
Tín dụng
TG
Tiền gửi
UBGS
Ủy ban giám sát
VN
Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa BHTG với các loại bảo hiểm khác 3
Bảng 2.1 Qui định hiện hành liên quan đến hoạt động BHTG 38
Bảng 2.2 Tình hình các tổ chức tham gia BHTG giai đoạn 2010-2012 47
Bảng 2.3 Tình hình kiểm tra tại chỗ các TCTG BHTG giai đoạn 2005-2012 52
Bảng 2.4 Tỷ lệ quỹ BHTG mục tiêu giai đoạn 2000-2012 57
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Quan hệ bảo hiểm tiền gửi 2
Hình 1.2 Mô hình tổ chức mạng an toàn tài chính quốc gia 16
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của BHTG Việt Nam 35
Hình 2.2 Cơ cấu mạng an toàn tài chính quốc gia của Việt Nam 37

Nghiên cứu trong đề tài tiếp cận việc sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên
cứu cơ bản: (i) phương pháp phân tích và tổng hợp; (ii) phương pháp thống kê và so
sánh, kết hợp với việc quy chiếu các văn bản quy phạm và thông lệ quốc tế.
BHTG là lĩnh vực có quy mô lớn dẫn đến những khó khăn trong việc tiếp
cận, thu thập số liệu; do đó, nghiên cứu sử dụng nguồn thông tin thứ cấp và kế thừa
các kết quả nghiên cứu trước đây.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và
các hoạt động của ngân hàng thương mại và người gửi tiền có liên quan. Nghiên cứu
tiến hành xem xét kinh nghiệm của thế giới, công tác quản lý hoạt động BHTG và
các nhân tố ảnh hưởng của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN).
Nghiên cứu giới hạn ở các vấn đề có tính chất nguyên lý, chuẩn mực về quản lý và
không vận dụng trực tiếp các mô hình toán học để giải quyết các vấn đề.
Nghiên cứu tập trung vào những thay đổi trong cách nhìn nhận về bảo hiểm
tiền gửi từ sau cuộc khủng hoảng thế giới năm 2008. Nghiên cứu có khảo sát sự thay
đổi chính sách của các nước trên thế giới trong lĩnh vực này và chỉ tập trung các giải
pháp cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của kết quả nghiên cứu
Về mặt khoa học, kết quả của nghiên cứu hệ thống hóa có chọn lọc những lý
luận cơ bản về quản lý hoạt động BHTG của cơ quan BHTG.
Vể mặt thực tiễn, trên cơ sở đánh giá thực trạng, tham chiếu với một số quốc
gia và vùng lãnh thổ, nghiên cứu đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công
tác quản lý hoạt động BHTG của BHTGVN.
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở nước ngoài:
BHTG ra đời từ năm 1934 nên đến nay đã có nhiều nghiên cứu được công
bố. Các kết quả nghiên cứu đã làm rõ bản chất và sự cần thiết của BHTG, đồng thời
làm rõ một số nội dung của hoạt động BHTG. Việc quản lý rủi ro trong hoạt động
BHTG được đề cập trong nghiên cứu "Deposit insurance and crisis management"

chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về bảo hiểm tiền gửi
Chương 2 Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1. Bảo hiểm tiền gửi
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
Kể từ khi hoạt động BHTG xuất hiện đến nay đã có rất nhiều khái niệm về
hoạt động này:
- Từ điển kinh tế OxFord phát hành năm 1997 : “BHTG là dịch vụ bảo hiểm rủi
ro các NH hoặc các trung gian tài chính bị phá sản cho người có tiền gửi tại các NH
hoặc trung gian tài chính đó”.
- Qui chế bảo hiểm của công ty BHTG Canada: “BHTG bảo vệ những khoản
tiền gửi qui định tại các tổ chức thành viên của hệ thống BHTG trong trường hợp tổ
chức thành viên bị phá sản. Nếu một tổ chức thành viên bị phá sản, công ty BHTG sẽ
đứng ra bồi thường cho những người gửi tiền tại tổ chức đó”
- Luật BHTG việt Nam số 06/2012/QH13: “BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền
gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi TCTG BHTG lâm
vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”
Như vậy, cam kết công khai này được thể hiện dưới hình thức một hợp dồng BH
gồm có ba đối tượng: tổ chức BHTG, tổ chức tham ga BHTG và người gửi tiền thuộc
đối tượng được bảo hiểm.
- Tổ chức bảo hiểm tiền gửi: Là đối tác nhận đóng góp tài chính từ các TCTG
BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền gửi được BH đến người gửi tiền thuộc
đối tượng được BH tại TCTG BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả

Cơ sở để gọi dịch vụ BHTG là hàng hóa công không thuần túy, căn cứ vào
tính chất không loại trừ thụ hưởng một cách tuyệt đối dịch vụ này. Xuất phát từ một
trong các mục đích của hoạt động BHTG là góp phần đảm bảo tính ổn định của hệ
Người gửi tiền
Tổ chức BHTG
Tổ chức tham gia
BHTG
Cam kết
Chi trả
Nộp phí
Gửi tiền

3

thống tài chính quốc gia, người thụ hưởng dịch vụ BHTG là toàn xã hội. Người gửi
tiền có tiền gửi thuộc đối tượng được BH sẽ được lợi trực tiếp từ chính sách BHTG
qua việc họ được tổ chức BHTG chi trả tiền BH khi tổ chức nhận tiền gửi của họ bị
đóng cửa và mất khả năng thanh toán. Công tác giám sát các TCTG BHTG tạo điều
kiện để các tổ chức này hoạt động hiệu quả hơn và tính ổn định của hệ thống tài chính
giúp cho người vay sử dụng tiền vay an toàn và hiệu quả. Bên cạnh đó, khi hệ thống
tài chính được khỏe mạnh, hoạt động hiệu quả thì có tác dụng tích cực đối với sự phát
triển của những ngành nghề, lĩnh vực trong xã hội Chính vì lẽ đó mà BHTG được
xếp vào hàng hóa công không thuần túy.
1.1.3. Đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi
BHTG cũng mang đặc điểm của BH nói chung là nguyên tắc lấy "số đông bù
số ít" nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro cho khách hàng, song đặc thù của BHTG là
thực hiện chính sách công nhằm mục tiêu bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo
an toàn hoạt động NH mà rộng hơn là hệ thống tài chính. Vì vậy, BHTG khác với các
loại BH khác ở một số đặc điểm cơ bản trình bày trong bảng 1.1.
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa BHTG với các loại bảo hiểm khác

thông qua việc thu phí từ các TCTG BHTG và việc tham gia của các tổ chức này
không bắt buộc mà hoàn toàn tự nguyện. Hoạt động của DN bảo hiểm này chỉ nhằm
vào mục tiêu lợi nhuận là chính.
Hệ thống BHTG tư nhân không được thiết lập bằng luật, nó có rất ít hoặc
không có nghĩa vụ pháp lý chi trả cho người gửi tiền và không nhận được sự trợ giúp
của Chính phủ, dẫn đến kết quả là những hệ thống này không thể tự gánh vác được
trách nhiệm mà Chính phủ mới là người gánh chịu tổn thất. Hình thức sở hữu này có
thể làm giảm rủi ro đạo đức. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hầu hết hệ thống BHTG tư
nhân chỉ thực hiện tốt các chức năng của nó khi tình trạng phá sản xảy ra không
thường xuyên và chỉ liên quan đến định chế nhỏ. Còn trong giai đoạn khủng hoảng
kinh tế, khi hệ thống BHTG đang gặp khó khăn, khả năng giảm bớt tổn thất hoặc chi
trả cho người gửi tiền của những hệ thống này càng trở nên khó khăn.
1.1.4.2 Quỹ bảo toàn tiền gửi
Hoạt động BHTG sẽ được thực hiện trực tiếp bởi các NH, của Hiệp hội NH.
Theo đó các thành viên của Hiệp hội sẽ đóng góp tài chính vào quỹ bảo toàn TG để
duy trì hoạt động cũng như năng lực tài chính để luôn sẵn sàng bảo vệ quyền lợi cho
người gửi tiền khi tổ chức thành viên lâm vào tình trạng khó khăn hay phá sản. Hoạt
động của quỹ này cũng nhằm đảm bảo an toàn, tăng cường niềm tin của công chúng
vào hoạt động của các tổ chức trong Hiệp hội.
1.1.4.3 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi độc lập của nhà nước
Tổ chức này thực hiện hoạt động BHTG không vì mục tiêu lợi nhuận mà
nhằm thực hiện chính sách công của Nhà nước. Tổ chức này duy trì hoạt động bằng
cách thu phí từ các TCTG BHTG. Do là một tổ chức tài chính của Nhà nước nên việc
các tổ chức nhận tiền gửi tham gia BHTG là bắt buộc và mức thu phí BHTG được
quy định theo pháp luật. Thông thường, nếu đi theo mô hình này, tổ chức BHTG là tổ

5

chức duy nhất do Nhà nước lập nên hoạt động BHTG sẽ hoạt động trong môi trường
không có đối thủ cạnh tranh như ở các loại hình dịch vụ khác.

này được áp dụng phổ biến hơn mô hình chuyên chi trả.
1.1.5.3 Mô hình giảm thiểu rủi ro
Đây là mô hình tiên tiến và cũng rất phổ biến trên thế giới hiện nay. Theo mô
hình này, tổ chức BHTG được trao những quyền hạn và phạm vi hoạt động rộng lớn
hơn. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền, tổ chức BHTG
theo mô hình này với tư cách là cơ quan GS còn cùng với cơ quan GS khác và Ngân
hàng trung ương (NHNN) thực hiện hoạt động GS và đánh giá rủi ro của các TCTG
BHTG để hỗ trợ hoạt động của các tổ chức này, góp phần bảo đảm sự an toàn của hệ
thống tài chính - tiền tệ quốc gia. Đồng thời thông qua cơ chế tính phí BH dựa trên cơ
sở mức độ rủi ro tạo sự công bằng và động lực cạnh tranh lành mạnh cho các TCTG
BHTG, tiếp nhận xử lý nợ và thu hồi nợ đối với các TCTG BHTG bị phá sản và được
trao quyền thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, đầu tư nhằm bảo toàn phát triển vốn
ban đầu tăng cường sức mạnh TC, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách của Chính
phủ, tiến tới độc lập về TC. Theo đó, nền kinh tế quốc gia cũng nhận được những
hiệu quả to lớn hơn trong việc thực hiện các mục tiêu của chính sách công như phòng
tránh có hiệu quả những đổ vỡ dây chuyền hoặc khủng hoảng TC; khuyến khích tiết
kiệm, tăng trưởng tín dụng, góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế
1.1.6. Các nhân tố chủ yếu trong hệ thống bảo hiểm tiền gửi
1.1.6.1 Năng lực tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức BHTG phải có năng lực TC đủ mạnh để chủ động triển khai các
nghiệp vụ như cho vay hỗ trợ TCTG BHTG, tiếp nhận xử lý và đảm bảo chi trả cho
người gửi tiền khi TCTG BHTG phá sản để tạo lòng tin cho người gửi tiền, tránh tình
trạng rút tiền ồ ạt của người gửi tiền khi nghi ngờ các NH phá sản. Nguồn vốn hoạt
động của tổ chức BHTG được hình thành từ nhiều nguồn có thể bao gồm:
- Vốn cấp hoặc các chủ sở hữu đóng góp: tổ chức BHTG được Chính phủ cấp
ban đầu khi mới thành lập hoặc cấp bổ sung nhằm nâng cao năng lực TC cho tổ chức
BHTG; vốn góp của các chủ sở hữu khi mới thành lập hoặc các đợt tăng vốn của tổ
chức BHTG

7

8

Về chính trị: ở những nước mà thể chế chính trị mang tính xã hội hóa cao, Chính
phủ thường không muốn có sự đổ vỡ kể cả trường hợp NH không tham gia BHTG thì
bằng cách này hay cách khác Chính phủ vẫn phải can thiệp. Vì vậy, cơ chế BHTG bắt
buộc sẽ chia sẻ trách nhiệm cũng như gánh nặng tài chính cho Chính phủ.
 Các loại tiền gửi được bảo hiểm
Tiền gửi có nhiều loại khác nhau như: TG có kỳ hạn, TG không kỳ hạn, TG
tiết kiệm, TG thanh toán, chứng chỉ TG…Chủ sở hữu các loại TG này cũng rất đa
dạng: cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan Chính phủ, các TCTD,…Tùy theo mục đích và
đối tượng được BH mà mỗi nước có quy định cụ thể về loại TG nào được BH.
Tuy nhiên, thông thường có các loại TG sau đây không thuộc diện được BH:
- TG của người được cho là có khả năng xác định được điều kiện TC của một
NH và tác động đến kỷ luật thị trường. Tiêu biểu là các khoản TG của các NH, Chính
phủ và các nhà đầu tư chuyên nghiệp.
- Các khoản TG của các giám đốc và các nhân viên NH.
- Các khoản TG có lợi tức cao cũng loại trừ khỏi BH, hoặc nếu có thì việc bồi
hoàn chỉ giới hạn ở phần vốn gốc với lãi suất thấp.
- Các khoản TG vô danh vì khó xác định được chủ của tài khoản là ai.
- TG bằng ngoại tệ: do các khoản TG này không được cọi là một phần của cung
tiền tệ trong nước nên chúng không được BH nhằm bảo vệ cơ chế thanh toán. Hoặc
đối với các nước đang phát triển thì có thể tổ chức BHTG không có đủ số ngoại tệ
cần thiết để thanh toán cho những người có TG bằng ngoại tệ. Nhiều nước cũng thấy
rằng việc BHTG bằng ngoại tệ sẽ gặp nhiều vướng mắc về kỹ thuật khi tính toán mức
BHTG tối đa quy đổi ra ngoại tệ. Tuy nhiên với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, vấn
đề BHTG cho TG bằng ngoại tệ cũng có nhiều lợi ích, đặc biệt là giúp thu hút được
nhiều nguồn vốn bằng ngoại tệ cho hệ thống NH quốc gia.Hạn mức chi trả tiền gửi
được bảo hiểm
 Hạn mức chi trả BHTG
Hạn mức chi trả BHTG có thể được hiểu là số tiền tối đa mà người gửi tiền

tăng không ngừng của các dịch vụ tài chính mới trong thị trường tài chính – ngân
hàng cũng là một yếu tố thứ ba tác động đến giá trị thực của hạn mức chi trả BHTG.
Mức tăng hạn mức chi trả BHTG cần thỏa mãn nhu cầu của đại đa số người
gửi tiền, vì suy cho cùng tăng hạn mức chi trả BHTG cũng để duy trì niềm tin của

10

người gửi tiền vào hệ thống các tổ chức nhận tiền gửi. Khi người gửi tiền có thêm
một nguồn động viên gửi tiền vào các NH, nền kinh tế sẽ được gia tăng nguồn vốn
đầu vào cho các hoạt động kinh tế - xã hội để phát triển. Tuy nhiên mức tăng hạn
mức chi trả BHTG cũng cần phải xét đến rủi ro đạo đức của các tổ chức nhận tiền
gửi. Hạn mức chi trả cao sẽ khuyến khích các tổ chức này sử dụng TG vào những dự
án có rủi ro cao để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, vì họ đã yên tâm có sự bảo vệ cần
thiết khi đổ vỡ chẳng may xảy ra.
Nguyên tắc chung được thừa nhận là hạn mức chi trả không quá thấp để
khuyến khích người gửi tiền yên tâm gửi tiền vào NH và không quá cao để kiểm soát
rủi ro đạo đức. Có 2 cách thức xác định hạn mức chi trả tiền gửi được BH:
- Xác định hạn mức chi trả TG được BH theo mỗi loại TG:: cách thức chi trả
này khách hàng có thể dễ dàng trốn tránh giới hạn BH bằng cách mở nhiều tài khoản
ở một NH với số tiền bằng hoặc thấp hơn giới hạn được BH.
- Xác định hạn mức chi trả TG được BH theo mỗi khách hàng: việc tập trung
giới hạn BH vào khách hàng tránh được “cạm bẫy trên”, tuy nhiên cần có nhiều thông
tin hơn bởi vì tất cả các tài khoản TG của một khách hàng cần được xác định rõ và
được gộp lại cho mục đích BHTG.
 Phí bảo hiểm tiền gửi
Phí bảo hiểm TG là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG phải nộp cho tổ
chức BHTG để BH cho TG của người gửi tiền tại TCTG BHTG. Việc tổ chức BHTG
thu phí từ các TCTG BHTG mà không thu phí người gửi tiền dựa trên thực tế TCTG
BHTG là đối tượng trực tiếp thực hiện hoạt động rủi ro chứ không phải là người gửi
tiền. điều này cũng góp phần tạo nên sự khác biệt của BHTG so với các hình thức bảo

động. Hạn chế của phương thức này là không có tác dụng khuyến khích các TCTG
BHTG nâng cao chất lượng hoạt động và có thể tạo ra rủi ro đạo đức.
- Phí BHTG trên cơ sở rủi ro: theo phương thức thu phí này, cơ sở để xác định
tỷ lệ phí BHTG là kết quả đánh giá, phân loại TCTG BHTG theo mức độ tín nhiệm.
Tổ chức nào hoạt động với mức độ rủi ro cao hơn sẽ phải chịu tỷ lệ phí BHTG cao.
Ngược lại, tổ chức nào hoạt động tốt, rủi ro thấp sẽ được áp dụng tỷ lệ phí BHTG
thấp. Phí BHTG trên cơ sở rủi ro có nhiều ưu việt,tạo được cơ chế đối xử bình đẳng
giữa các TCTG BHTG, thể hiện xu thế thị trường trong hoạt động BHTG, hạn chế

12

được rủi ro đạo đức phát sinh, thúc đẩy tổ chức BHTG phải đưa ra nhiều thông tin, có
phương pháp để đo lường rủi ro chính xác.Tuy nhiên, tổ chức BHTG cần xác định
một cách chính xác mức độ rủi ro cho từng TCTG BHTG, hoạt động này đòi hỏi chi
phí lớn và nguồn nhân lực có kỹ năng cao.
o Cách thức đóng phí:
- Đóng phí trước: nguyên tắc quan trọng trong hệ thống đóng phí trước là các
NH đóng góp phí BH trước khi phá sản. Cách thức đóng phí này được nhiều nước áp
dụng, ưu điểm chính là tạo được nguồn vốn ổn định cho tổ chức BHTG
- Đóng phí sau: hệ thống đóng phí sau được qui định bằng hợp đồng và dựa vào
khả năng của các NH “sống sót” để đóng góp cho những tổn thất đã xẩy ra. Tuy
nhiên, do việc tính toán và thu phí xảy ra sau khi NH phá sản, việc chi trả ngay lập
tức cho những người gửi tiền trở nên khó khăn hơn, nếu các nguồn vốn khác không
sẵn có, hơn nữa các NH phá sản sẽ không đóng góp vào quỹ những chi phí liên quan
đến thất bại của họ. Nhược điểm trên có thể được cải thiện với sự kiểm soát liên NH,
để tránh những chi phí liên quan đến thất bại của mỗi thành viên. Cơ chế này được
đánh giá cao ở việc giảm bớt gánh nặng cho TCTG BHTG khi nền kinh tế hoạt động
bình thường, ít hoặc không có tổ chức thành viên bị đỗ vỡ
- Kết hợp cả cách thức đóng phí trước và sau: cơ chế thu phí kết hợp này thì có
ưu điểm của cả hai hình thức trên.

chức này sẽ tiếp quản các khoản TG và ttoàn bộ TG của khách hàng được giao dịch
bình thường tại tổ chức tiếp nhận. Các khoản thâm hụt tài sản, phí chuyển giao do tổ
chức BHTG chi trả từ nguồn quỹ BHTG tích lũy được;
- Nếu chưa có tổ chức nào đứng ra mua lại, tổ chức BHTG sẽ sử dụng cơ quan
quản lý tài chính hoặc NH bắc cầu (bridge bank) để tài cơ cấu và quản lý hoạt động
của tổ chức đổ vỡ dưới tên gọi mới (do tổ chức BHTG thành lập) cho đến khi tìm
được một TCTG BHTG khác tiếp nhận
 Chi trả tiền gửi được bảo hiểm
Chi trả tiền BH xảy ra khi TCTG BHTG bị chấm dứt hoạt động và bị mất khả
năng thanh toán. Chi trả BHTG là cách thức cuối cùng áp dụng, khi mà mọi biện
pháp nhằm khôi phục cho TCTG BHTG hoạt động bình thường không còn tác dụng.
Việc chi trả kịp thời, thuận tiện cho người gửi tiền sẽ tăng niềm tin của công chúng

14

với hệ thống NH, dập tắt sự khủng hoảng cục bộ tại NH đổ vỡ, không để lây lan ra hệ
thống. Chi trả BHTG cần thực hiện các công việc:
o Điều kiện cho việc chi trả hiệu quả: người gửi tiền cần biết khi nào tổ chức
BHTG sẽ bắt đầu tiến trình bồi hoàn, khung thời gian tiến hành việc bồi hoàn, hạn
mức chi trả tiền BH. Tổ chức BHTG cần biết càng sớm càng tốt khi nào NH sẽ bị
đóng cửa, việc tiếp cận các số liệu về TG trước khi NH đóng cửa sẽ làm giảm thiểu
rủi ro, rút ngắn thời gian chi trả và giữ được lòng tin của công chúng.
o Đủ tư cách để được chi trả: Việc xác định xem ai là người được bồi hoàn. Các
nhà BH phải đánh giá số tiền của mỗi tài khoản TG vào thời điểm NH đóng cửa, xác
định xem những tài khoản đó có nằm trong phạm vi và giới hạn của hệ thống BHTG.
Các bước quan trọng khác trong tiến trình chi trả bao gồm việc đối chiếu các tài
khoản chưa quyết toán, các khoản mục khác trong việc chuyển đổi, bù trừ và thanh
toán, các luật liên quan đến điều khoản trừ nợ và tài sản thế chấp phải được áp dụng
trong việc xác định số tiền chi trả.
o Thủ tục bồi hoàn cho người gửi: Kiểm tra và đối chiếu các tài khoản dựa trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status