BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN MẠNH DŨNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TÁC
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGUYỄN MẠNH DŨNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TÁC
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60 85 01 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ VĂN NHẠ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.Đỗ Văn Nhạ giảng
viên Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam - người đã hướng dẫn, giúp đỡ rất tận
tình trong thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Quản lý đất đai đã
giảng dạy, đóng góp ý kiến, tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận
văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Gia Lâm, phòng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê
huyện Gia Lâm đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND, cán bộ địa chính, các hộ gia đình
thuộc các xã Kim Sơn, Trung Mầu huyện Gia Lâm, TP Hà Nội đã giúp đỡ tôi
trong việc cung cấp tài liệu của địa phương, của các hộ gia đình để tôi nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này./.
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Dũng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Gia Lâm, TP Hà Nội 34
2.2.2 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở huyện Gia Lâm, TP Hà Nội 34
2.2.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn nghiên cứu. 34
2.2.4 Đề xuất các giải pháp khuyến khích dồn điền đổi thửa để nâng
cao hiệu quả sử dụng đất 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Phương pháp chọn điểm, chọn hộ nghiên cứu 35
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 35
2.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả 36
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mềm Excel 37
2.3.5 Phương pháp so sánh 37
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 38
3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Gia Lâm 38
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Gia Lâm 41
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Gia Lâm 48
3.2 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Gia Lâm 51
3.2.1 Quy trình thực hiện dồn điền đổi thửa 51
3.2.2 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Gia Lâm 58
3.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 61
3.3.1 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến chuyển dịch cơ
cấu sử dụng đất nông nghiệp 61
3.3.2 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến cơ cấu cây trồng 62
3.3.3 Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp 65
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.4 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Gia Lâm 51
3.5 Thực trạng ruộng đất nông nghiệp huyện Gia Lâm trước và sau
dồn điền đổi thửa 58
3.6 Thực trạng ruộng đất nông nghiệp của các xã điều tra trước và
sau khi dồn điền đổi thửa 59
3.7 Quy mô, diện tích bình quân và số thửa bình quân 61
3.8 Quy mô, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trước và sau DĐĐT 62
3.9 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng trước và sau
chuyển đổi 63
3.10 Hiệu quả kinh tế một số loại hình sử dụng đất trên 1 ha 66
3.11 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất/1ha đất nông nghiệp 67
3.12 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn phân bón cân đối và
hợp lý 68
3.13 Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong thâm canh cây trồng
tại huyện Gia Lâm 70
3.14 Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau DĐĐT 71
3.15 Ảnh hưởng của DĐĐT đến công tác QLNN về đất đai 73
3.16 Kết quả phỏng vấn nông hộ sau dồn điền đổi thửa 75
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang
3.1 Sơ đồ hành chính huyện Gia Lâm 39
3.2 Cơ cấu sử dụng đất năm 2014 huyện Gia Lâm 48
3.3 Sơ đồ quy trình thực hiện dồn điền đổi thửa 55
3.4 Quy mô, diện tích đất trước và sau dồn điền đổi thửa ở xã Kim Sơn 60
TW : Trung ương
UBND : Uỷ ban nhân dân
GTGT : Giá trị gia tăng
XHCN : Xã hội chủ nghĩa Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là điều kiện, phương
tiện duy trì và phát triển sự sống, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan
trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh,
kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh. Vai trò của đất đối với con người và
các hoạt động sống là rất quan trọng, nhưng lại giới hạn về diện tích, có vị trí
cố định trong không gian, không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan
của con người. Vì vậy, quản lý và sử dụng đất một cách có hiệu quả là mục
tiêu cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa
phương và mỗi quốc gia.
Đất sản xuất nông nghiệp, là nơi phát triển sản xuất, tạo ra của cải vật
chất nuôi sống đại bộ phận dân số của cả nước (70% dân số chủ yếu sống
bằng nguồn thu từ nông nghiệp), đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp
phần cung ứng lương thực cho thế giới, xuất phát từ tầm quan trọng này,
Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến các vấn đề quản lý và sử dụng đất
đai nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói riêng. Những năm gần đây nổi
hoạch và quản lý quỹ đất công ích còn bất cập. Những hạn chế này đã ảnh
hưởng lớn đến công tác quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, đầu tư thâm canh trên địa bàn.
Nhằm đánh giá việc thực hiện dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Gia
Lâm một cách khách quan, sát thực, từ đó đề xuất các giải pháp để đẩy nhanh
công tác dồn điền đổi thửa, tạo ra các vùng sản xuất chuyên canh, tiến tới phát
triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng được
yêu cầu của việc xây dựng Nông thôn mới, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử
dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất
nông nghiệp tại huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội.
- Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông
nghiệp tại huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy nhanh công tác dồn điền đổi
thửa tại huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội.
3. Yêu cầu
- Đánh giá tác động của dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp đến sản
xuất nông nghiệp và quyết định sản xuất của nông hộ cho huyện Gia Lâm.
- Điều tra các hộ nông dân theo các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu liên quan đến vấn đề tập trung ruộng
đất nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất trong nông hộ cho huyện Gia Lâm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
dân nhưng chỉ sở hữu 30% diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt 60% nông dân
là bần nông chỉ có 10% đất canh tác, (Chu Mạnh Tuấn, 2007).
- Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước trước năm 1945
Quan điểm về chính sách ruộng đất của Đảng ta là "Tịch ký hết thảy ruộng
đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bản xứ và các giáo hội, giao ruộng đất ấy cho
trung nông và bần nông, quyền sở hữu ruộng đất thuộc về chính phủ công
nông”. Đảng phát động nông dân chống lại địa chủ cường hào bóc lột, trả đất
lại cho dân cày, trả công điền lại cho dân. Thời kỳ này chính sách ruộng đất
chưa có điều kiện triển khai nhưng quan điểm và đường lối của Đảng trong
vấn đề ruộng đất đã tạo sự ủng hộ lớn trong giai cấp nông dân.
- Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước sau cách mạng
Tháng Tám
Sau khi được thành lập, chính quyền cách mạng đã ban hành nhiều Sắc
lệnh về ruộng đất và chính sách đối với nông dân như Sắc lệnh giảm 25% tô
(ngày 20.10.1945), Sắc lệnh giảm thuế ruộng 25% (ngày 26.10.1945) Đồng
thời đem những đồn điền ấp trại tịch thu của thực dân Pháp và bọn phản động
chia cho nông dân tá điền. Năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ về sử dụng
công điền, công thổ để cho công bằng và có lợi cho người nghèo. Chính phủ
cũng chia lại ruộng đất cho nông dân. Tháng 12 năm 1953 Quốc hội thông
qua Luật cải cách ruộng đất với mục tiêu cải thiện đời sống nông dân, động
viên kháng chiến. Sau năm 1954 đất nước chia cắt 2 miền, Đảng ta tiếp tục
lãnh đạo nông dân Miền Nam đấu tranh bảo vệ thành quả của chính sách
ruộng đất trong kháng chiến chống Pháp. Chính sách cải cách ruộng đất ở hai
miền đã gặt hái được nhiều thành công, lần đầu tiên dân nghèo ở nông thôn
được làm chủ quá nửa số diện tích đất canh tác. Thắng lợi cải cách ruộng đất
tạo điều kiện cho Đảng ta vững tin bước vào công cuộc xây dựng nông thôn
theo mô hình kinh tế XHCN (Chu Mạnh Tuấn, 2007)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
trọng lớn, xã viên chưa thực sự làm chủ trong quá trình sản xuất vì tư liệu sản
xuất, đặc biệt là đất đai vẫn do hợp tác xã quản lý tập trung, thu nhập của
nông dân từ kinh tế tập thể còn thấp, mức khoán không ổn định
Nhằm khắc phục nhược điểm của khoán 100, Bộ Chính trị đã ra Nghị
quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 về đổi mới cơ chế quản lý trong nông
nghiệp. Theo cơ chế khoán 10, ruộng đất được giao ổn định đến hộ xã viên
trong khoảng 15 năm, sản lượng khoán ổn định trong 5 năm, các hộ xã viên
nhận khoán được hưởng khoảng 40% sản lượng khoán. Tiếp theo đó Hội nghị
TW 6 (khóa VI) đã ra Nghị quyết khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị
kinh tế tự chủ. Việc khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ và
được nhận khoán đất nông nghiệp sử dụng lâu dài đã tạo ra động lực mới
trong sản xuất, khuyến khích hộ nông dân bỏ thêm vốn liếng, công sức, vật tư
vào sản xuất.
Sau một thời gian tạo ra động lực mạnh mẽ cho sản xuất nông nghiệp,
chính sách quản lý đất đai dựa trên cơ chế khoán thể hiện một số hạn chế như
cơ chế quản lý và phân phối kết quả sản xuất do nông dân làm ra chưa công
bằng; Về mặt pháp lý đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền quản lý của HTXNN.
Cơ chế này làm cho hộ nhận khoán không thỏa mãn, họ cảm thấy bị thiệt thòi,
từ đó không thấy hấp dẫn để đầu tư tăng năng suất. Từ đó Đảng và Nhà nước
ta tiếp tục tìm kiếm những quyết sách nhằm đổi mới mạnh mẽ hơn về quan hệ
của hộ xã viên với ruộng đất nhận khoán tạo động lực mới trong nông nghiệp.
- Quan hệ giữa Nhà nước và nông dân trong sở hữu và sử dụng đất
theo tinh thần đổi mới từ năm 1993 đến nay
Luật Đất đai 1993 ra đời bước tiếp tục đổi mới quan trọng trong hệ thống
các chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta. Theo đó, hộ nông
dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển nhượng,
chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Các quyền này chỉ có giá trị trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Việc giao đất, cấp GCNQSDĐ nông nghiệp
cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhằm tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư
thâm canh trên diện tích đã được giao, là vật bảo đảm về mặt pháp lý để
người sử dụng đất thực hiện các quyền của họ mà pháp luật đã quy định.
- Chính sách tích tụ và tập trung ruộng đất nông nghiệp
Luật Đất đai năm 1993 cũng như các luật sửa đổi sau này mới chú
trọng đến vấn đề giao đất và tạo cơ sở pháp lý cho nông dân sử dụng đất để
kinh doanh nông nghiệp mà chưa chú trọng đúng mức đến việc tích tụ, tập
trung đất cho sản xuất nông nghiệp theo quy mô hiệu quả. Do diện tích đất
nông nghiệp nước ta nhỏ, cách giao đất lại theo kiểu bình quân, có tốt, có xấu,
có gần, có xa dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp được phân chia rất manh
mún. Tình trạng các hộ chỉ có 0,2 - 0,3 ha đất canh tác nằm rải rác trên nhiều
xứ đồng vẫn rất phổ biến, nhất là ở Miền Bắc. Các quy định của Luật Đất đai
về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, đấu thầu đất là cơ sở pháp lý quan
trọng, tạo điều kiện từng bước cho tích tụ ruộng đất, nhưng chưa đủ để khắc
phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ. Do đó “dồn điền đổi thửa” được coi là một
trong những việc cần thiết của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước ta
trong một số năm gần đây.
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981
đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và
phát triển khu vực nông thôn. Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm
trong suốt giai đoạn 1994-1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000-2003.
An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo
đói đang từng bước được đẩy lùi (Ban Kinh tế, năm 2004).
1.2. Tổng quan về dồn điền, đổi thửa
1.2.1. Thực trạng ruộng đất nông nghiệp ở miền Bắc nước ta
Manh mún đất đai nghĩa là một hộ nông dân canh tác nhiều thửa đất
diện tích nhỏ vị trí riêng lẻ xa rời nhau (từ 3 thửa đất trở lên). Ở miền Bắc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
khoảng 0,25 ha/hộ).
- Số lượng các hộ có diện tích từ 1ha trở lên không đáng kể (chưa đầy
15%) đa số có diện tích nhỏ hơn 0,50 ha.
- Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu có xu thế giảm do
mất đất nông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn.
Bảng 1.1 Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%)
Loại quy mô hộ 2005 1994
So sánh
2005/1994
1. Hộ không sử dụng đất 4,16 1,15 3,01
2. Hộ có dưới 0,2 ha 25,15 26,59 - 1,44
3. Hộ có từ 0,2 ha đến dưới 0,5 ha
39,19 43,96 - 4,77
4. Hộ có từ 0,5 ha đến dưới 1 ha 16,42 16,23 0,19
5. Hộ có từ 1 ha đến dưới 3 ha 13,06 10,52 2,54
6. Hộ có từ 3 ha đến dưới 5 ha 1,57 0,98 0,59
7. Hộ có từ 5 ha đến dưới 10 ha 0,40 0,19 0,21
8. Hộ có từ 10 ha trở lên 0,05 0,02 0,03
(Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2006)
* Tình trạng manh mún về số ô thửa
Như đã nêu ở phần đặt vấn đề, tại thời điểm chia ruộng năm 1993 để
đảm bảo công bằng, các hộ nông dân được chia ruộng cao-thấp, xa-gần, tốt-
xấu khiến ruộng đất bị phân chia thành rất nhiều thửa loại, hạng đất khác nhau
2
)/thửa
Trung
bình
Cá
biệt
Đất lúa Đất rau
1 Trung du miền núi Bắc bộ 10 – 20 150 150 - 300 100 - 150
2 Đồng bằng sông Hồng 7 25 300 - 400 100 - 150
3 Duyên hải Bắc Trung bộ 7 – 10 30 300 - 500 200 - 300
4 Duyên hải Nam Trung bộ 5 – 10 30 300- 1000 200 - 1000
5 Tây Nguyên 5 25 200 - 500 1000 - 5000
6 Đông Nam bộ 4 15 1000 - 3000
1000 - 5000
7 Đồng bằng sông Cửu Long
3 10 3000 - 5000
500 - 1000
(Nguồn: Tổng cục Địa chính năm 1997)
Kết quả điều tra của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cũng
phản ánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 5 tỉnh thuộc vùng ĐBSH,
kết quả cụ thể được tổng hợp ở bảng 1.3.
Bảng 1.3. Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH
STT
Tỉnh
Tổng số thửa/hộ Diện tích bình quân/thửa (m
hầu như trong mỗi làng, xã đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp. Đây
chính là hệ quả của việc xây dựng đê điều từ rất sớm trong đồng bằng.
Nguyên nhân thứ 2 là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con
cái. Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các con
sau khi ra ở riêng, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát
triển của nông hộ.
Nguyên nhân thứ 3 là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ. Do
quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi
liên quan đến ruộng đất.
Nguyên nhân thứ tư liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân
theo nguyên tắc xuất có tốt có xấu khi thực hiện Nghị định 64/NĐ-CP năm
1993. Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp
phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH. Quan
điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và
nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông
dân, đó là:
+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, tốt, xấu, cao, thấp. Có như vậy
mới thể hiện tính công bằng.
+ Độ phì tự nhiên của đất của các khu khác nhau phải chia đều cho
các hộ.
+ Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia
đều đất cho các hộ.
+ Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như: úng, hạn,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
chua do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ là chỉ tiêu quan trọng trong khi
chia ruộng.
+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao, đặc biệt là các khu đất gần
các trục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị,
định là dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với
ruộng đất đã được quy định trong pháp luật. Tuy nhiên việc thực hiện trong quá
trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân
hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội
khác nhau.
- Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền, đổi thửa
Hơn nửa thế kỷ qua, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu
to lớn, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ
hai trên thế giới và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nâng cao đời sống
cho nông dân, ổn định nông thôn và xây dựng đất nước.
Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp gắn liền với chính sách ruộng đất.
Mỗi chính sách ruộng đất có tác dụng trong thời gian nhất định, phù hợp với
phát triển nông nghiệp ở mỗi thời kỳ.
Chính sách người cày có ruộng phù hợp với lao động thủ công
Chính sách tập trung hoá ruộng đất sản xuất phù hợp với phát triển nông
nghiệp trong thời kỳ chiến tranh.
Chính sách giao ruộng đất cho nông dân phù hợp với sản xuất nông
nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trường.
Thực hiện Luật Đất đai, hiện cả nước đang có tới 70 triệu thửa ruộng
manh mún, bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có 0,7 ha đất canh tác, có tới 7-8
thửa, có hộ lên tới 48 – 50 thửa. Ruộng đất manh mún đã hạn chế việc áp
dụng cơ giới hoá và ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.