BỘ Y TẼ
■
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
*****
NGUYỄN MINH HẢI
HỌC THUYẾT W - DƯƠNG
V À
VIỆC VỆN ĐỌNG TRONG Y Đơợc HỌC cổ TRUỴẾN
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ ĐẠI HỌC KHOÁ 1996 - 2001)
Người hướng dẫn : TS. v ũ VĂN VINH
Nơi thực hiện : Bộ môn Mác - Lê Nin
Thời gian thực hiện : 9/2000-05/2001
Lt ÍU HÀ NỘI, THẢNG 5/2001
/ w y " "\
|C * \<
ụ y ^ . ' 7
S ã* c á m < P ĩĩs /
Trong klioảng thời gicui hạn hẹp, hơn nữa đây là bước đầu làm quen với
nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm bản í hân còn hạn chế, đặc biệt trong một
đê lài mang lính tổng quan. Tuy nhiên, điỉợc sự hướng dẫn lận lình của các
íhẩy, cô Irong Bộ môn Mác Lê nin, Bộ môn DìíỢc học cổ truyền, củỉig với sự
cố gắiiịỊ của bản ihâii, em đã hoàn tliàììh đề lài theo nội diiììíỊ và thời gian đã
đề ra.
Nhân clip này em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến :
- TS. Vũ Văn Vinh - Chủ nhiệm Bộ môn Mác - Lồ nin là người đã hướng
dẫn tận tình, tỉ mỉ cho em trong suối quá trình nghiên ám.
- TS. Phùng ỉíoà tìình - Bộ môn Dược học cổ truyền người đã quan lâm
đóng góp ý kiến cho bản luận văn được hoàn lỉìiện hơìì.
Em xin chân íhàìỉh cảm Ơ1Ĩ các íỉìầy, các cô trong Bộ môn Mác Lê nin,
Bộ môn Dỉíợc học cổ truyền đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành bẩn luận
2.5.4.Học thuyết Âm - Dương với đường lối lập phương dược cổ liuyền 38
2.5.5. Học thuyết Âm - Dương với việc Ihu hái, chế biến Ihuốc cổ 39
truyền
Phần 3: Kết luận 40
Danh mục tài liệu tham khảo
PHẨN h ĐẶT VẤN ĐỂ
Người Phương Đông xưa quan niệm Âm dưưng - Ngũ hành là nguyên
lý phổ biến của Irời đất, vạn vạt. Từ thời cổ đại đã có sự hiện hữu của phạm trù
này trong những hoạt động sống của con người kể cả sự sản sinh, biến hoá của
vũ trụ. Việc sử dụng các khái niệm Âm - Dương đã đánh dấu bước phát Iriển
về tư duy khoa học của người Phương Đông vượt khỏi sự khống chế của tư
iưởng lín ngưỡng và tôn giáo đương thời. Đó là cội nguồn duy vật thô sơ và
biện chứng của lư tưởng Iriết học phương Đông. Nó là cơ sở cho việc nhân
thức các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
Qua hàng ngàn năm phát triển của y dược học cổ truyền, học thuyết
Âm-Dương cùng với những học thuyết khác như: Học thuyết Ngũ hành, học
thuyết tạng tưựng, học ihuyết kinh lạc, học Ihuyết Thiên - Địa - Nhân đã trở
thành nền tảng lý luận cho tư duy biện chứng luận trị.
Chính V I vạy, dể hiểu rõ những giá trị của nền y dược học cổ truyền,
chúng ta không thổ không đi sâu vào nghiên cứu các học thuyết này. Hơn nữa,
hiện nay Đang và Nhà nước la đang nỗ lực xây dựng một nền y tế toàn diện,
hiện đại dựa trên cơ sử kế thừa và kết hợp chặt chẽ giữa y học cổ truyền và y
học hiện đại. Do đó việc nghiên cứu học Ihuyết Âm - Dương và việc vạn dụng
nó trong y dược học cổ truyền là một việc làm cần thiết nhằm góp phần vào
việc nghiên cứu, học tập để kế íhừa những giá trị của nền y dược học cổ
truyền, phục vụ sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
1
PHẨN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
HỌC THUYẾT ÂM -DƯƠNG
gia khác ở Đỏng Nam Á trong đó có Việl Nam. Nó írở thành cơ sở lý luận
quan trọng chi phối thố giới quan và nhân sinh quan của người phương Đông.
1.1.2. Những quail niệm về Âm - Dương:
Từ xưa đến nay việc đưa ra một quan niệm khái quát về Âm - Dương
luôn luôn là điều quan lâm nhấl của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên ở mỗi một
thời đại, mõi giai đoạn phái triển của lịch sử cũng như mỗi lĩnh vực nghiên
cứu khác nhau thì lại có những quan niệm khác nhau về Âm - Dương. Trong
phần này, chúng lôi muốn trình bày một cách tóm tắt những quan điểm cơ
bản về Âm - Dương Ihông qua mộl số lài liệu và các nhà nghiên cứu.
- Trong Kinh Dịch, một cuốn kinh ra đời từ rất sớm ở Trung Quốc có
nhiều đoạn nhắc đôn đạo Âm - Dương,ví dụ như:
• Hệ lừ thượng, chưưng 1 viết: "Có Càn (Dương) liên íìiàìĩìi giống đực,
cồ Khôn {Ẵm) liên Ihàìilỉ giống ('ái”.
• Hệ từ hạ chương 6: "Đức của Âm - Dương ìiợp với nhau mà hào cương
và nhu mới có thực thể, nhân đó mà suy trắc được công việc của trời đất và
thôìĩq cảm được đức của thần mi nil”.
- Hệ lừ hạ, chưưng 5: "Giông đực, giếng cái kết hợp tinh khí mà vạn vật
sinh 11Ở, biến hóa". [16, 113]
Rõ ràng Kinh Dịch coi đạo Âm - Dương, đạo trời - đất, đạo nam - nữ là
quan Irọng nhất: vì chỉ cỏ sự biến hóa, giao cảm của trời đất mới tạo ra các sự
vật, hiện lượng.
- Từ điổn Iriết học viết:
"Âm - Dương là lìhữtìíị khái niệm cơ bản của triết học Tnmg Quốc thời
cổ. Thoạt cíứii Ăm và Dương dùng đế biểu thị những nhân tố sáng - tối, cứng -
mềm, nam - Iìfí trong lự nhiên. Trong CỊìiá trình phái íriển của triết học Trung
Quốc, Ảm vù Dương ngày cànq tượng iruìig cho sự lác động lẫn nhau nia
nhỉĩiiíỊ đôi lập cực đoan và quyết liệt ỉìlìáí: ủììh sáng - bóng tối, ngày - đêm,
mặt í rời - mặt trủỉìg, Irời - iìấí; ÌIÓỈIIỊ - lạnh; khẳng đinh - phủ đinh " [34, 18|
- Theo Từ điển y học cổ truyền:
"Học íluiyêĩ Âm - Dương trong y học là phương pháp tư tưởng hiện
bản của hai loại í rủi ngược nhau nlỉiùig lại kết hợp với nhau trong vũ trụ. Ầm
- Dương cổ quan hệ mật íìứếl với ánh sáng mặt trời. Ấm - Dương nguyên chỉ
là vật thể đổi với Iniứìỉg của áỉìh sủng mặt trời, phía trước mặt trời, là Dương,
phía sau ìììặí trời là Ẵm "
"Ịlai chữ Ám - Dương diễn biến qua thời đại Chiến Quốc đến thời Tiên
Tần trở thành llntậl ỉìgỉĩ triết học tự nhiên dùng để nói Vổ vũ trụ. Cơ sở náy
sinh muôn vật (rong trời âất là do hai thế lực Ám - Dương. Ầm - Dương sinh
trưởng, tiêu diệt lẫn nìicni hình thành những hiện tìiỢììg thiên biến vạn hóa
Irong vũ trụ".118,881
4
- Trong cuốn "Những nền văn minh thô' giới", Âm - Dương được đề cập
đến như sau: "Âm - Dương hai lừ của một khái niệm biểu hiện hai yếu í ố cùng
tồn tại, độc lập, tương phản nhưng lại hòa đồng, lồng vào nhau mà không triệt
tiêu nhau để sinh biến. Ảm - Dương không những dũng để biểu hiện trong thế
giới hữii hình (lừ vi mô đến vĩ mỏ - 1 hổ'giới hạt cấu trúc của vật cỉtâĩ) mà nó
còn biểu hiện trong cả Ị hổ'giới vô hình (thổ'giới của tư duy, của tâm linh, cảm
giác, tâm hồn chính vì thế Ầm - Dương có trong lất cả, íữ các hiện tượng đếĩi
bản thể vật clưĩl dù nó có trong tri giác hay không có trong tri giác". [17, 417]
Như vậy, trong quan niệm của người phương Đông thì Âm - Dương là
một khái niệm vừa mang lính khái quát vừa mang lính cụ thể. Khái quát ở chỗ
nó bao hàm trong mọi yếu tố, mọi quá trình, mọi sự vật, hiện tượng Irong thế
giới (bao gồm cả thế giới vật chất, tinh thần và tư duy của con người) cụ Ihể ở
chỗ nó gắn liền với các sự vật, hiện tượng như: Trời - đất; đàn ông - đàn bà;
trước - sau; trên - dưới; trong - ngoài; nóng - lạnh. Khái niệm Âm - Dương là
một khái niệm động vì nó là hai mặt đối lập của các sự vật, hiện tượng biến
động, tiến hóa không ngừng. Do đó khi xem xét, vận dụng người ta cũng phải
đặt nó trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng.
1.2. NHỦNí; t ín h CIIẤT v ả q u i l u ậ t v ậ n HẢNII CỦA ÂM - DƯƠNG:
Âm và Dương lác động lẫn nhau Iheo nhũng quy luật sau:
1.2.1. Âm - Dương đối lập nhau:
linh chất của huyết không đầy đủ thì kill cũng suy. Do vậy khí và huyết có
quan hệ khăng khít với nhau.
1.2.3. Âm - Dương tiêu trưởng:
Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển. Quy luật này nói lên sự vận
động không ngừng và sự chuyển hóa lãn nhau giữa hai mặt Âm - Dương. Âm
trưởng thì Dương liêu, Dương trưởng thì Âm tiêu. Dương đạt đến cực Ihịnh thì
Âm sinh và Dương thoái dần; Âm đạt đến cực thịnh thì Dương sinh và Âm
llioái dần. Cứ như vậy, chu trình vận động tạo thành vòng tròn khép kín. Mặl
luần hoàn này của Âm - Dương phản ánh lỗ biến hóa của trời đất, của vạn vạt.
Ví như: Thời tiết có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông luồn luôn biến đổi hết Hạ
qua Thu sang Đông, hết Đông qua Xuân sang Hạ.
Kinh Dịch đã minh họa điều này qua 12 íháng như sau:
___
Tháng 4: Quẻ Càn ( § n ) Tháng 10: Quẻ Khôn ( J ! P )
Tháng 5: Quẻ Cấn (rEẸEỊỊ ) Tháng 11: Quẻ Phục ( s s )
Tháng 6: Quẻ Độn ( === ) Tháng 12 : Quẻ Lâm ( )
Tháng 7: Quẻ BT ( EE5 ) Tháng Giêng: Quẻ Thái ( )
1.2.4. Âm - Dương bình hành:
Phản ánh thế cân bằng giữa Âm và Dương. Âm - Dương tác động lẫn
nhau trong xu thế để đạt tới sự cân bằng giữa Âm và Dương. Đó ỉà trạng thái
mà sự vật lổn lại bền vững. Sức khỏe của con người cũng vậy, nó là kết quả
của sự quân hình Âm - Dương. Sự quân bình ấy đạt được là do con người biết
sống hài hòa với lự nhiên, luân Ihủ những quy luật của tự nhiên, không thái
quá, không bất cập. Âm - Dương ở trạng llìái cân bằng động, vì vậy sức khỏe
của con người cũng luôn luôn ở trạng thái cân bằng động. Những yếu lố về
ngoại cảnh, VC thời tiết, khí hậu, về ăn uống, về làm việc và nghỉ ngơi, những
yếu íố lâm sinh lý luôn luôn lác động làm mất cân bằng trạng thái lạo nôn sức
khỏe. Nhưng con người bằng những hoạt động cụ Ihể của mình như tiếl chế,
sinh lioạí điều độ, lập luyện thường xuyên, tu dưỡng và sử dụng thuốc một
cách hợp lý đổ lập lại thế quân bình Âm - Dương đảm bảo cho sức khỏe và sự
Biêu tượng Âm Dương của Đạo Thiên Chúa.
Dương thằng đứng, Âm nằm ngang, hòa hơp với
nhau thảnh cải Đơn nhất của mọi hiện tượng.
Biểu tượng Âm Dương của Đạo Zoroastre. Dương
là cái chấm, Âm là cải gạch, hai cải luôn luôn di
đôi với nhau. Bên phải đồ hình là Vũ trụ của Đạo
gồm 32 hình vuòng Dương và 32 hinh vuòng Âm
(Tống còng là con số 64 !).
Hình 1: Một số biểu tượng của Ảm - Dương.
Trong lịch sử, quy luật Âm - Dương đưực hình tượng hoá bằng nhiều
biểu lượng khác nhau. Trong đó ta có thể thấy biểu tượng: 1 vòng tròn khép
kín, có một đường cong hình chữ s ngược chia hình tròn ra làm 2 phẩn là biểu
thị đầy đủ ý nghĩa nhất.
Trong biểu lượng này:
- Vòng Iròn lớn khép kín gọi là Thái cực, nói lên sự thống nhất của một sự
vạt, hiện iưựniỊ. Phân chia vòng tròn này thành hai nửa Thái Âm và Thái Dương
(Âm có màu đen, Dương có màu Irắng) là hình chữ s ngược (chứ không phải là
một đường lliẳnu) nói lỏn sự cân hằng động giữa Âm và Dương.
8
- Hai chấm nhỏ bên trong là Ihiếu Âm (chấm đen, nằm trong Thái
Dương) và Thiếu Dương (chấm trắng, nằm trong Thái Âm). Thiếu Dương vân
động đến Thái j$Ô8Ịthì trong lòng Thái Dương nảy sinh Thiếu Âm, Thiếu Âm
vận động đốn Thái Âm lliì trong lòng Thái Âm lại nảy sinh Thiếu Dương. Cứ
như vây, Âm - Dương biến hoá liên tục tạo thành vòng khâu biến hoá không ngừng.
1.4. LƯỢC KHẢO VỂ KINII DỊCIi:
Kinh Dịch là một bộ sách mang tính triết học của người Trung Hoa cổ
đại. Đó là nhũng cơ sở lý luận về vũ trụ quan và nhân sinh quan của người
xưa, hàm chứa nhũng lư tưởng ban đầu về triết lý Âm - Dương. Tương truyền
Kinh Dịch khởi thủy do vua Phục Hy (4477-4363 Irước công nguyên) còn gọi
là Đào Hy hay Thái Cao hoặc Thái Hạo, đó là vị vua có nhiều công lao cho sự
ệt f «
ill ^ A A
Hình 2: Hà Đồ
Hình 3 :Tiên Thiên bát quái
Theo Iruyền thuyết các hình Irên là do vua Phục Hy vạch ra. Nhân khi
trông thấy Long Mã xuất hiện Irên sông Hoàng Hà, trên lưng nó có những
chấm như mộl bức họa đồ, ông liền phỏng Iheo và vẽ thành một bức đồ gọi là
Hà Đổ. Vua lại lấy vạch ngang liền (-) để ký hiệu Dương vạch ngang đứt (- -)
để ký hiệu Âm. Mõi vạch như vậy gọi là 1 hào. Bát quái là 8 quẻ, mõi quẻ có
3 hào, được sắp xốp như sau:
1. Quỏ Kiền: là trời; ký hiệu: ( EEEE )
2. Quẻ Đoài: là ao, hồ; ký hiệu: ( )
3. Que Ly: là lửa; ký hiệu: ( SESE )
4. Que Chấn: là sấm; ký hiệu: ( J
5. Que Tốn: là gió; ký hiệu: ( ErEE )
6. Que Khảm: là nước; ký hiệu: ( EES )
7. Que Cấn: là núi; ký hiệu: ( EETEE )
8. Quẻ Khôn: là đất; ký hiệu: ( EEEE )
Xếp Ihứ tự như Ihố gọi là Tiên Ihiên bát quái. Chồng hai quẻ lên nhau ta
lại có 64 que kép. Mõi quẻ có 6 hào.
- Lạc thư và Cửu trừ hồng phạm của vua Hạ Vũ:
Theo iưưng Iruyền vua Hạ Vũ nhân dạo chơi trôn sông Lạc nhìn thấy
một con rùa vàng trôn mai có những chấm và vạch bố trí như một biểu đổ gọi
là Lạc Thư. Dựa theo đó ngài đã đặt ra 9 nội dung triết lý để trị dân và làm
giường cột cho xã hội dương thời gọi là Cửa trù hồng phạm (khuôn phép của 9 IrCi).
10
4
Ngũ kỷ
9
Ngũ phúc
mục đích áp dụng nhũng tình huống các quẻ để giải thích các hiện lượng xã
hội và nhân sự. Do đó có phần nói về "tốt - xấu, cát - hung, lành - dữ” Irong
mỗi que, làm cho dịch lý Irở Ihành nguồn gốc phương pháp tính toán đổ liên
đoán số mệnh, bói loán, lính số lử vi.
- Hào lừ:
Đây là phần bổ sung của Chu Công Đán con Văn Vương. Ồng cắl ngliĩạ
íừng hào trong 64 quẻ, cho mỗi hào mộl ý nghĩa ngắn gọn, gắn sự cát - hung
cho từng hào gọi là Hào lừ. Nội dung của 64 quẻ đều xoay quanh lỗ biến hóa
của Âm - Dương, cư sở của sự liêu Irưởng, lành dữ, cái đạo của sự liến hóa,
tổn vong của muôn vậl.
- Thập dực: Là phẩn Khổng Tử soạn và bổ sung để hoàn Ihành Kinh
♦ Dịch. Phần Thập dực bao gồm: Thoán truyện, Tượng Iruyện, Hệ từ mỗi thứ có
2 thiên, còn Văn ngôn, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái mỗi thứ có một thiên.
+ Thoán truyện: Gồm 2 thiên: Thiên ihượng giải thích Thoán lừ của 30
quẻ đáu, íhiên hạ giai thích Thoán lừ của 34 quẻ sau.
+ rỉ'iíỢHí> truyện: Giải thích cái ''tượng" của mỗi quẻ và của loàn quẻ.
Tượng truyện cũng chia làm 2 thiên: thiên thượng cho 30 quẻ đầu, thiên hạ
cho 34 quẻ sau.
+ lỉệ lừ: Cũng gồm hai Ihiên thượng và hạ. Nội dung tập thượng bàn về:
Lý lẽ về Càn - Khôn; ý nghĩa việc thánh nhân làm dịch; sự lo lớn của đạo
dịch; bàn về lliuyốt Âm - Dương; sô đại diện trong dịch và phép bói; công
dụng của đạơ dịch; việc bói dịch. Nội dung lập hạ bàn về: Lẽ tốt xấu trong quẻ
và hào, cổ nhân lấy iưựng ử các quẻ mà lạo đồ dùng, luật tuần hoàn và đạo đức
trong dịch, sự khác nhau giữa các hào 2 và 4; 3 và 5; bàn luận chung về dịch
+ Vãn ngôn truyện giải Ihích ihôm về kinh văn, nội dung Văn ngôn
truyện hàn vổ ý nghĩa của hai quẻ Càn và Khôn đối với lính cách và hành vi
của con ngưừi. về tư tưởng thiên truyện này có nhiều chỗ giống trong tác
phẩm Đại học, Tru nụ; dung và Mạnh lử, mang IÍI1Ỉ1 Iriốl ]ỷ nhằm giáo dục con
người vì lliố nhiều nhà nghiên cứu về Kinh Dịch đã dựa vào nội dung này mà
cho rằng các chirưng Irons’- Thập Dực không phải do chính Khổng Tử soạn mà
dễ tiếp thu và Iruyền bá những lư tưởng triết học và đạo đức của người xưa,
nhằm giáo dục các chuẩn mực đao đức cho con người và xã hội. Trong đó có
đại biểu nổi liếng thời Hán như Phi Trực và Trịnh Huyền. Đến Ihời Ngụy có
Vương Bạl đã cai tiến cách soạn dịch đưa Thoán truyộn, Tượng truyện, Văn
ngôn truyện xen vào phần kinh văn ghi sau mỗi quẻ, mỗi hào. Còn lại Hệ lừ
Iruyện, Thuyốl quái truyện, Tự quái truyện và Tạp quái Iruyện là in liêng ở
phần cuối kinh.
Đốn lliời Tống, Chu Hi đã soạn ra "Chu Dịch bản nghĩa" giải tliích đầy
đủ nhiều quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của người xưa. Nhiều người học
dịch sau này đã dựa vào cuốn Kinh Dịch của Chu Hi. ở nước ta nhiều cuốn
Dịch được dịch ra liếng Việt cũng dựa theo sách này. Nhìn chung các cuốn
dịch đều chia Kinh Dịch ra làm 2 phần gọi là Thượng Kinh và Hạ Kinh.
Thưựng Kinh nói về Hà Đồ, Lạc Thư, Bál Quái và 30 quẻ đầu, Hạ Kinh nói về
34 quẻ sau.
Như vậy rõ ràng Kinh Dịch là một cuốn sách rất đồ sộ, do rất nhiều
người viết và hổ Sling. Những Iriếl lý của Kinh Dịch cũng không phải là quan
niệm l iêng cua một vài người, mà là vũ trụ quail và nhân sinh quan Ihống nhất
của người Á Đông. Nó được coi là cơ sử lý luận cho nhiều lĩnh vực của cuộc
sống con người như y dược, lịch toán và có trong lĩnh vực nhân học nhằm tiên
đoán vận mệnh đời người như khoa lử vi học. Tuy còn những hạn chế, nhưng
phải nói rằm; những giá trị đổ lại của Kinh Dịch là rất lớn, chúng la cần đi sâu
đổ "gcm dục, khơi íroiỉiị", phái huy vốn văn hóa cổ (Irong đó có Kinh Dịch)
phục vụ cho cuộc sống con người hôm nay.
13
CHƯƠNG 2:
MỘT SỐ VẬN DỤNG CỦA HỌC THUYẾT ÂM - DƯƠNG
TRONG Y DƯỢC HỌC cổ TRUYỀN
■ ■
Ngay lừ khi xuất hiện, học thuyết Âm - Dương đã được ứng dụng vào
rất nhiều lĩnh vực như thiên văn học, nông học, toán học đặc biệt trong y
- Cuốn Hoàng Đố 81 Nạn Kinh (gọi tắt là Nạn Kinh) tương truyền do
Biển Thước soạn nhằm giải thích thêm những điểm thâm thúy của Nội Kinh.
- Trương Trọng Cảnh (150-219) một danh y thời Hán của Trung Quốc,
lác giả của hai cuốn sách nổi Uống: 'Thương Hàn Luận" và "Kim Quỹ yếu
Lược" cũng đều dựa Irên cơ sở Nội Kinh, lấy Âm - Dương làm căn bản, ông
cho rằng: "Ầm - Dương là đề Cỉíơng của bệnh lật" ông là người đã sáng chế ra
hai phương thuốc nổi tiếng Lục vị (bổ âm), Bát vị (bổ dương).
Lý Đông Viên (1180 - 1251), tác giả cuốn "Tỳ vị luận", người xây dựng
nôn phái bổ tỳ thì lấy việc bổ lỳ dương làm trọng, Chu Đan Khê (1281 - 1358)
với lý thuyết "tư âm" thì lấy việc bổ âm làm trọng vì ông cho rằng: "Dương
íhời hũìi dư, âm thời bất lúc” cho nên phải chú trọng bổ chân âm.
Hoa Đà, một thần y thời Tam quốc ở Trung Quốc, cũng không ngoài
việc lấy Âm - Dương làm căn bản. Trong "Hoa Đà thần y bí truyền" viết:
"Trời là lổ của dương, đất là lổ của âm, dương là gốc của sinh, âm là nền của
lử, được dương thì sống được ảm Ị lù chết " [5, 35]
Y dược học cổ truyền Việt Nam được hình thành trong suốt quá trình
dựng nước và giữ nước. Ngoài việc lự tìm tòi lừ kinh nghiệm thực tế, y dưực
học cổ truyền Việt Nam còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của y dược học cổ truyền
Trung Quốc do việc giao lưu văn hóa giữa hai nước trong suốt quá trình phát
Iriển của lịch sử. Các danh y Việt Nam cũng đều lấy Nội Kinh làm căn bản,
Âm dương, Ngũ hành làm nền lảng tư tưởng. Trong tác phẩm "Nam Dược ihần
hiệiyVTuệ Tĩnh đã vận dụng Âm - Dương để phân chia Ưnh vị của các vị thuốc
trong nước từ đó làm căn cứ đổ sử dụng trong điều trị. Ví dụ: Vị thuốc có khí
ôn, vị cay là dương dược dùng điều trị ârh bệnh, vị thuốc có khí hàn, vị đắng là
âm dược dùng để điều trị dương bệnh.
Hải Thượng Lãn ông (1724 - 1791), một danh y nước ta thời hậu Lê,
người có công lớn trong việc xây dựng và phát triển nền y dược học cổ truyền
nước nhà, được coi là đại tôn y Việt Nam, người luôn tâm niệm xây dựng một
nền y học Việt Nam độc lập, tự chủ, vì sức khoẻ nhân dân. Bộ sách "Hải
15
Trên đây là những biểu hiện mang tính khái quát sự vận dụng học
thuyốl Âm - Dương trong lịch sử phát triển của y dược học cổ truyền, sau đây
16
chúng tôi sẽ đi sâu vào phân tích những ứng dụng cụ thể của học ihuyết Âm -
Dương vào mội số vấn đề trong y dược học cổ truyền.
2.1. IIỌC THUYẾT ÂM - DƯƠNG VỚI GIẢI PHẪU v à SINII l ý h ọ c c ơ THỂ:
Người xưa cho rằng vạn vạt trong vũ trụ được hình thành do sự giao
hoà của hai khí âm và dương, con người cũng như vậy, "Nhăn thân tiểu thiên
địa" (con người là một vũ trụ thu nhỏ).Từ lúc bắt đầu sinh ra, sinh trưởng và
phát triển đều hàm chứa một hình đồ thái cực Irong đó hàm chứa hai mặí Âm
- Dương có quan hệ mật thiếl với nhau, trong dương có âm và trong âm có
dương. Do vậy mõi bộ phận trong CƯ thể hoặc giữa các bộ phận đều hàm chứa
Âm - Dương.
2.1.1. Về giải phẫu học cơ thể có thể phân chia như sau:
- Xét vồ liên, dưới thì nửa người Irên (lính từ rốn Irở lên) thuộc dương,
nửa người dưới thuộc âm.
- Xét về trong, ngoài thì Irong (lý) thuộc âm, ngoài (biểu) thuộc dương.
- Xét về Irước, sau thì lưng thuộc dương, bụng thuộc âm.
- Xét về trái, phải thì nửa người bên trái thuộc dương, nửa bên phải thuộc âm.
- Xét lạng, phủ thì Ngũ lạng (tâm, can, lỳ, phế, thận) thuộc âm, lục phủ
(đởm, vị, tiểu tràng, đại tràng, bàng quang, phủ lam liêu) thuộc dương.
Tuy nhiên, sự phân chia mang lính lương đối, ví như trong mỗi tạng,
phủ đều có phần âm, phần dưưng; Tâm có Tâm âm (Tâm huyết), Tâm duơng
(Tam hoả). Can có Can âm, Can dương; Tỳ có Tỳ âm, Tỳ dương; Thận có
Thận âm, Thận dương.
Tính chất lương đối còn thể hiện ở chỗ: Tạng tâm, tạng phế thuộc âm
nhưng nằm trong lồng ngực thuộc dương ấy là âm trong dương, can, lỳ, thận
là lạng âm Irong âm.
Các đường kinh dương trong cơ thể được phân bố phía lưng, mặt ngoài
của chân, tay còn các đường kinh âm đuợc phân bố phía bụng, mặt trong của
Dương Ihắng thời âm bệnh.
Âm hư sinh nội nhiệt
Dưưng hư sinh ngoại hàn.
Dương thắng sinh ngoại nhiệt.
Âm thắng sinh nội hàn.
Thật vậy: Dương khí cluì thăng, chủ tán, chủ nhiệt, khi dương khí quá
mạnh lấn át phẩn âm khí, làm âm khí hao lán, giống như Ihuỷ bị hoả thiêu đối
mà hao kiệt thì cơ thổ sinh bệnh. Âm hư không chế ước được phẩn dương làm
18
cho dương khí động, lưu tán, bốc lên trên gây chứng nội nhiệt (phế nhiệt, vị
* nhiệt). Dương hư, dương tại biểu, do vạy chân tay, da dẻ sẽ lạnh
Lấy mộI ví dụ cụ thể: về mùa hạ khí hậu nóng lực, cơ thổ rất dễ bị
thương Ihử. Nếu thương thử tác động phần biểu gây ra chứng ngoại cảm nhiệt
(sốt cao, mặt đỏ, ra mồ hôi, háo khát, mạch huyền, phù ) Nếu thương thử lấn
sâu vào trong (lý) gây ra chứng Irúng thử (vật vã, sốt cao, mặt đỏ, mê man, bất
lỉnh ). Đó chính là dương là quá mạnh lấn át âm khí của cơ thể mà gây bệnh.
Sự mất cân bằng Âm - Dưưng có íliể xảy ra Irong một cơ quan, bộ
phận, hoặc giữa các cơ quan bộ phận với nhau, giữa bôn trong với bôn
ngoài, trên với dưới, trôn loàn bộ cơ thổ hoặc giữa cơ thể với môi trường
bên ngoài.
Xét về mặt các nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng Am - Dưưng.
Theo Ihuyết "Tam Nhân” của Đông y có thể phân chia thành: Nội nhân, Ngoại
nhân, bất nội ngoại cụ thổ như sau:
2.2.1. Ngoại nhân:
Ngoại nhân là những nguyên nhân bên ngoài, do môi trường, mang tĩnh
khách quan tác động lên cơ thể. Đông y thường chú trọng đến lục dâm (6
nguyên nhân xấu), Ihường thì CƯ thể suy yếu thì lục dâm dỗ xâm nhập vào cơ
thổ và gây bệnh. Luận về lục dâm, Hải Thượng Lãn Ông viết: "Hàn thương
thận, thử làm hại lâm, láo gây thương tổn phế, phong làm thương íổn can,
nhiệt làm thương tổn lâm, íỉìcíp lổn íhìCơng tỳ. Đó là lục dâm gây thành bệnh
Chủ khí mùa đông, quy hành thủy, lạng Ihạn, khuynh hướng hút sâu vào
phía trong rồi ngưng đọng lại gây tích trệ, thuộc âm, rất dỗ làm tổn Ihưưng
dương khí.
Ngoại hàn nếu phạm biểu gây ra các chứng cảm mạo hàn (âm bệnh),
sốt cao, rét run, sợ lạnh, thích uống nước ấm, nếu lấn sâu vào Irong gây chứng
trúng hàn (nôn mửa nước trong, đau quặn bụng, đi ngoài liên tục, chân íay giá
lạnh, mạch trầm, phục ).
Nội hàn nguyên nhân chính là do nội lạng Ihiếu dương khí (tâm, lỳ, thận
dương hư) gây chứng suy nhược, ăn uống kém, tiết lả, xương cốt đau lạnh.
* Thấp (ẩm thấp)
Là chủ khí mùa trưởng hạ tính ngưng trệ, trọc nhờn, thuộc âm, có
khuynh hướng hút vào trong, gắn vào nơi thấp chạy, gây cản trở cho việc vận
hành khí huy cl.
20
Ngoại thấp là khí hậu ẩm thấp của môi Irường, ngoại thấp khi xâm nhạp
« vào CƯ thể, nếu vào hạ liêu gay khớp chân đau nhức, sưng phù, tô bì, thấp ở
phần Ihưựng tiêu, đầu có cám giác nặng, chảy nước mắt, nước mũi, thấp ở
phần biểu có cảm giác lúc nóng, lúc lạnh.
Nội thấp ihường phát sinh do tỳ, vị hư nhược, do ăn nhiều thức ăn tanh
lạnh. Tỳ vị không vận hóa được nên ứ đọng thành thấp.
2.2.2. Nội nhân.
Đó là những nguyên nhân phát sinh bên trong cơ thể trong đó quan
trọng nhấl là ihất lình (bẩy trạng thái linh thần): Hỷ, nộ, bi, ưu, lư, kinh,
khủng. Nói chung thất tình xuất phát từ sự rối loạn về tinh Ihần của con người
trước tác động của íự nhiên, xã hội, và chính bản thân, dẫn đến sự mất cân
bằng Âm- Dương, gây ra sự lối loạn về sinh lý. Nội kinh viết: "Bỗng nhiên
giận quá hại âm, mữìig quá hại dươtiiị, giận thì khí bốc lên, mừng thì khí hoãn,
buồn thì khí tiêu, sợ thì khí hạ, kinh thì khí loan, nghĩỉhì khí kết." [ 20, 65]
* Hỷ (mùng rỡ)
Là biểu hiện của tâm lình khoan khoái, phấn chấn, thuộc dương. Bình
mấí cân bằng âm dương của tỳ, vị, ảnh hưởng đến công năng chuyển hóa.
+ Ản nhiều thức ăn cay nóng (ihuộc (iưưng) thì hại đến âm dịch, gây tỳ
vị lích nhiệl, láo bón.
+ Ăn nhiều thức ăn tanh lạnh (thuộc âm) làm hại dương khí, làm hại
đến chức năng vận hóa của tỳ.
* Lao động: Lao động quá độ thì hao tổn dương khí dẫn đến hao tổn
âm huyết, làm cho người mệt mỏi, dãn đến suy yếu cả chân âm, chân dương,
ngược lại người không vận động thì khí huyết không lưu thông mà ứ trệ.
* Phòng thất không tiết độ, hao tổn âm tinh của thận dẫn đến dưưng khí
lưu thoát lổn hại đến cả chân âm, chân dương. Người vừa ốm dậy, âm tinh và
dương khí không dồi dào mà phòng dục, dỗ dẫn đến âm dương ly thoát.
* Cha mẹ già, yếu Ihì con cái không hội đủ cái tiên thiên âm dương,
thủy hỏa, do vậy cơ thể yếu, dỗ bị ngoại là xâm nhập.
* Ký sinh Irùng sinh ra do tỳ vị thấp nhiệt, tích tụ ăn uống không sạch,
tồn tại trong cơ thổ làm ảnh hưởng đến chức năng vận hóa của tỳ vị, chúng
làm hao tổn âm huyết và dương khí làm hao mòn cơ thể.
* Phụ nữ hay bị mất âm huyết do kỳ kinh, nên chân âm, chân thủy kém,
sinh ra chứng âm hư hỏa vượng, hay có cơn bốc hỏa.
22