MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CHI NHÁNH NHNN PTNT LÁNG HẠ - Pdf 68

MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CHI NHÁNH NHNN
PTNT LÁNG HẠ
I. Đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay tại chi
nhánh NHNN & PTNT Láng Hạ.
1. Đánh giá những thành tựu đã đạt được.
Từ khi hoạt động cho đến nay, CBCNV chi nhánh Láng Hạ luôn cố gắng nâng cao chất
lượng hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là chất lượng tín dụng của chi nhánh được
đánh giá là một trong những chi nhánh hoạt động tốt nhất trong hệ thống NHNN & PTNT
Việt Nam. Điều này được thể hiện qua số liệu dư nợ năm 2006 là 2057 tỷ đồng (tăng 10%
so với kế hoạch đề ra).
Bảng 12. Tỷ lệ nợ quá hạn qua các năm. (Đơn vị: triệu đồng).
Năm Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Nợ quá hạn 2.789 6.750 9.785
NQH/Tổng dư nợ 0,13% 0,36% 0,48%
( Nguồn: Báo cáo tổng kết kinh doanh các năm 2004-2006).
Số liệu cho thấy, tuy tỷ lệ nợ quá hạn qua các năm có tăng nhưng so với yêu cầu của
trung ương tỷ lệ này là rất thấp (3%). Con số 0,48% của chi nhánh NHNN & PTNT Láng
Hạ là một tỷ lệ nhỏ so với 1,9% tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của toàn hệ thống NHNN
& PTNT Việt Nam năm 2006. Trong đó nợ nhóm 4 là 3.610 triệu đồng, nợ nhóm 5 là
2.865 triệu đồng chủ yếu của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và cho vay tiêu dùng, đời
sống. Kết quả này cho thấy chất lượng tín dụng của chi nhánh Láng Hạ là khá tốt, tỷ lệ rủi
ro tín dụng là khá thấp. Điều này chứng tỏ hoạt động bảo đảm tiền vay của chi nhánh là có
hiệu quả trong việc hạn chế rủi ro tín dụng khi có nợ quá hạn.
Để đạt được hiệu quả trong công tác bảo đảm tiền vay, chi nhánh đã xây dựng cho
mình một quy trình thẩm định tín dụng và thẩm định tài sản phù hợp với quy định của
pháp luật và từng đối tượng khách hàng. Quá trình thẩm định là rất quan trọng nó giúp chi
nhánh thấy được điểm mạnh yếu của khách hàng, những mối quan hệ, khả năng tiềm ẩn
của khách hàng từ đó giúp chi nhánh quyết định có cho khách hàng vay hay không? nếu
cho vay thì hạn mức tín dụng là bao nhiêu? Và với hình thức vay là có bảo đảm bằng tài
sản hay không có bảo đảm. Đồng thời, chi nhánh đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ tín

cho vay không có bảo đảm bằng tài sản vẫn chiếm một tỷ lệ cao, chứng tỏ chi nhánh ưu
tiên cho vay những khách hàng truyền thống hơn, việc cho vay các khách hàng mới là
không nhiều. Danh mục tài sản bảo đảm của chi nhánh chưa thực sự đa dạng, mới chỉ tập
trung vào những tài sản bảo đảm thông dụng có tính thanh khoản cao, điều này gây khó
khăn cho khách hàng khi đến vay không có tài sản bảo đảm như ngân hàng yêu cầu.
Khi thực hiện bảo đảm bằng tài sản, thì khâu định giá tài sản bảo đảm có tính chất
quyết định đến giá trị khoản vay, mức độ an toàn của tài sản bảo đảm. Để xác định được
chính xác giá trị thực cúa tài sản bảo đảm tại thời điểm thực hiện hợp đồng cần phải có
những nhà chuyên môn về lĩnh vực tài sản đó. Nhưng tại chi nhánh hiện vẫn chưa được sự
giúp đỡ tích cực của cơ quan chuyên môn nào về định giá tài sản, nên mọi quyết định phụ
thuộc vào trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng. Trong khi đó cán bộ tín dụng không
thể nào nắm bắt được hết tất cả các thông tin về thị trường, những thông số kỹ thuật, tính
chất đặc trưng của từng loại tài sản, nên việc định giá trị tài sản bảo đảm gặp rất nhiều khó
khăn và thường căn cứ vào mức độ trung bình của thị trường. Để an toàn các ngân hàng
thường hạ thấp giá trị thực tế của tài sản và cho vay với biên độ giao động lớn. Do đó giá
trị của khoản vay bị giảm đi, gây ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn của khách hàng, giảm
hiệu quả của bảo đảm tiền vay.
Theo Nghị định 178/1999/NĐ-CP, việc yêu cầu chứng thực, chứng nhận của cơ quan
công chứng Nhà nước hoặc UBND cấp có thẩm quyền trên hợp đồng bảo đảm chỉ những
trường hợp nhất thiết mới cần như việc thế chấp, cầm cố tài sản, bảo đảm tiền vay bằng
bảo lãnh. Còn các trường hợp khác sẽ theo sự thoả thuận giữa Giám đốc chi nhánh và
khách hàng có cần công chứng, chứng thực hay không. Tuy nhiên, tại chi nhánh Láng Hạ,
hiện nay yêu cầu tất cả các hợp đồng giao dịch bảo đảm đều phải được công chứng, chứng
thực. Trong khi đó thủ tục công chứng hiện nay ở nước ta rất phức tạp, rườm rà, tốn nhiều
chi phí và thời gian, nhất là đối với những hợp đồng bảo đảm có giá trị cao.
Mục đích của việc bảo đảm tiền vay là nhằm thu hồi khoản cho vay của các ngân hàng
một cách an toàn và hiệu quả. Tuy vậy, việc xử lý, phát mại tài sản bảo đảm theo các quy
định của pháp luật rất phức tạp và tốn kém, làm cho mức thu từ tài sản bảo đảm không đủ
để bù đắp tổn thất của chi nhánh như dự kiến ban đầu. Hiện nay, việc xử ý tài sản bảo đảm
để thu hồi nợ theo quy định tại Thông tư 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC

sao cho chi phí bỏ ra là thấp nhất, có được nguồn vốn nhanh và hiệu quả nhất, đồng thời phù
hợp với điều kiện của khách hàng tại thời điểm vay. Nếu các quy định của ngân hàng quá
khắt khe về tài sản bảo đảm hay các thủ tục khác, thì họ có thể chuyển sang các hình thức vay
khác. Khi đó việc sử dụng bảo đảm tiền vay sẽ không đem lại hiệu quả mà còn cản trở ngân
hàng tiếp xúc được với những khách hàng mới. Bên cạnh đó, có khi muốn vay vốn của ngân
hàng, mà tài sản bảo đảm không đủ giá trị hoặc điều kiện tham gia làm tài sản bảo đảm,
khách hàng vẫn cố tình lừa đảo ngân hàng để được vay vốn như mong muốn. Nhiều khi
khách hàng lại cung cấp những thông tin sai sự thật về khả năng tài chính cũng như tình trạng
của tài sản bảo đảm để lừa gạt ngân hàng, làm giảm hiệu quả của bảo đảm tiền vay.
- Ngoài ra, môi trường kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của bảo đảm
tiền vay. Bởi vì bất kỳ một sự thay đổi nào của nền kinh tế, môi trường chính trị, chính sách
kinh tế vĩ mô đều có ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động của khách hàng mà còn ảnh hưởng
tới cả ngân hàng, đặc biệt là giá trị của tài sản bảo đảm. Điều này đòi hỏi ngân hàng phải có
dự báo tốt khi thực hiện hợp đồng bảo đảm.
3. Các giải pháp hoàn thiện hoạt động bảo đảm tiền vay tại chi nhánh NHNN &
PTNT Láng Hạ
Trên cơ sở đánh giá những thành tựu đã đạt được qua 10 năm xây dựng và trưởng
thành cả mặt tích cực và những tồn tại cần khắc phục, ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công
nhân viên trong chi nhánh Láng Hạ đã đúc rút kinh nghiệm và xây dựng cho chi nhánh
chiến lược kinh doanh cho năm 2007 và những năm tiếp theo để có thể tiếp tục duy trì và
nâng cao thành tích hoạt động hơn nữa. Cụ thể là:
 Mục tiêu phấn đấu chung năm 2007:
Nguồn vốn: 6300 tỷ đồng (tăng 16%) trong đó tiền gửi dân cư chiếm 50% tương đương
3150 tỷ đồng.
Dư nợ 2800 tỷ đồng trong đó tỷ lệ nợ trung dài hạn chiếm 45%, dư nợ cho vay khối
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cho vay tiêu dùng, cầm cố đời sống chiếm 40% tổng dư
nợ.
Tỷ lệ nợ xấu (bao gồm nợ qua hạn, nợ khó có khả năng thu hồi) dưới 3%.
Tỷ lệ thu dịch vụ chiếm 15% tổng thu nhập ròng.
Tài chính: đảm bảo có đủ về tài chính để chi lương cho cán bộ công nhân viên theo quy

hội giúp tăng trưởng nguồn tiền gửi có kỳ hạn của chi nhánh.
* Về công tác tổ chức cán bộ và đào tạo: hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng cụ thể
của từng phòng ban, từng đơn vị trực thuộc để nâng cao khả năng tác nghiệp, tránh trồng
chéo, phiền phức cho khách hàng khi đến mở quan hệ. Đẩy mạnh công tác đào tạo và đào
tạo lại đội ngũ cán bộ chi nhánh...
Ngoài ra, chi nhánh cần phải thực hiện tốt công tác kiểm tra kiểm soát, công tác tiếp
thị thông tin tuyên truyền, đẩy mạnh tiến độ ứng dụng công nghệ trong các nghiệp vụ ngân
hàng, xây dựng phong cách giao dịch hiện đại văn minh đối với giao dịch viên để tạo lòng
tin và ấn tượng tốt với khách hàng.
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm tiền vay tại chi nhánh NHNN &
PTNT Láng Hạ:
3.2.1. Đối với cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
Để nâng cao hiệu quả của bảo đảm tiền vay có rất nhiều các giải pháp, trong phần này
trình bày những giải pháp tập trung chủ yếu vào việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng
của tài sản bảo đảm tại chi nhánh Láng Hạ:
- Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng định giá tài sản bảo đảm. Bởi vì việc định giá tài
sản bảo đảm là cơ sở để ngân hàng xác định mức cho vay tối đa và tính toán khả năng thu
nợ vay trong trường hợp buộc phải xử lý tài sản bảo đảm. Chúng ta đã biết một trong
những hạn chế của chi nhánh là việc định giá tài sản bảo đảm chủ yếu dựa vào sự đánh giá
chủ quan của các cán bộ tín dụng, nên tính chính xác còn hạn chế, nếu gặp rủi ro thì giá trị
thanh lý của tài sản bảo đảm có thể không đủ thu hồi nợ gốc và lãi. Do vậy, chi nhánh cần
chú trọng nhiều đến việc định giá tài sản bảo đảm bằng việc: xây dựng một số tiêu thức
định giá tài sản bảo đảm dựa trên những thông tin xác thực có căn cứ khoa học, lập ra hội
đồng định giá tài sản bảo đảm để có quyết định chính xác hơn, công tác thu thập thông tin
về tài sản bảo đảm phải nhanh và chính xác, phải dự tính được mức độ rủi ro để xác định
giá trị của tài sản bảo đảm.
- Thứ hai, chi nhánh cần đa dạng hoá các tài sản bảo đảm. Trong môi trường cạnh tranh
hiện nay, nhu cầu vốn của khách hàng là rất lớn nhưng thị trường vốn cũng rất sẵn để cho
vay đối với những khách hàng đủ điều kiện. Do vậy, để khách hàng dễ tiếp cận với chi
nhánh khi có nhu cầu vay vốn, trước hết danh mục tài sản bảo đảm của chi nhánh cần

vốn của ngân hàng, và ngân hàng mất đi những khách hàng tiềm năng. Tại chi nhánh, tỷ lệ
này chiếm phần lớn nhưng chủ yếu là cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước, cho vay
theo chỉ định của Chính phủ, các thành phần khác hầu như không được áp dụng biện pháp
này. Do vậy để phát triển bền vững trong dài hạn, chi nhánh cần có sự điều chỉnh giảm dần
tỷ lệ cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời tăng dần tỷ lệ cho vay đối với
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có uy tín trên thị trường và kinh doanh có hiệu quả. Để
thực hiện được điều này thì chi nhánh Láng Hạ cần phải xây dựng được hệ thống chỉ tiêu
đánh giá, phân loại khách hàng cụ thể, phù hợp với tính chất hoạt động của chi nhánh. Chi
nhánh có thể tham khảo cuốn “sổ tay tín dụng NHNN & PTNT Việt Nam”, đây được coi là
cẩm nang tín dụng hướng dẫn cho cán bộ tín dụng thực hiện các khâu trong quá trình cho
khách hàng vay khá đầy đủ và chi tiết. Từ đó có thể quyết định xem loại khách hàng nào có
thể được xem xét để áp dụng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
- Thứ hai, chi nhánh cần nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng, bên bảo lãnh của
cán bộ tín dụng. Theo quy trình bảo đảm tiền vay, thẩm định khách hàng là khâu đầu tiên.
Để biết được thông tin mà khách hàng cung cấp có xác thực hay không, ngân hàng cần
thiết phải thẩm định khách hàng. Thẩm định khách hàng đó là việc thu thập các thông tin
về năng lực tài chính của khách hàng, năng lực dân sự, tư cách đạo đức, các mối quan hệ
của khách hàng với đối tác, bạn hàng… để từ đó ngân hàng có thể phân loại được khách
hàng chính xác hơn, ra quyết định hạn mức cho vay là bao nhiêu, nên áp dụng hình thức
bảo đảm tiền vay nào trên cơ sở đã dự tính mức rủi ro của tài sản bảo đảm…Để làm được
điều này, chi nhánh cần có chính sách trọng dụng những cán bộ tín dụng đủ tài năng
chuyên môn, có kinh nghiệm và có đạo đức để có thể xử lý thông tin một cách nhanh nhạy
và chính xác.
Bên cạnh đó chi nhánh cần phải thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng thêm
nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho cán bộ tín dụng của chi nhánh. Đồng thời, trong gian
đoạn hiện nay với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, việc ứng dụng các công nghệ vào
nghiệp vụ ngân hàng đã làm đơn giản đi rất nhiều các thủ tục rườm rà, phức tạp kết nối
giữa khách hàng và ngân hàng một cách trực tiếp với chi phí thấp nhất. Việc đổi mới công
nghệ ngân hàng không những nâng cao chất lượng quản lý nội bộ ngân hàng, chất lượng
dịch vụ của ngân hàng mà còn giúp cho ngân hàng có thể kiểm tra, giám sát, rà soát, quản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status