Tăng cường thông tin hữu ích trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRỊNH THANH THANH
TĂNG CƯỜNG THÔNG TIN HỮU ÍCH TRÊN
BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI
CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HÀ XUÂN THẠCH

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
MỤC LỤC Trang

2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại 52
Kết luận chương 2 53 Chương 3: Tăng cường thông tin hữu ích trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài
chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam 54
3.1 Quan điểm về giải pháp 54
3.2 Các kiến nghị và giải pháp để tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về
BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam 55
3.2.1 Đối với Bộ tài chính 55
3.2.2 Đối với công ty niêm yết 61
3.2.3 Đối với công ty kiểm toán 62
3.2.4 Đối với Hội nghề nghiệp kiểm toán 65
3.2.5 Đối với UBCKNN 66
3.2.6 Đối với người sử dụng BCKT 68
3.3 Những hạn chế của đề tài 68
Kết luận chương 3 70
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AAA The American Accounting Association (Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ)
AAII The American Association of Individual Investors (Hiệp hội các nhà đầu tư
cá nhân Hoa kỳ)
AARF Australian Accounting Research Foundation (Ban Chuẩn mực kiểm toán của
Liên đoàn nghiên cứu kế toán Úc)
AICPA American Institute of Certified Public Accountants (Hiệp hội các kiểm toán
viên công chứng Hoa Kỳ)
ASB Auditing Standards Board (Ban chuẩn mực kiểm toán)

toán được chấp nhận rộng rãi tại Mỹ)
Vinashin Tập đoàn kinh tế Vinashin
VSA Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Thống kê đối tượng khảo sát
Bảng 2.2: BCKT làm tăng độ tin cậy của BCTC
Bảng 2.3: Mục đích của BCKT được thể hiện rõ ràng trên BCKT
Bảng 2.4: BCKT chấp nhận toàn phần hàm ý rằng BCTC đã phản ánh trung thực

và hợp lý
Bảng 2.5: BCKT chấp nhận toàn phần đảm bảo rằng Công ty hoạt động liên tục
Bảng 2.6: KTV thì khách quan
Bảng 2.7: Trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả của cuộc
kiểm toán
Bảng 2.8: Trách nhiệm của KTV trong mối quan hệ với gian lận được thể hiện rõ ràng
trên BCKT
Bảng 2.9: BCKT giải thích rõ ràng các thủ tục kiểm toán chung được thực hiện bởi các
KTV
Bảng 2.10: BCKT hàm ý rằng BCTC được kiểm toán không còn sai sót nào
Bảng 2.11: Cơ sở của ý kiến kiểm toán được thể hiện rõ ràng trên BCKT
Bảng 2.12: BCKT trình bày rõ ràng tính xét đoán của KTV khi hình thành ý kiến kiểm
toán
Bảng 2.13: Đánh giá của KTV về tình trạng hoạt động liên tục
Bảng 2.14: Giải thích về mức trọng yếu thực tế mà KTV đã dựa vào để thực hiện các
thủ tục kiểm toán
Bảng 2.15: Đánh giá về chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ nên được trình bày
trên BCKT
Bảng 2.16: Trình bày các rủi ro có thể dẫn đến sai sót trọng yếu và cách thức của các

Tác giả đã chọn chủ đề “Tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC tại các
công ty niêm yết ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để đánh giá thực trạng thông tin
trên BCKT như thông tin về phương pháp kiểm toán, trách nhiệm của KTV, bản chất
của sự đảm bảo được cung cấp, ý kiến của KTV…và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
2

đến thông tin trên BCKT, từ đó nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm
tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC ở các công ty niêm yết ở Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu khái quát và hệ thống các vấn đề liên quan đến BCKT về BCTC và thông
tin trên BCKT, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC tại
các công ty niêm yết. Các nội dung này sẽ là cơ sở cho phần nghiên cứu thực trạng và
các nguyên nhân tồn tại.
Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC thông qua
khảo sát thực trạng nhận thức của người sử dụng đối với các thông tin trên BCKT
bằng bảng câu hỏi và các bài viết liên quan đến thông tin trên BCKT về BCTC của các
công ty niêm yết tại Việt Nam. Từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm tăng
cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt
Nam.
3. Tổng quan những nghiên cứu liên quan
Những nghiên cứu trước đây trên thế giới liên quan đến đề tài chủ yếu là các nghiên
cứu riêng lẻ, ngắn về thực trạng thông tin trên BCKT qua các giai đoạn phát triền. Tác
giả cũng trình bày tóm tắt một số nghiên cứu và quan điểm trên thế giới liên quan đến
thông tin trên BCKT về BCTC trong chương 1. Do nội dung khá dài nên tác giả đã
đưa một số tóm tắt nghiên cứu vào phụ lục để người đọc có thể tham khảo thêm.
Phần này tác giả tóm tắt nội dung một vài nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
mà tác giả tìm thấy được:

BCKT tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ việc tìm hiểu lý thuyết và tiếp cận thực tế,
người viết đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện VSA về BCKT. 4

4. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Ở Việt Nam, nhu cầu kiểm toán chủ yếu tập trung cho các doanh nghiệp bắt buộc phải
kiểm toán theo pháp luật Việt Nam. Có thể nhận thấy BCKT về BCTC của doanh
nghiệp niêm yết là phổ biến nhất, số liệu được công bố trên phương tiện thông tin đại
chúng để phục vụ chủ yếu cho các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp, các chủ
nợ…Nghiên cứu này sẽ giới hạn phạm vi đánh giá thực trạng thông tin trên BCKT về
BCTC tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Dựa trên các công trình nghiên cứu liên quan và mục đích của đề tài, tác giả xác định
đối tượng nghiên cứu của đề tài là thông tin trên BCKT về BCTC và các yếu tố tác
động đến thông tin trên BCKT về BCTC. Để làm rõ hơn đối tượng nghiên cứu, tác giả
sử dụng các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thông tin như thế nào là hữu ích? Thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại
các công ty niêm yết ở Việt Nam
- Các yếu tố nào tác động đến thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty
niêm yết?
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu định tính sẽ được áp dụng. Bên cạnh
đó, việc định lượng dữ liệu sẽ làm cho kết quả nghiên cứu rõ ràng hơn. Việc định
lượng sẽ giúp dễ dàng hơn cho việc tổng hợp, so sánh dữ liệu.


6

Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các lý thuyết giải thích về nhu cầu dịch vụ đảm bảo
Nhu cầu dịch vụ kiểm toán được khởi sự từ nhiều nhân tố, bao gồm: Khoảng cách
thông tin giữa người sử dụng BCTC và những người lập BCTC; sự xung đột lợi ích
giữa những người sử dụng BCTC với nhau; sự phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế và
những ảnh hưởng của thông tin trên BCTC trong việc ra quyết định kinh tế. Bởi vì
BCKT là trung gian thông tin giữa KTV và người sử dụng BCTC, do đó báo cáo này
phải có thể hiểu được, khách quan và được chấp nhận bởi những người sử dụng. Các
thông tin trên BCKT sẽ tác động đến các quyết định đầu tư, các quyết định tín dụng và
giá cổ phần. Phần này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về một số lý thuyết giải thích
về nhu cầu dịch vụ đảm bảo đang tồn tại. Các lý thuyết này giúp giải thích nhu cầu xã
hội về kiểm toán, thể hiện vai trò và mục đích của dịch vụ kiểm toán hay sự cần thiết
khách quan của kiểm toán. Theo Hayes và các tác giả (2005) thì có 4 nhóm lý thuyết
giải thích về nhu cầu dịch vụ đảm bảo:
- Lý thuyết người cảnh sát (Policeman Theory)
Lý thuyết này phổ biến cho đến những năm 1940. Dưới lý thuyết này, KTV được xem
như một người cảnh sát, sẽ tập trung vào việc tính toán chính xác số học và ngăn ngừa,
phát hiện gian lận. Tuy nhiên, lý thuyết này hạn chế trong việc giải thích sự trung thực
và hợp lý của BCTC.
- Lý thuyết tín dụng (Lending Credibility Theory)
Khi thị trường chứng khoán phát triển, sự tham gia ngày càng lớn mạnh của các cổ
đông vào các công ty dẫn đến nhu cầu thông tin tin cậy ngày càng cao do sự thiếu lòng
7

phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông
8

và người quản lý công ty, bằng cách thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation
mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị và thiết lập cơ chế giám sát (supervisory
mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người
quản lý công ty. Theo lý thuyết này, vai trò của KTV là để giám sát mối quan hệ giữa
các nhà quản lý và các chủ sở hữu (principal_agent relationship), tránh sự bóp méo
thông tin được cung cấp bởi các nhà quản lý, cung cấp sự đảm bảo hợp lý, không có
sai sót trọng yếu hoặc thông tin không đầy đủ.
1.2 Thông tin trên BCKT về BCTC
1.2.1 Lược sử quá trình tạo nên thông tin trên BCKT về BCTC
Vào thời kỳ sơ khai (Luật công ty Anh 1856), BCTC chỉ bao gồm Bảng cân đối kế
toán, kiểm tra chủ yếu sổ sách kế toán, không có báo cáo chuẩn nên BCKT sẽ khác
nhau giữa các KTV và lạm dụng từ “ngoại trừ…”.
Một số sự kiện lớn xảy ra vào những năm 1930 như vụ kiện Ultramares, việc sụp đổ
thị trường chứng khoán Mỹ và sự ra đời của SEC. Có thể tóm tắt các sự kiện này như
sau: vào năm 1931, công ty Ultramares không có khả năng trả nợ, các chủ nợ của công
ty dựa vào BCTC đã được chứng nhận rồi sau đó kiện các KTV, họ cho rằng các KTV
đã phạm tội bất cẩn và trình bày gian dối. Sau khi điều tra vấn đề, tòa án liên bang Mỹ
kết luận rằng các KTV đã có bất cẩn trong quá trình kiểm toán. Tuy nhiên, KTV
không phải chịu trách nhiệm đối với các chủ nợ của công ty Ultramares vì điều sai lầm
vượt ra ngoài phạm vi của hợp đồng kiểm toán ban đầu. Tóa án cho rằng chỉ có người
ký hợp đồng với KTV về các dịch vụ kiểm toán mới có thể kiện nếu các dịch vụ đó
được cung cấp một cách bất cẩn. Vụ kiện này là cơ sở cho sự ra đời của cái gọi là “học
thuyết Ultramares”. Theo học thuyết này, những bất cẩn thông thường không đủ ràng
buộc trách nhiệm pháp lý của KTV với bên thứ ba vì không có quan hệ riêng theo hợp

Vào năm 2005, ISA 700 được ban hành mới, tiếp tục bổ sung BCKT chuẩn, có hiệu
lực thi hành từ 31.12.2006, tập trung vào các BCKT trong trường hợp chấp nhận toàn
phần không có nhấn mạnh, các điều chỉnh được chuyển sang ISA 701 tập trung vào
10

các trường hợp ý kiến khác của KTV, ngoài ý kiến chấp nhận toàn phần không có
đoạn nhấn mạnh. ISA 700 (2005) sửa đổi các từ ngữ sử dụng và quy định rõ hơn một
số trường hợp như: BCKT phải đưa ra một ý kiến rõ ràng của KTV về BCTC, KTV
phải đánh giá các kết luận rút ra từ bằng chứng thu thập được làm cơ sở cho ý kiến của
mình về BCTC.
Các điều chỉnh mới đây nhất có hiệu lực từ các cuộc kiểm toán cho năm tài chính bắt
đầu từ 15.12.2009 trở về sau:
- ISA 700 “Hình thành ý kiến kiểm toán và BCKT về BCTC”
- ISA 705 “Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần”
- ISA 706 “Đoạn Vấn đề cần nhấn mạnh và Vấn đề khác trong BCKT về BCTC”
ISA 701 trước đây đã được thay thế bởi ISA 705 và ISA 706. ISA 705 quy định và
hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán đối với việc phát hành BCKT phù hợp với hoàn
cảnh thực tế, theo quy định và hướng dẫn của ISA 700 và trong trường hợp KTV kết
luận cần phải đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần. ISA
706 quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV trong việc đưa ra các thông tin bổ
sung trong BCKT, khi KTV xét thấy cần phải thu hút sự chú ý của người sử dụng đối
với các vấn đề được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà các vấn đề đó là đặc
biệt quan trọng để người sử dụng hiểu được BCTC; hoặc thu hút sự chú ý của người sử
dụng đối với các vấn đề khác, ngoài các vấn đề được trình bày hoặc thuyết minh trong
BCTC, mà các vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm
toán, về trách nhiệm của KTV hoặc về BCKT.


thông tin cần được trình bày sao cho người sử dụng có thể dễ dàng hiểu được.
12

Tuy nhiên, mức độ đầy đủ và có thể hiểu của thông tin phải được đặt trong mối quan
hệ đầy đủ của chi phí và lợi ích và cân đối giữa các tính chất.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC
- Hệ thống CMKiT: CMKiT trở thành cơ sở lý luận của hoạt động kiểm toán và
là cơ sở để nâng cao chất lượng kiểm toán. CMKiT đặc biệt là CMKiT về BCKT có
ảnh hưởng đến BCKT được phát hành. Nội dung và hình thức của BCKT do KTV và
công ty kiểm toán phát hành chịu sự chi phối của CMKT.
- Sự tương tác giữa CMKiT và CMKT: Một ảnh hưởng khác dẫn đến các thay
đổi trên BCKT nữa là sự tương tác với các CMKT. Khi CMKT thay đổi thì CMKiT
cũng thay đổi theo. Ví dụ cho trường hợp này là sự phát triển của CMKT trong việc xử
lý sự thay đổi chính sách kế toán và tình huống chưa rõ ràng. Đối với sự thay đổi chính
sách kế toán, theo SAS 2 (1974) thì KTV phải nhận xét rằng việc áp dụng chính sách
kế toán có nhất quán không và sự thay đổi chính sách kế toán sẽ dẫn đến một ý kiến
ngoại trừ mặc dù các khai báo cần thiết đã thực hiện. Sau đó theo SAS 58 (1988), nếu
doanh nghiệp đã thỏa mãn ba điều kiện (chính sách mới được áp dụng bởi chuẩn mực,
xử lý đúng ảnh hưởng của sự thay đổi và người quản lý giải trình được về sự thay đổi)
thì ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ được đưa ra cùng với đoạn nhấn mạnh.
- Quy định liên quan đến công bố thông tin đối với các công ty niêm yết: Đối với
thị trường chứng khoán thì yêu cầu về minh bạch thông tin tài chính mang tính sống
còn. Ngoài hệ thống CMKT, CMKiT còn có các quy định về công bố thông tin. Với
các quy định chặt chẽ, hoàn thiện sẽ gia tăng tính minh bạch thông tin thông qua gia
tăng tính kịp thời, đầy đủ và dễ hiểu của thông tin.
- Nhận thức không đầy đủ của người sử dụng BCKT đối với sự phức tạp của các
thuật ngữ chuyên môn trên BCKT.

Trách nhiệm của Ban giám đốc đối với BCTC
Mục này trong BCKT mô tả trách nhiệm của những người chịu trách nhiệm lập và
trình bày BCTC tại đơn vị được kiểm toán. BCKT không nhất thiết phải đề cập một
14

cách cụ thể đến “Ban Giám đốc” mà sẽ sử dụng thuật ngữ thích hợp, tùy thuộc vào
từng trường hợp.
BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của Ban Giám đốc (hay một
thuật ngữ thích hợp khác)”.
BCKT phải mô tả trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc lập và trình bày BCTC,
trong đó giải thích thêm rằng Ban Giám đốc chịu trách nhiệm lập và trình bày BCTC
theo khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng, và chịu trách nhiệm về
KSNB mà Ban Giám đốc xác định là cần thiết để đảm bảo cho việc lập và trình bày
BCTC không có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn.
Trong trường hợp BCTC được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần giải thích
về trách nhiệm của Ban Giám đốc đối với BCTC trong BCKT phải đề cập đến “trách
nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý BCTC của Công ty”.
Trách nhiệm của KTV
BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của KTV”.
BCKT phải nêu rõ trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả
cuộc kiểm toán.
BCKT phải nêu rõ rằng công việc kiểm toán đã được tiến hành theo các ISA. BCKT
cũng phải giải thích rằng các chuẩn mực đó yêu cầu KTV phải tuân thủ chuẩn mực và
các quy định về đạo đức nghề nghiệp, phải lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán
để đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc BCTC có còn sai sót trọng yếu hay không.
BCKT phải mô tả về cuộc kiểm toán bằng cách nêu rõ:
(a) Công việc kiểm toán bao gồm thực hiện các thủ tục để thu thập các bằng chứng

Căn cứ vào ISA hiện hành, mục tiêu của KTV là đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC
trên cơ sở đánh giá các kết luận rút ra từ bằng chứng kiểm toán thu thập được và trình
bày ý kiến kiểm toán một cách rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến
đó. Tính trọng yếu là sự cân nhắc chủ yếu khi KTV hình thành ý kiến kiểm toán.
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính
chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng
16

BCTC. Đánh giá tính trọng yếu phụ thuộc vào xét đoán của KTV, đây là một việc thật
sự khó khăn. Theo ISA’s phân biệt bốn loại ý kiến kiểm toán:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần: Là ý kiến được đưa ra khi KTV kết luận rằng
BCTC đã được lập trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình
bày BCTC được áp dụng.
Trong dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có thêm dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có
đoạn nhấn mạnh hoặc đoạn vấn đề khác khi muốn lưu ý người đọc BCTC về một vấn
đề không ảnh hưởng đến ý kiến của KTV.
- Ý kiến kiểm toán ngoại trừ: Dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích
hợp đã thu thập được, KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh
hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC; hoặc KTV không thể thu thập
được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán,
nhưng KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát
hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC.
- Ý kiến kiểm toán trái ngược: khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ,
thích hợp đã thu thập được, KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại,
có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với BCTC.
- Từ chối đưa ra ý kiến: khi KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng
kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán và KTV kết luận rằng những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status