BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HỒ THỊ THUÝ HẰNG ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG NƯỚC ðẾN
SỐ LƯỢNG VÀ THÀNH PHẦN LOÀI ðỘNG VẬT NỔI
TẠI MỘT SỐ THUỶ VỰC TRÊN ðỊA BÀN
HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HỒ THỊ THUÝ HẰNG ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG NƯỚC ðẾN
SỐ LƯỢNG VÀ THÀNH PHẦN LOÀI ðỘNG VẬT NỔI
TẠI MỘT SỐ THUỶ VỰC TRÊN ðỊA BÀN
Hồ Thị Thúy Hằng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian vừa qua, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, cán bộ, gia đình cùng bạn bè để hoàn
thành luận văn của mình. Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Tài nguyên và Môi trường,
Bộ môn Công nghệ Môi trường, các thầy cô giáo giảng dạy và hướng dẫn thực
tập, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong thời gian qua. Tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới TS. Trịnh Quang Huy, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên, các nghiên cứu viên thực tập và làm việc
tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Công nghệ Môi trường, đặc biệt cảm ơn Ths.
Nguyễn Thị Thu Hà, KS. Hoàng Minh Huế và KS. Lại Thị Thanh Loan đã giúp
đỡ tôi rất nhiều trong công tác thu thập và phân tích mẫu.
Cuối cùng tôi muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất tới bố mẹ, em gái và
những người đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2013
Tác giả
2.2.1. Đặc điểm sinh học của động vật nổi 14
2.2.2. Vai trò của động vật nổi trong hệ sinh thái thuỷ vực 20
2.2.3. Đặc trưng đa dạng ĐVN trong các hệ sinh thái thủy vực Bắc Việt Nam 22
2.3. Nghiên cứu ứng dụng sinh vật trong đánh giá chất lượng môi trường nước 25
PHẦN III. ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.2. Nội dung nghiên cứu 30
3.3. Phương pháp nghiên cứu 30
3.3.1. Thu thập tài liệu thứ cấp 30
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
iv
3.3.2. Khảo sát thực địa và chọn điểm nghiên cứu 30
3.3.3. Đánh giá chất lượng nước các thủy vực nghiên cứu trên địa bàn huyện
Gia Lâm 32
3.3.4. Đánh giá đa dạng động vật nổi 34
3.3.5. Đánh giá ảnh hưởng của chất lượng nước tới đa dạng động vật nổi 37
PHẦN IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
4.1. Chất lượng nước các thủy vực nghiên cứu trên địa bàn huyện Gia Lâm 38
4.2. Đa dạng động vật nổi trong các thủy vực nghiên cứu trên địa bàn huyện
Gia Lâm, thành phố Hà Nội 52
4.2.1 Cấu trúc quần xã động vật nổi tại các thuỷ vực nghiên cứu 52
4.2.2. Biến động cấu trúc quần xã động vật nổi theo không gian và thời gian 56
4.2.3. Đánh giá tổng hợp chất lượng khu hệ động vật nổi trên địa bàn nghiên cứu.61
4.3. Ảnh hưởng của chất lượng nước đến độ đa dạng động vật nổi 63
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1. Kết luận 69
5.2. Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
khác nhau 68 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái thủy vực 20
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí lấy mẫu 31
Hình 3.2. Hình dạng một lưới phiêu sinh 35
Hình 4.1. Khoanh vùng các áp lực tới các thủy vực xã Đa Tốn 40
Hình 4.2. Khoanh vùng các áp lực tới các thủy vực xã Dương Xá 40
Hình 4.3. Biến động một số thông số chất lượng nước theo địa điểm nghiên cứu 43
Hình 4.4. Đặc điểm khí hậu trên địa bàn năm 2011 và đầu năm 2012 46
Hình 4.5. Diễn biến hàm lượng của một số thông số theo mùa 47
Hình 4.6. Khoảng phân bố giá trị WQI tại các thủy vực trong thời gian nghiên cứu…50
Hình 4.7. Tần suất xuất hiện động vật nổi tại các vị trí thu mẫu 54
Hình 4.8. Tần suất xuất hiện động vật nổi tại các thuỷ vực trong thời gian
nghiên cứu 59
Hình 4.9. Diễn biến mật độ Rotatoria, Cladocera và Copepoda theo mùa 61
Hình 4.10. Tương quan giữa chỉ số chất lượng nước với các chỉ số sinh học 64
Hình 4.11: Tần suất xuất hiện của các nhóm ĐVN chỉ thị cho chất lượng nước
tại hai loại hình thủy vực 67 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
1
PHẦN I. MỞ ðẦU
1.1. Tính cấp thiết của ñề tài
Nước mặt là nguồn tài nguyên quý giá và có vai trò quan trọng trong đời
sống và sản xuất của con người, đồng thời cũng là môi trường sống cho rất
nhiều các loài thủy sinh vật. Tuy nhiên, trong những năm gần đây dưới tác
động của quá trình đô thị hóa, và phát triển kinh tế đã làm phát sinh một
lượng lớn chất thải, gây áp lực không nhỏ tới chất lượng nước các thủy vực,
đặc biệt ở các khu vực đông dân cư, khu sản xuất tập trung trong đó có thủ đô
Hà Nội. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia qua các năm 2003,
2006 và 2010 đều cho thấy tình trạng ô nhiễm đang xảy ra ở hầu hết các lưu
vực sông (LVS) lớn như sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai, và cũng
tương tự với các ao hồ, đặc biệt là các ao hồ trong khu vực nội đô và ngoại vi
của các thành phố lớn Riêng khu vực Hà Nội, 4 sông nội đô chính là sông
Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch đều đã bị ô nhiễm, hàm lượng
oxy hòa tan (DO) thường xuyên dao động trong khoảng 0 - 2 mg/l, nhu cầu
oxy sinh hóa (BOD) thường xuyên ở mức 200 mg/l [13]. Chính tình trạng sụt
giảm nghiêm trọng oxy hòa tan trong các thủy vực cùng với việc gia tăng chất
thải đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới các mục đích sử dụng của con người và
ảnh hưởng trực tiếp tới khu hệ sinh vật thủy sinh. Tuy nhiên, các phương
pháp quan trắc lý hóa học đang áp dụng rộng rãi hiện nay lại không phản ánh
được toàn diện diễn biến chất lượng môi trường và không cho thấy được ảnh
hưởng tới các sinh vật thủy sinh. Do đó, trong thời gian gần đây, bên cạnh
những quan trắc đặc trưng lý hóa học, các nhà khoa học đã bắt đầu quan tâm
đến các nghiên cứu về các loài sinh vật thủy sinh; và đẩy mạnh việc nghiên
cứu mối quan hệ của chúng với các đặc tính thủy lý hóa của các thủy vực để
sử dụng chúng như một công cụ mới trong đánh giá chất lượng môi trường
thủy vực này. Do đó, để quản lý và bảo vệ có hiệu quả các thủy vực này cần
có nhiều nghiên cứu để đánh giá toàn diện về chất lượng thủy vực (bao gồm
cả chất lượng nước và chất lượng khu hệ sinh vật sinh sống trong đó).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
3
1.2. Mục ñích và yêu cầu nghiên cứu
1.2.1. Mục ñích nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét ảnh hưởng của chất lượng
nước tới độ đa dạng về số lượng và thành phần loài động vật nổi trong một số
thủy vực trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, tạo cơ sở dữ liệu cho
nghiên cứu quan trắc sinh học lâu dài, hướng tới xây dựng công cụ mới cho đánh
giá chất lượng môi trường nước.
1.2.2. Yêu cầu nghiên cứu
+ Đánh giá được chất lượng nước một số thủy vực nghiên cứu trên địa
bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
+ Đánh giá được độ đa dạng về số lượng và thành phần loài động vật nổi
trong các thủy vực nghiên cứu và biến động theo thời gian.
+ Đánh giá được ảnh hưởng của chất lượng nước đến độ đa dạng động
vật nổi trong các thủy vực nghiên cứu trên địa bàn huyện Gia Lâm.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
4PHẦN II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Một số vấn ñề chất lượng môi trường nước mặt nội ñịa hiện nay
Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc, trong đó, có 13 hệ thống
do khai thác quá mức tài nguyên nước và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
(BĐKH). Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về tài nguyên nước,
ngưỡng khai thác được phép của Việt Nam giới hạn trong phạm vi 30% lượng
dòng chảy, nhưng thực tế hiện nay, hầu hết các tỉnh miền Trung và Tây
Nguyên đã và đang khai thác trên 50% lượng dòng chảy. Riêng tại tỉnh Ninh
Thuận, hiện các dòng chảy đã bị khai thác tới 70 – 80%. Việc khai thác quá
mức các dòng chảy đã làm suy thoái nghiêm trọng về số lượng và chất lượng
tài nguyên nước trên các lưu vực sông (LVS) lớn của Việt Nam như sông
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
5
Hồng, sông Thái Bình và sông Đồng Nai. Bên cạnh đó, nguyên nhân quan
trọng thứ hai do ảnh hưởng của BĐKH, ở Việt Nam mùa mưa và lưu lượng
mưa đang có xu hướng diễn biến thất thường nên hạn hán hoặc úng ngập cục
bộ xảy ra thường xuyên và trên diện rộng hơn. Sự suy kiệt và diễn biến thất
thường của các nguồn tài nguyên nước phản ánh thực tế Việt Nam đã và đang
đứng trước nguy cơ thiếu nước về mùa khô, lũ lụt về mùa mưa gây nhiều thiệt
hại về người và của trên nhiều vùng. Và nghiêm trọng hơn, đó là khi tình
trạng suy kiệt dòng chảy kéo dài, kết hợp với chất thải từ các hoạt động của
con người không ngừng tăng lên, dẫn tới nguy cơ ô nhiễm cục bộ, đặc biệt về
mùa khô ở nhiều vùng.
Về hiện trạng ô nhiễm nước, các nguồn nước mặt nội địa của nước ta
đang đối diện với nguy cơ ô nhiễm bởi các chất thải từ các hoạt động sản
xuất, sinh hoạt của con người. Tình trạng suy giảm chất lượng nước đã và
đang diễn ra trên diện rộng, tập trung ở các LVS lớn chảy qua địa phận các
vùng kinh tế phát triển, khu vực sản xuất tập trung và khu vực đông dân cư
như LVS Nhuệ – Đáy, LVS sông Đồng Nai, các sông, các hồ nội đô và vùng
phụ cận làm chức năng tiêu thoát nước và cảnh quan đô thị.
2.1.1. Hiện trạng chất lượng nước một số các thủy vực ñiển hình
bị ô nhiễm với mức độ khác nhau. Trong đó, các thủy vực tiếp nhận trực tiếp
nước thải bị ô nhiễm nặng nề nhất, thậm chí chất lượng nước ngầm (giếng
khơi, giếng khoan) cũng bị ảnh hưởng.
Xét riêng thành phố Hà Nội – trung tâm kinh tế chính trị của cả nước và
vùng phụ cận, những kết quả nghiên cứu gần đây đều cho thấy dấu hiệu cảnh
báo cho những thủy vực nội thành và cả những phụ vùng sông lớn bao quanh
Hà Nội. Trong khu vực nội thành, hệ thống tiêu dẫn nước thải chính gồm 4
trục sông: Tô Lịch, Sét, Lừ và Kim Ngưu với chiều dài tổng cộng khoảng 40
km và các kênh hở với chiều dài khoảng 30 km. Bản chất các sông này là
những thủy vực có vai trò điều hòa khí hậu, nhưng trước áp lực phát triển,
chất thải từ các hoạt động của con người đều đổ thải xuống các hệ thống này,
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
7
biến chúng từ những sông tiêu úng thành sông chứa và tiêu nước thải. Hiện
nay, hầu hết các thủy vực nước chảy trong nội đô đều có dấu hiệu ô nhiễm
hữu cơ nghiêm trọng, nước có màu đen và mùi hôi thối, vận tốc dòng chảy
chậm, các thông số thủy lý hóa khi phân tích cho thấy hàm lượng BOD, COD
cao, hàm lượng oxy hòa tan (DO) thấp, nhiều vị trí không còn oxy ngay cả ở
khối nước tầng mặt, sản phẩm của các quá trình phân hủy kỵ khí xuất hiện với
hàm lượng lớn gây mùi khó chịu cho khu vực xung quanh. Tuy nhiên, mức độ
ô nhiễm của các sông tiêu thoát nước này khác nhau tùy thuộc vào lượng các
chất ô nhiễm thải xuống, phụ thuộc vào tính chất thủy văn và liên quan đến
khả năng tự làm sạch của thủy vực. Trong 4 hệ thống sông tiêu thoát nước
thải của thành phố Hà Nội, sông Kim Ngưu có mức độ ô nhiễm nặng nhất,
sông Tô Lịch có mức ô nhiễm nhẹ nhất.[19]
Trong hệ thống các thủy vực nước chảy khu vực Hà Nội và phụ cận,
không riêng các sông tiêu nước cho khu vực nội đô mà các lưu vực sông lớn
làm nhiệm vụ cấp nước cho sản xuất cũng có dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng.
sông Nhuệ và ô nhiễm mang tính cục bộ. Một số nơi chỉ chịu ảnh hưởng từ
nước thải sinh hoạt, một số khác lại chịu ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt
và công nghiệp của thành phố Phủ Lý đổ xuống. Một số khu vực nhận nước
thải của Hà Đông như Cầu Mai Lĩnh và hợp lưu với sông Nhuệ như cầu
Hồng Phú, rồi đổ về sông Đáy làm cho nước sông bị ô nhiễm đáng kể, các
thông số đều không đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại B1. Ở hạ lưu sông Đáy
(Kim Sơn – Ninh Bình) nhờ có quá trình pha loãng và tự làm sạch nên nước
sông được cải thiện hơn.[12]
2.1.2. Hiện trạng môi trường nước mặt huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Gia Lâm là huyện cửa ngõ Đông Bắc của thủ đô Hà Nội với diện tích
tự nhiên 114,79 km
2
, dân số khoảng 243.957 người (năm 2011). Vị trí địa lý
của huyện nằm ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội. Phía Bắc của Huyện là quận
Long Biên; phía Tây Nam có địa giới là dòng sông Hồng, bên kia bờ là huyện
Thanh Trì và quận Hoàng Mai; phía Đông Bắc và Đông giáp với các huyện
Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành của tỉnh Bắc Ninh; phía Nam giáp với huyện
Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.Sau Nghị định 132/2003/NĐ-CP của Thủ tướng
chính phủ ra ngày 6/11/2003 được thực hiện, huyện Gia Lâm còn lại 22 đơn
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
9
vị hành chính trực thuộc gồm 2 thị trấn: Yên Viên và Trâu Quỳ; 20 xã: Lệ
Chi, Đình Xuyên, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Trung Màu, Dương Hà, Yên
Thường, Yên Viên, Kim Lan, Cổ Bi, Bát Tràng, Đa Tốn, Dương Xá, Kiêu
Kỵ, Văn Đức, Đông Dư, Dương Quang, Phú Thị, Đặng Xá, Kim Sơn.[30]
Gia Lâm hiện nay là khu vực phát triển đô thị hóa và kinh tế trọng điểm,
là đầu mối của nhiều công trình giao thông và hạ tầng kỹ thuật quan trọng của
sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản cho toàn huyện gồm: hệ thống
thủy lợi Bắc Hưng Hải và hệ thống thủy lợi Bắc Đuống, cả hai hệ thống này
đều lấy nước từ sông Hồng. Theo số liệu thống kê, hai hệ thống này cấp nước
cho 8.255 ha đất nông nghiệp (chiếm 47,5% diện tích của toàn huyện), trong
đó lúa và cây hàng năm chiếm 43,3 %, thủy sản chiếm 3,4%, còn lại là đất
cây lâu năm, vườn tạp và đất trồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc.[30]
Hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải là hệ thống thủy lợi lớn nhất của
đồng bằng Bắc Bộ. Hệ thống này cung cấp nước cho các xã và thị trấn thuộc
cụm Nam Đuống, bao gồm: Thị trấn Trâu Quỳ, Cổ Bi, Đông Dư, Đa Tốn, Bát
Tràng, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Văn Đức, Đặng Xá, Dương Xá, Phú Thị, Dương
Quang, Kim Sơn, Lệ Chi. Còn các đơn vị hành chính Thị trấn Yên Viên, Yên
Thường, Dương Hà, Ninh Hiệp, Đình Xuyên, Phù Đổng, Trung Mầu (còn gọi
là cụm các xã Bắc Đuống) được cấp nước bởi hệ thống thủy lợi Bắc Đuống
lấy nước từ sông Đuống qua các sông chính là sông Thiên Đức, sông Ngũ
Huyện Khê. Tuy nhiên, do quá trình phát triển đô thị và hoạt động công
nghiệp, dịch vụ của khu vực Hà Nội và phụ cận, các con sông này đã có dấu
hiệu suy thoái, không đảm chất lượng nước tưới cho cây trồng.[10]
Sông Thiên ðức hay còn gọi là sông Đuống dài 68 km, nối sông Hồng
với sông Thái Bình. Điểm đầu từ ngã ba Dâu (xã Xuân Canh, huyện Đông
Anh, thành phố Hà Nội tại địa giới giữa 2 đơn vị hành chính là huyện Đông
Anh và quận Long Biên của thành phố Hà Nội). Điểm cuối là ngã ba Mỹ Lộc
(xã Trung Kênh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Về tổng thể sông Đuống
chảy theo hướng tây- đông, là một phân lưu của sông Hồng, trước đây chỉ là
một dòng sông nhỏ, do cửa nối với sông Hồng bị cát bồi cao nên chỉ khi sông
Hồng có lũ lớn mới tràn qua được. Từ năm 1958, cửa sông được mở rộng để
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
11
trở thành một phân lưu quan trọng giảm sức uy hiếp của lũ sông Hồng đối với
Hà Nội. So với lượng lũ của sông Hồng tại Sơn Tây thì sông Đuống tiêu được
Toàn huyện
% 100 86,9 13,1 10,42 70 30
ha
76,4 55,7 20,7 12,3 5 7,3
Các xã Bắc
ðuống
% 12,2 72,9 37,2 16,1 40,7 59,3
ha
287,48 264,77 22,71 4,97 1 3,97
Các xã Nam
ðuống
% 46 92 8 1,7 20 80
ha
261,4 222,7 38,7 48,89 40,5 8,39
Các xã ven ñê
% 41,8 85,2 17,4 18,7 82,0 18,0
(Nguồn: Phòng Kế hoạch và PTNN huyện Gia Lâm, 2010 )
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
12
Ngoài các yếu tố tự nhiên chi phối đến đời sống thủy sinh như chế độ
thủy văn, nền địa chất, thổ nhưỡng, thảm thực vật , các hoạt động kinh tế xã
hội của vùng cũng là những yếu tố gây tác động đến chất lượng môi trường
thủy vực với đặc trưng là các thông số thủy lý hóa học. Từ đó ảnh hưởng đến
hoạt động sinh học diễn ra trong mỗi thủy vực tiếp nhận các tác động trên.
Trên địa bàn huyện Gia Lâm hình thành nhiều các khu vực hoạt động
sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và khu vực dân cư sinh sống nên các thủy
xuất hiện các loài giáp xác chân chèo Calanoida. Trong khi các loài thuộc nhóm
này xuất hiện nhiều ở các loại thủy vực tương tự nhưng vơi pH >5 tới trung tính.
Trong các yếu tố môi trường thủy hóa, hàm lượng các muối dinh dưỡng
phot phat và nitrat (NO3) là các yếu tố quan trọng tác động đến đặc tính thủy
sinh vật của thủy vực. Trước tiên, các yếu tố này là cơ sở phát triển thực vật nổi
(mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn tự nhiên của thủy vực). Các kết quả
nghiên cứu cho thấy trong hầu hết các loại hình thủy vực, có mối tương quan
dương giữa hàm lượng photphat với mật độ thực vật nổi. Hàm lượng photphat
cao thì số lượng và sinh khối thực vật nổi cao. Nhưng cũng thấy rằng chính
photphat cùng với nitrat với hàm lượng cao tới một mức nào đó lại gây ô nhiễm
hữu cơ thủy vực.
Các nghiên cứu về hồ ở Hà Nội đã cho thấy hầu hết các hồ có hàm lượng
PO
4
và NO
3
cao thì trong thành phần tảo, nhóm tảo lục (Chlorophyta) với các
loài thuộc chi Scenedesmus thường rất phát triển. Trong động vật nổi, nhóm
trùng bánh xe (Rotatoria) và Râu ngành (Cladocera) phát triển. Dường như
không thấy sự có mặt của các loài giáp xác chân chèo Copepoda – Calanoida
trong các hồ này. Khi xác định các mức độ ô nhiễm một số thủy vực ở Hà
Nội, Nguyễn Xuân Quýnh (1995) đã xem tỷ lệ về thành phần loài và số lượng
giữa trùng bánh xe (R) và giáp xác chân chèo (Co) với giáp xác râu ngành
(Cl), hoặc giữa ấu trùng Chironomidae (Ch) với giun ít tơ (Oli) là những chỉ
số đánh giá quan trọng. Các thủy vực ít bẩn (oligosaprobe) có tỷ lệ R ≤Co +Cl
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
14
và Ch ≥ Oli, các thủy vực bẩn vừa (mesosaprobe) có tỷ lệ R ≥ Co + Cl và Ch
≤ Oli, các thủy vực rất bẩn (polysaprobe) (sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch,
- Sinh vật nổi hoàn toàn (Holoplankton): là những sinh vật trong vòng
đời của nó hoàn toàn sống nổi trong nước chỉ trừ giai đoạn trứng (cyst) là ở
tầng đáy như trùng bánh xe, giáp xác râu ngành, giáp xác chân chèo và một số
dạng của nguyên sinh động vật.
- Sinh vật nổi không hoàn toàn (Mesoplankton): là những sinh vật chỉ
sống nổi trong một giai đoạn của vòng đời như giai đoạn ấu trùng, còn lại
phần lớn cuộc đời sống đáy hoặc sống bám như thủy tức, nhuyễn thể…
* Dựa vào sự phân bố theo ñộ sâu (chủ yếu là sinh vật biển), ĐVN cũng được
chia thành hai nhóm chủ yếu:
- Sinh vật nổi tầng mặt (Epiplankton): là những sinh vật ở độ sâu từ 0 –
200m, đây là vùng có sự xâm nhập của ánh sáng, có thực vật và có quá trình
tự dưỡng.
- Sinh vật nổi ở tầng sâu (Nyctoplankton): gồm những sinh vật sống ở
độ sâu trên 200m, không có ánh sáng xuyên thấu nên không có thực vật.
* Dựa vào cây phát sinh sinh vật và hình thái cơ bản của động vật nổi (đặc
điểm phân loại), ĐVN cơ bản thuộc về 3 nhóm lớn: phân lớp giáp xác chân
chèo (Copepoda), bộ giáp xác râu ngành (Cladocera) và lớp trùng bánh xe
(Rotatoria).
a) ðặc ñiểm sinh học của phân lớp giáp xác chân chèo Copepoda
Giáp xác chân chèo Copepoda (chân mái chèo) là một phân lớp của lớp
giáp xác, ngành chân khớp. Phân lớp Copepoda phân chia thành ba bộ: Bộ
Calanoida, Bộ Cyclopoida và Bộ Harpacticoida.[16]
Hình thái: Cơ thể chúng có chiều dài biến động trong khoảng 0,3 – 3,2
mm nhưng đa phần có chiều dài nhỏ hơn 2,0 mm[20]. Cơ thể màu nâu hay
xám, những loài sống ở vùng triều có màu sáng hơn, có thể có màu tím hay
đỏ. Màu sắc của chúng là do sự phân bố của các hạt sắc tố có tác dụng bảo vệ
cơ thể chống lại tác hại ánh sáng . Cơ thể tương đối thuần nhất về cấu tạo, sự
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
16