BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HOÀNG
LÊ
TÙNG DƯƠNG NGHIÊN CỨU
MỐI
LIÊN KẾT
NHÀ NÔNG- DOANH NGHIỆP- NHÀ KHOA HỌC- NHÀ NƯỚCTRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MÍA NGUYÊN LIỆ
U
( (TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG TẠI TỈNH THANH HÓA)LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
nghiệp
là
ñề
tài
không
mới
nhưng
cho
ñến
nay vẫn còn nguyên tính thời sự của nó. Bởi liên kết ñược kỳ vọng giúp cho các
tác nhân phối hợp nhịp nhàng từ khâu cung ứng ñầu vào cho sản xuất ñến tiêu
thụ sản phẩm ñầu ra, hạn chế và khắc phục những bất lợi của tự nhiên, tăng tính
cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, ổn ñịnh sản xuất tránh tình trạng ñược
mùa mất giá, bị ép giá… Tuy nhiên, tình trạng mạnh ai nấy làm, nông dân hoặc
doanh
nghiệp
dễ
dàng
trương
liên
kết
bốn
nhà
bước
ñầu
ñã
có những thành công, song vẫn còn nhiều hạn chế và tồn tại. Tỉ lệ nông sản tiêu
thụ thông qua hợp ñồng còn thấp (tiêu thụ qua hợp ñồng của lúa chỉ
ñạt 2,1%;
chè ñạt 9%; cà phê ñạt 2,5%; rau quả
ñạt 0,9%; thủy sản 13%; gỗ 16,7% Chỉ
có
vài
lĩnh
ñạt
80%).
Kết
quả
này
là
do chưa có sự liên kết thực sự giữa nhà nông, nhà
doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước mà chỉ là liên kết ñôi, trong ñó vai trò của
nhà
khoa
học
còn
mờ
nhạt,
Nhà
nước
doanh
nghiệp
và
cán
bộ
quản
lý
Nhà
nước
thực
thi
nhiệm
vụ
liên
quan về chủ trương tiêu thụ nông sản thông qua hợp ñồng của chính phủ chưa ñầy
ñủ;
thực
hiện
Quyết
ñịnh
số
80/2002/Qð-TTgcủa
thủ
tướng
Chính
.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kỹ thuật……………… ………………………
2
phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp ñồng).
Ngành công nghiệp mía ñường Thanh Hóa có tiềm năng rất lớn. Thanh Hóa
có ñủ diện tích, khả năng, kinh nghiệm phát triển ngành mía ñường và thực tế là ñịa
phương
có
diện
tích,
năng
suất
mía
và
sản
lượng
ñường
kính
lớn
Mặc
dù
Thanh
Hóa có diện tích mía lớn nhưng năng suất không cao. Năng suất mía trung bình toàn
tỉnh những năm gần ñây mới chỉ
ñạt hơn 50 tấn/ha do một tỷ lệ lớn diện tích trồng
các giống mía cũ thoái hóa, vùng mía nguyên liệu manh mún Do ñó hiện nay sản
lượng
mía
của
Thanh
Hóa
mới
chỉ
ñáp
ứng
ñược
ngành
công
nghiệp
mía
ñường
thì
việc
củng cố và tăng cường mối liên kết “bốn nhà” là hết sức cần thiết. Tuy nhiên hiện
nay mối liên kết “bốn nhà” trong ngành mía ñường của tỉnh còn nhiều hạn chế, tỷ lệ
nông dân phá vỡ hợp ñồng, nhà máy không thu mua mía như
ñã hợp ñồng, vai trò
của nhà nước trong việc giải quyết các mâu thuẫn cũng như chưa có các chính sách
hỗ trợ khuyến khích sự liên kết giữa các nhà.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và ñể tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi trên
chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài: “Nghiên cứu
mi
liên kết nhà
nông- doanh
nghip- nhà khoa hc- nhà nưc
trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu
mía
nguyên
liệu
của
tỉnh
trong
thời
gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
-
Góp
phần
hệ
thống
hóa
cơ
giá
thực
trạng
liên
kết
“Bốn
nhà”
trong
sản
xuất
và
tiêu
thụ
mía
nguyên liệu ở tỉnh Thanh Hoá giai ñoạn 2010-2012.
tác
xã),
doanh
nghiệp
(các
nhà
máy
ép
mía
ñồng
thời
là
doanh
nghiệp
cung
ứng ñầu
các
nhà
trong
sản
xuất
và
tiêu
thụ
mía
nguyên
liệu;
phân
tích
các
yếu tố
các
cơ
quan
tổ
chức
có
trách
nhiệm
về
các
hoạt
ñộng
hành chính và chỉ
ñạo thực hiện các quyết ñịnh chính sách (ðỗ Kim Chung, 2008).
Maynasd
Keynes
2.1.1.2 Nhà khoa học
Nhà khoa học là những người ñã nghiên cứu và khám phá ra những kiến thức
mới và mong muốn những nghiên cứu ñó sẽ
ñược áp dụng trong thực tiễn thay cho
những nghiên cứu cũ không còn phù hợp. Nhà khoa học ñóng vai trò vô cùng quan
trọng
trong
việc
chuyển
giao
tiến
bộ
kỹ
thuật
(TBKT)
của
mình
ñưa
các
kỹ
thuật
tiến
bộ
ñã
ñược khẳng ñịnh là ñúng ñắn trong thực tiễn vào áp dụng trên diện rộng ñể
ñáp ướng nhu
cầu của sản xuất và ñời sống của con người (ðỗ Kim Chung, 2005).
Công
tác chuyển
giao
KTTB
nhằm giúp
nông
mới
thông
qua
áp
dụng
thành
công
KTTB
bao
gồm
cả
những
kiến
thức
và
kỹ
2.1.1.3 Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, thực hiện các
hoạt ñộng sản xuất, cung ứng trao ñổi hàng hoá trên thị trường, theo nguyên tắc tối
ña hoá lợi ích kinh tế của người chủ sở hữu về tài sản của doanh nghiệp, thông qua
ñó tối ña hoá lợi ích của ñối tượng người tiêu dùng và kết hợp một cách hợp lý với
những mục tiêu kinh tế xã hội. (Nguyễn Tất Bình, 2000).
Như vậy, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở
giao
dịch
ổn
ñịnh
ñược
ñăng
ký
kinh
doanh
cho
uy
lực
của
thị
trường
tự
ñộng
diều tiết tài
nguyên, tạo nên của cải xã hội. Sức mạnh của một thực thể hoạt ñộng
thị trường ñược ño lường bằng khả năng cạnh tranh, khả năng tích tụ tư bản, trình
ñộ công nghệ, năng lực liên thông buôn bán, hiệu quả
ñầu tư, khả năng lan truyền
tín hiệu giá cả
ñể
ñiều phối tài nguyên, mức ñộ tiết giảm chi phí giao dịch….
Thị trường hoạt ñộng theo hình thức tự do, thông qua hoạt ñộng buôn bán trao
sản
xuất
nông-
lâm- ngư nghiệp trong những năm vừa qua ở nước ta có thể rút ra một số nét cơ bản
về loại chủ thể này như sau:
Thứ nhất, các loại tư liệu sản xuất cơ bản từ
ñất ñai ñến các loại
máy
móc,
sức
kéo
súc vật ñược sử
dụng
hợp
lý
và ñược
ñã phát huy ñược ñộng lực của nguyên tắc phân
phối theo lao ñộng. Ai làm nhiều, làm tốt thì ñược hưởng nhiều.
Thứ tư, phát triển kinh tế hộ
ñã giải quyết ñược một bước cơ bản về việc làm,
nâng cao thu nhập ở các vùng nông thôn trong cả nước. Bên cạnh những tác ñộng tích cực kể trên, bản thân sự phát triển kinh tế hộ
nông dân ở nước ta thời gian qua cũng bộc lộ một số nhược ñiểm sau:
Thứ nhất, quy mô kinh tế của mỗi hộ rất nhỏ, do bị kìm hãm bởi bình quân
diện tích ñất canh tác thấp, thêm vào
ñó phần lớn kinh tế hộ là thuần nông và ñộc
canh sản xuất lúa nên giá trị sản xuất thấp, dẫn ñến tổng thu nhập thấp, khả năng tiết
kiệm ñể tái sản xuất mở rộng rất hạn hẹp. Thứ hai, khả năng sản xuất hàng hoá của kinh tế hộ không ñồng ñều, do ñó
có sự khác biệt rất xa về trình ñộ sản xuất và hiểu biết về kinh doanh giữa các hộ.
ðiều
ñó
dẫn
ñến
cả
chất
lượng,
mẫu
mã
và
chủng
loại.
Kết
quả
là
rất
khó
chiếm
lĩnh
việc
tổ
chức
toàn
bộ
quá trình
sản
xuất
từ
sản
xuất
hàng hóa
ñến
chế
biến
khắt
khe
hơn
về
chất
lượng,
mẫu
mã
sản
phẩm.
Nếu
kinh
tế
hộ
cố
Về
các
mặt
mạnh
và
yếu
của
kinh
tế hộ,
có
thể
kết
luận
rằng:
kinh tế hộ
tư tưởng ham lợi trước mắt và không tính toán ñược chiến lược lâu dài, dễ vi phạm
hợp
ñồng
trong
quá
trình
liên
kết,
là
người
cung
cấp
số
lượng
và
chất
sản
ổn
ñịnh
nhưng
vẫn
còn
tình
trạng
cơ
sở
chế
biến
ngừng
mua
hoặc
giảm
ra
ñể
xử
phạt
các
hộ
phá
vỡ
hợp
ñồng
có
hiệu
lực
chưa cao, mới chỉ dừng lại phạt tiền nên tình trạng phá vỡ hợp ñồng vẫn xảy ra nhất
là khi thời vụ nguyên liệu khan hiếm mà giá hơn giá hơn thị trường. Sự
nông dân chưa cao.
Các yếu tố từ nhà khoa học Sự tham gia của các nhà khoa học, nhà kỹ thuật còn hạn chế, ảnh hưởng ñến
sự gắn liền ñất sản xuất của hộ. Tổ chức khoa học giữ vai trò rất quan trọng trong
quá
trình
liên
kết.
Họ
chính
là
người
giúp
nông
dân
ứng
* Các yếu từ nhà nước và yếu tố khác
Tác
ñộng
của
chính
quyến
ñịa
phương
ít
ảnh
hưởng,
sau
ñó
vấn
ñề
vai
trò
trọng
tài ñể giải quyết.
Vai trò, chức năng về trung gian, cầu nối của chính các cấp còn hạn chế do
chính
sách
và
do
bản
thân
chính
quyền
(nhất
là
chính
ñể
giải
quyết
các
vấn
ñề
ảnh
hưởng
ñến liên
kết. Chính quyền cơ sở gần như thả nổi ñể cơ sở chế biến và hộ sản xuất
thỏa thuận với nhau trong hợp ñồng liên kết.
Chưa xác ñịnh rõ về sự ràng buộc, trách nhiệm, lợi ích giữa các bên tham
gia liên kết nên dẫn ñến phá vỡ quá trình này, nhất là khi cơ sở chế biến vi phạm
hợp ñồng.
2.1.2 Khái niệm về liên kết
Theo
từ
Theo từ
ñiển thuật ngữ kinh tế học của viện nghiên cứu và phổ biến tri thức
bách khoa thì: “Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác phối hợp hoạt ñộng do các ñơn
vị
kinh
tế
tự
nguyện
tiến
hành nhằm
thúc
ñẩy
sản
xuất
kinh
doanh
liên
kết
kinh
tế là
tạo ra
sự
ổn ñịnh
của
các
hoạt ñộng
kinh
tế
thông
qua
các quy
vị
tham gia liên kết ñể tạo ra thị trường chung, bảo vệ lợi ích cho nhau”.David.
W.Pearce
(1999)
trong
từ
ñiển
Kinh
tế
học
hiện
ñại
cho
của
một
nền
kinh
tế
thường
là
khu
vực
công
nghiệp
và
nông
nghiệp
hoạt
với
nhau
trong
sản
xuất
kinh
doanh
của
các
chủ
thể
kinh
tế
dưới
hình
thức
hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc các ngành, trong một quốc gia hay nhiều
quốc gia, trong khu vực và quốc tế”.
Liên
kết
kinh
tế
là
hình
thức
hợp
tác
và
phối
hợp
thường
xuyên
miệng dựa trên sự tín nhiệm,
niềm tin, trách nhiệm cam kết giữa các tác nhân tham gia thi trường. Mục tiêu là tạo
ra
mối
quan
hệ
kinh
tế
ổn
ñịnh
thông
qua
các
hợp
ñồng
kinh
hình
thức phổ
biến
là hiệp
hội
sản
xuất
và
tiêu
thụ,
nhóm
sản
xuất,
nhóm
vệ
tinh,
mất
quyền
tự
chủ
của
mình,
cũng
như
không ñược
miễn
.
giảm bất cứ nghĩa vụ nào ñối với nhà nước theo pháp luật hay nghĩa vụ hợp ñồng ñã
kí với các ñơn vị khác.
Như vậy, liên kết kinh tế là sự phối hợp của hai hay nhiều bên, không kể quy
mô hay loại hình sở hữu, ñược thể hiện thông qua các hình thức như: hợp ñồng văn
bản
hay
tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù ñắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối
hợp hoạt ñộng với các ñối tác nhằm ñem lại lợi ích cho các bên tham gia.
2.1.3 Nội dung của liên kết
2.1.3.1 Liên kết trong chuyển giao khoa học kỹ thuật ðây là một hình thức liên kết thường ñược tiến hành giữa nhà khoa học với
các hộ nông dân. Theo hình thức liên kết này, thông qua ñó nhà khoa học sẽ chuyển
giao
những
TBKT
cho
người
nông
dân.
Khi
ñã
ñược
chuyển
những
sản
phẩm
nông
nghiệp có chất lượng tốt hơn. Thông qua liên kết ñó người ta ký trực tiếp hoặc gián
tiếp
thông
qua
ñịa
phương
ký
kết
các
hợp
ñồng
hoặc
tạo
nguồn
hàng
hoá
nông
sản
trong
quá
trình
hội
nhập. Vì thế cần có phương hướng, cách thức tiếp cận người dân ñể liên kết nhằm
mang lại hiệu quả.
Thông
qua
rất
nhiều
tộc thiểu
số
trong tỉnh
như
chương trình
ðiện
năng lượng
mặt
trời, chương trình áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông lâm nghiệp, chương
trình tập huấn, ñào tạo nguồn nhân lực nông thôn, chương trình xây dựng mô hình
thư
viện
ñiện
tử…
Qua
những
chuyển
giao
khoa
học
và
công
nghệ
cần
phải
ñược
tăng
cường
và
phát
triển
thêm nhiều vấn ñề từ việc tổ chức xây dựng mô hình trình diễn, tổ chức tham quan
thiết
trong
giai
ñoạn hiện nay, nhất là ñối với ñồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh nói riêng và
bà con nông dân nói chung. ðây là ñiều kiện tốt ñể các nông hộ có ñiều kiện tiếp cận
và tuyên truyền vận ñộng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và ñời sống nhằm
từng bước thay ñổi một số lề lối tập quán canh tác cũ, lạc hậu và hiệu quả thấp.
2.1.3.2 Liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ
ñầu vào cho quá trình sản xuất – tiêu thụ* Liên kết trong khâu cung ứng vật tư, nguyên liệu ñầu vào
ðây
là
hình
thức
liên
kết
thường
nguyên
liệu
ñầu
vào
là
giống,
phân
bón,
thuốc
trừ
sâu ñể tiếp tục sản xuất.
Khi
thực
hiện
mối
liên
kết
các
hợp
ñồng
hoặc
thỏa
thuận
trực
tiếp
với
người
nông
dân
hoặc
thông
cấp
các ñầu vào ñể người nông dân có vật tư
ñầu vào và từ
ñó họ
ñưa vào sản xuất. Như
vậy,
thông
qua
mối
liên
kết
này,
các
nhà
cung
ứng
nhuận
cho
cơ
sở,
tổ
chức,
ñơn
vị
mình.
ðồng
thời
người
nông
dân
lại
có
lại
lợi
ích
cho
các
bên
tham
gia.
Từ
ñó
người
nông
dân
sẽ
chủ
tượng
hộ
hay
doanh
nghiệp
hoặc
với
các
Trung
tâm, Viện nghiên cứu của các trường ñại học, cao ñẳng nhà chuyển giao tiến bộ cho
doanh
nghiệp, cho
hộ
sản xuất
kinh doanh. Hay
là
thành
phẩm cho doanh nghiệp. Liên kết này phần lớn ñược thể hiện qua hợp ñồng kinh tế,
một phần là sự thỏa thuận ngầm ñịnh giữa các bên tham gia nhằm bảo ñảm lợi ích
hài hòa giữa các bên tham gia liên kết.
+ Bán vật tư, mua lại sản phẩm: Phổ biến nhất là liên kết giữa doanh nghiệp
bán chịu vật tư cho bà con sản xuất và cuối vụ mua lại sản phẩm. Thực hiện tốt liên
kết này sẽ mang lại nhiều lợi ích mà doanh nghiệp ở
ñây là chủ
ñộng nguồn nguyên
liệu sản xuất và có một thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn ñịnh. Còn nông dân có vốn,
vật tư
ñể sản xuất và yên tâm khi ñã có ñầu
ra cho sản phẩm. Ví dụ, liên kết giữa
nhà máy ñường Lam Sơn ñầu tư giống, phân bón, tư vấn kỹ thuật sản xuất cho bà
con trường mía và cuối vụ thu mua mía nguyên liệu là mô hình liên kết hiệu quả.
* Liên kết trong khâu cung ứng dịch vụ
ñầu vào cho sản xuất nông nghiệp
ðây
là
hình
nhân
cung
cấp
dịch vụ
nông
nghiệp
với
người
nông
dân.
Khi
sản
xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, ngoài những tư liệu sản xuất chủ yếu
(ñất ñai, sức lao ñộng, ) hộ nông dân còn cần các dịch vụ phục vụ cho khâu sản xuất
khác như: khâu làm ñất, khâu chăm sóc, thủy lợi Khi
sẽ
ñứng
ra
ký
kết
các
hợp
ñồng
hoặc
thỏa
thuận
liên
kết
với
người
ñúng
thời
vụ
sản
xuất
trong
các
dịch
ñầu
vào.
Khi
liên
kết
này
ñược
các
sản xuất
nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, nhất là trong thời ñại hiện nay.
2.1.3.3 Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ nông sản luôn là nỗi lo của người nông dân mỗi khi chính vụ. Mỗi
năm cứ vào lúc chính vụ thu hoạch, ñược mùa nông dân chưa kịp mừng ñã ập ñến
nỗi lo tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Chính vì thế nhu cầu liên kết trong khâu tiêu
thụ sản phẩm là một nhu cầu thiết yếu nhằm mục ñích bao tiêu sản phẩm sản xuất ra
của người nông dân.
Trong mối liên kết này người sản xuất thường liên kết với các doanh nghiệp,
cơ
sở
tiêu
thụ
sản
phẩm
Hộ
sẽ
trực
ñồng
hoặc
thỏa
thuận
miệng
với
các
cam
kết
về
số
lượng, chất lượng, ñể cung cấp các sản phẩm mà mình sản xuất ra cho các nhà thu
mua. Còn nhiệm vụ của ñơn vị, tổ chức thu mua sẽ phải bao tiêu hết số lượng như
ñã cam kết với người dân. Mỗi bên liên kết ñều mang lại lợi ích cho nhau. Theo ñó
thì lợi ích mà người nông dân ñược hưởng là ñược bao tiêu sản phẩm mà mình làm
ra với giá cả
ổn ñịnh,
cho
việc
sản
xuất
–
kinh
doanh của mình. Trong nội dung liên kết này, cơ bản là vậy nhưng ngoài ra nó còn
phát
sinh
nhiều
vấn
ñề.
Ví
dụ
như
trong
nội dung liên
kết thì sẽ kèm theo nó
những lợi ích chi phí mà mỗi bên nhận ñược và bỏ ra.
2.1.4 ðặc trưng của liên kết
Từ lý thuyết về liên kết, chúng ta ñưa ra những ñặc trưng cơ bản của liên kết
kinh tế như sau:
Liên
kết
kinh
tế
là
một
phạm trù
khách quan
phản
ánh
giữa
các
bên
tham
gia
liên
kết.
Quá
trình
này
vận
ñộng, phát triển qua những nấc thang từ quan hệ hợp tác, liên doanh ñến liên hợp,
liên minh, hợp nhất lại.
Liên kết kinh tế là những hình thức hoặc những biểu hiện của sự hành ñộng
giữa chủ thể liên kết thông qua những thoả thuận, những giao kèo, hợp ñồng, hiệp
ñịnh, ñiều lệ Mối liên kết nhằm thực hiện tốt những mục tiêu nhất ñịnh trong tất cả
các lĩnh vực khác nhau của hoạt ñộng kinh tế (ñầu tư, sản xuất kinh doanh ). Tuỳ
theo
ngành,
liên
kết
giữa các thành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ
.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kỹ thuật……………… ………………………
15
2.1.5 Các hình thức liên kết
2.1.5.1 Liên kết dọc
Liên kết dọc (liên kết giữa các tác nhân trong cùng một ngành hàng mà trong
ñó mỗi tác nhân ñảm nhận một bộ phận hoặc mốt số công ñoạn nào ñó) là liên kết
ñược thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng
vận ñộng của sản phẩm). Kiểu liên kết theo chiều dọc toàn diện nhất bao gồm: Các
khâu sản xuất ñến thu
gom và tiêu thụ sản phẩm. Trong liên kết
này
mỗi tác nhân
vừa
là
chuỗi
ngành
hàng.
Kết
quả
của
liên
kết
dọc
là
hình
thành
chuỗi
ngành
hàng
là
hình
thức
liên
kết
giữa
các
chủ
thể
nhằm
mục
ñích
làm
chủ
thị
gồm
sản
xuất,
phân
phối
và
tiêu
thụ
sản
phẩm.
Sản
xuất
nông
nghiệp
theo
người
làm
nông
nghiệp
ở
Việt
Nam
vẫn
chưa
quen
với
phương
thức
sản
xuất
quyết
ñịnh
theo
cách
mà
hai
bên
cùng
có
lợi,
lý
tưởng là cùng chia sẻ rủi ro và cải tiến chất lợng và sản xuất.
Hợp
ñồng
sẽHợp ñồng miệng là các thỏa thuận không ñược hợp ñồng bằng văn bản giữa
các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt ñộng, công việc nào ñó. Hợp
ñồng miệng cũng ñược hai bên thống nhất về số lượng, giá cả, thời hạn và ñịa ñiểm
giao nhận hàng. Cơ sở của hợp ñồng miệng là niềm tin, ñộ tín nhiệm, trách nhiệm
cam
kết
thực
hiện
giữa
các
tác
nhân
tham
gia
hợp
ñồng.
anh
em
ruột
thịt
bạn bè ), hoặc giữa các tác nhân ñã có quá trình hợp tác liên kết sản xuất - tiêu thụ
với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể hiện ñược nguồn lực tài chính khả
năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với các ñối tác.
Tuy nhiên hợp ñồng
miệng thường chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về
số
lượng,
giá
cả,
ñiều
kiện
giao
theo
hợp
ñồng
là
quan
hệ
mua
bán
chính
thức
ñược
thiết
lập
giữa
các
.Shepherd
(2001),
liên
kết
dạng
hợp
ñồng
là
hình
thức
một
công
ty
cam
ñể
doanh
nghiệp
chế
biến,
ñóng
gói
và
tiêu
thụ
sản
phẩm.
Trong
những hợp ñồng kiểu này, lượng sản phẩm doanh nghiệp ñặt hàng các trang trại ñược
phân bổ ngay từ
ñầu mùa vụ và chất lượng ñược giám sát một cách chặt chẽ.
an
toàn
vệ
sinh
thực
phẩm,
nhằm
góp
phần
nâng
cao
sức
cạnh
tranh
cho
vườn
cây.
Bên
bán sản phẩm chỉ thực hiện hoạt ñộng sản xuất tạo ra sản phẩm và bán lại sản phẩm
cho doanh nghiệp. Chủ thể tham gia trực tiếp vào mô hình này cũng chỉ bao gồm
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kỹ thuật……………… ………………………
17
.
doanh nghiệp và các trang trại. Trong ñó các trang trại do nông dân sản xuất thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp. Do ñó, các hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản
trên ñất của doanh nghiệp có thể xem là người lao ñộng trong doanh nghiệp.
- Mô hình ña chủ thể (The Multipartite Model)
Tham gia mô hình này bao gồm nhiều chủ thể khác nhau như Nhà nước, nhà
khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, các trang trại. ðặc ñiểm của mô hình này là các
chủ thể khác nhau sẽ có trách nhiệm và vai trò khác nhau. Trong ñó, doanh nghiệp
ñóng vai trò hạt nhân gắn kết nhà khoa học với nông dân, gắn kết nhà tài chính với
nông
dân
và
tiêu
xuất,
ñầu
tư
xây dựng
kết
cấu
hạ tầng, giải
quyết
những
vấn
ñề
khó khăn
nảy
sinh do thị trường, thiên tai gây ra, ñồng thời vận ñộng, giáo dục, tuyên truyền nâng
cao nhận thức, kỹ năng cho các bên tham gia sản xuất theo hợp ñồng.
ðặc trưng của mô hình này là mối quan hệ
cứ
vào
hợp
ñồng
giữa
doanh
nghiệp và các trang trại ñể cho vay ñầu tư phát triển sản xuất, phát triển thị trường.
Doanh nghiệp ñặt hàng nhà khoa học ñể giải quyết các vấn ñề kỹ thuật sản xuất nảy
sinh.
Các
tổ
chức
dân
sự
xã
hội
như
nghiệp
và
trang
trại.
Nhà
nước căn
cứ
vào
hợp
ñồng ñể xử lý các mẫu thuẫn phát sinh.
- Mô hình trung gian (The Intermediary Model)
ðây
là
mô
hình
doanh
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kỹ thuật……………… ………………………
18
.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kỹ thuật……………… ………………………
19
ký
kết
hợp
ñồng
trực
tiếp
với
nông
dân
mà
thay
vào
xuất
nông
nghiệp
còn
manh
mún
và
phân
tán. Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản khó thực hiện việc ký hợp ñồng cung
cấp vật tư, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân vì ñể thực hiện ký hợp ñồng cho từng hộ
nông dân
thì chi phí
giao dịch tăng cao và bản thân
họ
không ñủ năng lực kiểm soát
trực tiếp quá trình sản xuất của từng hộ nông dân.
ñồng
giảm ñi, việc kiểm soát sản xuất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cũng dễ
dàng hơn. Người trung gian ñóng vai trò ñại diện cho nông dân, tạo nên sức mạnh
tập thể
ñể thương lượng với doanh nghiệp.
- Mô hình phi chính thức
ðây
chính
là
hợp
ñồng
miệng
giữa
nông
dân
với
người
phương
thức
ứng trước vật tư phân bón cho nông dân và ñến khi thu hoạch họ nhận lại sản phẩm.
Mô hình phi chính thức thường ñược áp dụng trong cùng cộng ñồng, sản xuất ở
quy mô nhỏ. Mối quan hệ giữa nông dân và người mua là mối quan hệ than tình, láng
giềng rất chặt ché nên hợp ñộng mua bán khá ñược ñảm bảo. Tuy nhiên, mô hình này
khó
mở
rộng
phạm
vi
hoạt
ñộng
vì
những
người
thương
hợp
cho
cây
mía
từ
25
0
C
-
26
0
C.
Vận
dụng
tốt
các
ñặc
và
ñòi
hỏi
cao
về
ánh
sáng. Số giờ nắng tối thiểu trong năm là 1200 giờ, tốt nhất trên 2000 giờ.
c. ðất ñai
Tiêu chuẩn ñất trồng mía tốt như sau:
ðất có nguồn gốc núi lửa hoặc phù sa mới
ðất thịt, thịt pha cát, kết cấu xốp, giữ nước tốt
Tầng canh tác dày 0,7-0,8m
d. Nhu cầu dinh dưỡng
Một vụ mía có năng suất 100 tấn/ha lấy từ
ñất 200kg N, 85 kg P
2
O
5
, 420 kg
K
2
O. Trung bình 1 tấn mía cần 1 kgN, 0,5-0,7 kg P
cao:
ðây
là
thời
kỳ
dài
nhất
và
quan
trọng
nhất,
là
thời
kỳ
quyết ñịnh năng suất. Thời kỳ này thường kéo dài từ 7 ñến 9 tháng. Bố trí thời kỳ
ñầy
ñủ
là
biện pháp quan trọng và rẻ tiền nhất tăng năng suất mía. Thời kỳ này càng dài càng
có lợi cho năng suất mía.
Thời kỳ chín công nghiệp: Thời kỳ này bắt ñầu từ cuối thời kỳ vươn lóng cho
ñến khi thu hoạch, hoặc ñến khi hàm lượng ñường trong thân giảm. Thời kỳ này ñòi
hỏi các ñiều kiện như thời tiết khô hanh, ñộ
ẩm ñất giảm, nhiệt ñộ giữa ngày và ñêm
càng lớn càng tốt.
Thời
kỳ
chín
sinh
lý:
Thời
Công ñoạn thu hoạch mía là vô cùng quan trọng vì nó liên quan tới ñộ
ñường
và chất lượng mía, vì vậy người ta xác ñịnh ñộ chín mía. Càng ñúng thời gian mía
chín thì hàm lượng ñường trên mía mới ñạt tiêu chuẩn, thường thì thời gian này vào vụ
chế biến của nhà máy chế biến ñường. Ở hầu hết các nước trồng mía trên thế giới mùa
chế
biến
ñường
thường
kéo
dài
trong
vòng
6
–
7
trong
cây
mía
trừ
ñi
sự
hao hụt trong chế biến. Sự hao hụt này phụ thuộc chủ yếu vào các tạp chất và tỷ lệ
xơ của cây mía.
2.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng ñến liên kết
2.1.8.1 Các yếu tố từ hộ sản xuất
ðối với người sản xuất do trình ñộ hiểu biết còn hạn chế về liên kết, về hợp
ñồng, trách nhiệm trong liên kết, họ chỉ nhìn những cái lợi trước mắt mà không nhìn
lâu dài. Họ sợ sự rằng buộc về mặt pháp luật khi ký kết hợp ñồng.
Mặt khác, có những hộ sản xuất mặc dù ñã ký hợp ñồng tiêu thụ với công ty
nhưng nơi nào mua với giá cao hơn họ vẫn bán, thậm chí một số hộ nhiều nông dân
trên cùng một diện tích và sản lượng lại ký hợp ñồng tiêu thụ dẫn ñến tình trạng phá
vỡ hợp ñồng, làm các công ty không chủ
ñộng ñược nguyên liệu.
dân
không
“chung
thuỷ” với công ty sẵn sàng bán cho công ty khác khi họ trả giá cao hơn.
Một thực tế khó khăn ảnh hưởng ñến sự liên kết giữa công ty và hộ sản xuất
ñó là hộ sản xuất
luôn
muốn
chất lượng hàng hoá của mình là cao trong
khi ñó
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kỹ thuật……………… ………………………
21
.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kỹ thuật……………… ………………………
22
thực tế lại không ñạt như vậy. Vì vậy, dẫn ñến tình trạng xảy ra các mâu thuẫn trong
thu mua giữa công ty và hộ sản xuất không bán theo hợp ñồng với công ty mặc dù
công ty ñã ñầu tư ban ñầu (hộ sản xuất sẵn sàng ñi ñến với các công ty và cơ sở sản
xuất khác mà hộ không ký kết).
Sản xuất của hộ vẫn tự phát, không tập trung, quy mô kinh tế của hộ rất nhỏ,
ñang
có,
sợ
rủi
ro
trách nhiệm khi tham gia liên kết.
Như vậy, nhận thức của liên kết sản xuất của hộ rất kém, các lý do chính trên
là làm cho việc liên kết còn hạn chế và ñể liên kết trong sản xuất của hộ
ñược hiệu
quả hơn cần giải quyết tốt các lý do ảnh hưởng trên.
2.1.8.2 Các yếu tố từ doanh nghiệp
Các
cơ
sở
chế
biến
thu
ngừng
mua
hoặc
giảm
giá
lại
không
thông
báo
cho
nông
dân,
trong khi mua còn gây khó dễ với nông dân nhất là vào thời ñiểm chính vụ nông sản.
Chế
tài
hiệu
lực
chưa cao, mới chỉ dừng lại phạt tiền nên tình trạng phá vỡ hợp ñồng vẫn xảy ra nhất
là khi thời vụ nguyên liệu khan hiếm mà giá hơn giá thị trường.
Sự chủ
ñộng phối hợp
liên kết phục vụ cho sản xuất, quy hoạch vùng nguyên
liệu của các cơ sở chế biến với cấp chính quyền ñịa phương, với hộ nông dân chưa cao.
2.1.8.3 Các yếu tố từ nhà khoa học
Sự tham gia của các nhà khoa học, nhà kỹ thuật còn hạn chế, ảnh hưởng ñến
sự gắn liền ñất sản xuất của hộ. Tổ chức khoa học giữ vai trò rất quan trọng trong
quá trình liên kết. Họ chính là người giúp nông dân ứng dụng các công nghệ, TBKT
ñể nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán và tăng sức
cạnh tranh của hàng hoá. Tuy nhiên cho ñến nay, số
ñông các cơ quan khoa học vẫn
lúng túng khi thực hiện liên kết “bốn Nhà”.
.Vẫn còn thiếu vắng các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu mạnh dạn chủ
ñộng
ñưa
trình,
dự
án
nghiên
cứu.
Ngay
cả
những
hợp
ñồng
ñược
kí
kết
thông
qua
quyền
các cấp
còn
hạn
chế
do
chính
sách
và
do
bản
thân
chính quyền
(nhất
là
chính quyền
giải
quyết
các
vấn
ñề
ảnh
hưởng ñến liên kết. Chính quyền cơ sở gần như thả nổi ñể tự cơ sở chế biến và hộ
sản xuất thoả thuận với nhau trong hợp ñồng liên kết.
Chưa xác ñịnh rõ
về sự rằng buộc, trách nhiệm, lợi
ích giữa các bên tham gia
liên kết nên dẫn ñến phá vỡ quá trình này, nhất là khi cơ sở chế biến vi phạm hợp ñồng.
Chính
sách
chưa
thật
một quá trình liên kết
bền vững thì cần giải quyết tốt những
yếu tố
ảnh hưởng trên.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực tiễn liên kết sản xuất và tiêu thụ ở một số quốc gia trên thế giới
* Tại Thái Lan
Thái Lan là nước có kinh nghiệm lâu năm áp dụng rộng rãi hình thức liên kết hợp
tác bằng hợp ñồng sản xuất nông sản, với nhiều loại nông sản. Hiểu rõ rằng khi mở cửa
thương mại tự do, nông dân sẽ phải ñương ñầu với những biến ñộng của thị trường thế
giới, mặt khác cũng biết rằng nếu ñể Nhà nước ñóng vai trò trực tiếp quản lý sản xuất
kinh doanh nông nghiệp sẽ tốn kém và hiệu quả không cao. Chính phủ Thái Lan ñã
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kỹ thuật……………… ………………………
23
.
quyết ñịnh ñưa hình thức hợp ñồng lên thành nội dung chính của chiến lược “tư nhân liên
kết phát triển nông nghiệp” trong chương trình phát triển kinh tế
ñất nước.
Hình thức hợp ñồng ñược áp dụng phổ biến ở Thái Lan là: các công ty tư nhân cung cấp
vật tư nông nghiệp, vốn tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật, mua nông sản và tổ chức tiếp thị hợp
ñồng với nông dân. Tại Thái
Trong
ñiều
kiện
ñó
các
ngân
hàng
thương
mại
muốn
cho
vay
thông
qua
phương
góp phần quan trọng trong quá trình chuyển ñổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp của nước
này từ một nền sản xuất nông sản thô sang sản xuất kinh doanh nông sản chế biến tạo
nên khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
* Ở Trung Quốc
Tại Trung Quốc, liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông
phát triển rất nhanh chóng trong thời gian gần ñây và ñã trở thành công cụ khuyến
khích các
thành
phần
công,
thương
nghiệp
tham
gia
nhiều hơn
nhằm
thúc ñẩy
sản
xuất nông nghiệp phát triển, tạo liên kết chặt chẽ giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ
phương thức kinh doanh nông nghiệp kiểu mới, trong ñó nhà nước phối hợp với các
xí nghiệp và các nhà khoa học trong các khâu tác nghiệp trước sản xuất, trong sản
xuất và sau sản xuất của hàng triệu hộ nông dân, nhằm hướng vào thị trường nâng
cao
hiệu quả
kinh
tế
sản xuất
thực
hiện
nhất
thể
hoá
sản xuất
-
chế
biến-