lý thuyết Linder và việc vận dụng trong thực tiễn vào mặt hàng sữa của Việt Nam. - Pdf 18

1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT LINDER 5
1.1. Tổng quan về lý thuyết Linder 5
1.2. Nội dung lí thuyết Linder 5
1.3. Mô hình Linder 7
Phần 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT
LINDER TRONG SẢN XUẤT SỮA Ở VIỆT NAM 11
2.1. Thực trạng ngành sữa của Việt Nam 11
2.1.1. Thực trạng sản xuất của ngành sữa Việt Nam 11
2.1.2. Thực trạng xuất nhập khẩu các sản phẩm ngành sữa Việt Nam12
2.2. Vận dụng lý thuyết Linder vào ngành sữa của Việt Nam – nghiên
cứu trường hợp hãng sữa Vinamilk 17
2.2.1. Vai trò của mặt hàng sữa 17
2.2.2. Các nhân tố tác động đến cầu mặt hàng sữa 17
2.2.3. Vận dụng lý thuyết Linder trong trường hợp hãng sữa Vinamilk
19
2.3. Một số giải pháp cho ngành sữa VN nói chung và công ty
Vinamilk 20
2.3.1. Giải pháp chung 20
2.3.2. Giải pháp cho Vinamilk 21
KẾT LUẬN 22
2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
3
LỜI MỞ ĐẦU

trạng sản xuất và xuất khẩu sữa, từ đó đưa ra định hướng đẩy mạnh và nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất sữa xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê toán dựa trên
nguồn dữ liệu thứ cấp.
5. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 2 phần chính:
Phần 1: Cơ sở lý luận: lý thuyết Linder
Phần 2: Thực trạng xuất khẩu và vận dụng lý thuyêt Linder vào
sản xuất sữa của Việt Nam

5
Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT LINDER
1.1. Tổng quan về lý thuyết Linder
Giả thuyết Linder là một trong các học thuyết thương mại quốc tế, mô hình
được phát triển bởi Linder Staffan Burenstam - là nhà kinh tế Thụy Điển vào năm
1961.Giải thuyết Linder là sự chuyển hướng mạnh dạn khỏi mô hình H-O vì nó gần
như là định hướng cầu.Giả thuyết Linder cho rằng chiều hướng ngoại thương xuất
phát từ cầu về sản phẩm, đặc biệt là thương mại giữa các nước có thu nhập cao và
các quốc gia có nhu cầu tương tự sẽ phát triển các ngành công nghiệp tương tự,
trong khi phương pháp H-O chủ yếu là định hướng cung vì nó tập trung vào tập hợp
và cường độ các yếu tố sản xuất. Giả thuyết Linder trình bày một lý thuyết nhu cầu
dựa trên thương mại trái ngược với việc cung cấp dựa trên lý thuyết thông thường
liên quan đến nguồn tài nguyên.
1.2. Nội dung lí thuyết Linder
Cầu đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định thương mại trong nước
cũng như giữa các quốc gia với nhau. Cầu trong nước quyết định các loại sản phẩm
khác nhau được sản xuất trong nước. Cầu có quan hệ với mức thu nhập và cơ cấu
cầu được quyết định bởi mức thu nhập bình quân đầu người, đồng thời được phản
ảnh bởi chất lượng sản phẩm khác nhau được yêu cầu bởi nền kinh tế. Vì vậy,

nước có cùng mức thu nhập vì thế các nước đang phát triển khó lòng xâm nhập vào
thị trường các nước đã phát triển mà chỉ có thể tìm kiếm thị trường các nước đang
phát triển khác.
Thương mại quốc tế chủ yếu được thực hiện giữa các nước có mức thu nhập
bình quân giống nhau và mang tính chất nội bộ ngành. Vì vậy, các nước công
nghiệp phát triển thường thương mại với nhau và nếu muốn thương mại với các
nước đang/kém phát triển thì phải tiến đến là đầu tư chuyển giao công nghệ. Đồng
thời các nước đang/kém phát triển muốn thương mại với nước công nghiệp phát
triển phải tiến hành tiếp nhận công nghệ sản xuất. Đầu tư chuyển giao công nghệ
mang lại lợi ích cho các nước tham gia. Để duy trì sức cạnh tranh, các nước phát
triển phải cạnh tranh không ngừng để đưa ra nhiều sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu,
thị hiếu của người tiêu dùng toàn cầu. Còn các nước đang phát triển thì cạnh tranh
trong việc thu hút chuyển giao công nghệ, làm chủ công nghệ, thu hút đầu tư.
Những nước thành công sẽ tiến đến cạnh tranh với các nước phát triển khác về sáng
chế, sáng tác, phát minh sản phẩm mới và sẽ tạo ra cạnh tranh tri thức. Một nước
đang phát triển muốn tiếp nhận công nghệ sản xuất từ nước phát minh phải đối mặt
với hai vấn đề nan giải là: sức cầu của thị trường nội địa về sản phẩm mới còn quá
nhỏ; thêm nữa, trình độ kỹ thuật, tay nghề công nhân và kinh nghiệm quản lý có
khoảng cách quá xa với nước phát minh nên việc chuyển giao phát sinh nhiều chi
7
phí và cần nhiều thời gian. Do đó, các nước này phải giải quyết được hai vấn đề trên
để hội nhập kinh tế quốc tế.
Giả thuyết Linder chỉ áp dụng đối với các sản phẩm chế biến. Còn thương
mại hàng nguyên vật liệu và hàng thô thì chủ yếu do mức độ trang bị các yếu tố sản
xuất quy định, theo như kết luận của lý thuyết H-O.
Giả thuyết Linder dùng giải thích chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm ở giai
đoạn 2: giai đoạn sản phẩm chín muồi. Chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm có 3 giai
đoạn: giai đoạn 1: Giai đoạn sản phẩm mới; giai đoạn 2: giai đoạn sản phẩm chín
muồi; giai đoạn 3: Giai đoạn sản phẩm tiêu chuẩn hóa. Giai đoạn chin muồi là giai
đoạn bắt đầu khi sản phẩm đạt cực đại trong nước và bắt đầu có nhu cầu lớn ở các

ngược. Akamatsu tưởng tượng
những đường cong đó giống như một
đàn sếu đang bay với con sếu đầu
đàn ở điểm đổi chiều của chữ V
ngược và các con sếu khác bay phía
sau ở hai phía.
Akamatsu không giải thích tại sao lại có hình này. Kojima dựa trên lý luận
Heckscher-Ohlin để giải thích rằng sau một thời gian phải phát triển bằng kinh
doanh nhập khẩu, ngành công nghiệp được mô tả đã tích lũy đủ vốn để tiến hành tự
sản xuất và dựa vào lý luận Ricardo để giải thích rằng sau khi học tập, đúc kết kinh
nghiệm qua quá trình tự sản xuất ngành đã phát triển đến mức xuất khẩu được.
Phiên bản một nước - nhiều sản phẩm
Akamatsu phát triển ý tưởng của mình cho trường hợp một nước nhiều sản
phẩm và phát biểu rằng những nước đang phát triển có thể phát triển những ngành
sơ khai trước rồi tới những ngành phức tạp, từ phát triển hàng tiêu dùng không lâu
bền trước rồi sang hàng tiêu dùng lâu bền và tiếp theo là tư liệu sản xuất.
Khái quát hóa, các nhà kinh tế ủng hộ mô hình của Akamatsu giải thích rằng
các nước đang phát triển sẽ phát triển những ngành hạ nguồn trước rồi mới tới
những ngành thượng nguồn, ví dụ phát triển ngành may rồi mới phát triển ngành
dệt, phát triển ngành đóng ô tô khách hay đóng tàu rồi mới phát triển ngành luyện
kim. Logic này được cho là hợp lý vì sự phát triển của các ngành hạ nguồn sẽ tạo ra
thị trường cho phát triển các ngành thượng nguồn. Và mỗi ngành có thể phát triển
theo hướng từ nhập khẩu tới tự sản xuất và tiến tới xuất khẩu. Cứ như vậy, khi sản
xuất trong nước của ngành này bắt đầu đi vào thoái trào thì đã có sản xuất trong
nước của ngành kia thay thế làm ngành sản xuất chủ đạo; khi xuất khẩu của ngành
9
này thoái trào thì đã có xuất khẩu của ngành kia thay thế làm mặt hàng xuất khẩu
chủ đạo.
Khi diễn tả bằng sơ đồ
giống như với phiên bản một nước

sản phẩm trung bình, còn các nước đi sau sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm đơn
giản hơn.
Phiên bản này cũng được gọi là
mô hình đàn sếu bay do nó được phát
triển từ hai phiên bản gốc ở trên và
theo hình dung của Akamatsu và
không ít nhà kinh tế khác thì Đông Á
là một đàn sếu với Nhật Bản là con sế
đầu đàn, các nước NICs ở hàng thứ
hai, các nước ASEAN phát triển hơn ở
hàng thứ ba, các nước khác như Trung
Quốc, Ấn Độ, Việt Nam ở hàng sau.
Cứ thế đàn sếu đi từ ngành này sang
ngành khác. Tuy nhiên phiên bản này
khó có thể diễn tả bằng sơ đồ sao cho
có hình đàn sếu bay.

11
Phần 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ VẬN DỤNG LÝ
THUYẾT LINDER TRONG SẢN XUẤT SỮA Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng ngành sữa của Việt Nam
2.1.1. Thực trạng sản xuất của ngành sữa Việt Nam
Việt Nam phát triển ngành sữa từ những năm 1970, nhưng tốc độ phát triển
chậm. Tới năm 1980, mức tiêu thụ chỉ đạt 0,3kg/người/năm, đối với thị trường thế
giới thì mức tiêu thụ này coi như bằng 0. Tuy nhiên, từ mức 0,5kg/người/năm vào
năm 1990 và tăng dần cho đến hiện nay, mức tiêu thụ sữa của người Việt ước đạt
7kg/người/năm, dù thấp hơn so với thế giới và khu vực nhưng lại có tốc độ tăng
trưởng nhanh chóng.
Năm
2006

Theo kế hoạch phát triển giai đoạn 2012 - 2016, tổng đàn bò của các trang
trại Vinamilk đến cuối năm 2012 đạt 9.500 con, và năm 2016 sẽ tăng lên 28.000
12
con. Theo đó, trong giai đoạn từ năm 2012 – 2016, Vinamilk tiếp tục làm việc với
các địa phương để đầu tư xây dựng tiếp 4 trang trại tại Thanh Hóa, Tây Ninh, Đắk
Nông, Hà Tĩnh, với tổng mức đầu tư trên 1.500 tỷ đồng.
2.1.2. Thực trạng xuất nhập khẩu các sản phẩm ngành sữa Việt Nam
Mặc dù có những biện pháp khuyến khích sản xuất và tiêu dùng, song Việt
Nam vẫn thuộc top 20 nước nhập khẩu sữa nhiều nhất thế giới. theo số liệu công bố
tại hội thảo quốc tế “Ứng dụng công nghệ cao và phát triên bền vững sữa tươi sạch
tại Việt Nam” do Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, hiệp hội
doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp (ATE) cùng Đại sứ quán
Iasael tổ chức thì ngành sữa Việt Nam luôn nhập siêu cả về khối lượng lẫn kim
ngạch. Trong 9 tháng đầu năm 2012, kim ngạch nhập khẩu sữa hơn 800tr USD, tăng
25%. Đến năm 2013, Việt Nam nhập siêu vượt ngưỡng 1 tỷ USD tiền sữa.

Việt Nam nhập khẩu sữa từ 13 thị trường trên thế giới, trong đó Niudilân là
thị trường chính cung cấp mặt hàng sữa và sản phẩm cho Việt Nam, chiếm 31% tỷ
trọng, với kim ngạch 130,0 triệu USD trong 6 tháng 2012, tăng 5,9% so với 6 tháng
2011. Tháng 7 tháng 2012, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ thị trường này
khoảng 135 triệu USD.

73.44
99.22
84.16
104.40
87.41
76.42
78.00
0.00

6%
5%
5%
2%
2%
1%
1%
0%
Niudilân
Hoa Kỳ
Hà Lan
Đức
Pháp
Thái Lan
Malaisia
Đan Mạch
Ba Lan
Oxtrâylia
Hàn Quốc
Tây ban Nha
Philippin
14
STT
Nước
Giá trị USD
Thị phần (%)
1
Niu Zi Lân
222.428.572
26,5

38.341.859
4,6
10
Úc
25.044.573
3,0
11
Ba Lan
22.107.316
2,6
12
Ailen
21.139.835
2,5
13
Hàn Quốc
11.327.623
1,3
14
Tây Ban Nha
5.481.502
0,7
15
Philipine
3.474.787
0,4
16
Bỉ
3.304.285
0,4

Tính đến hết năm 2013, Việt Nam xuất khẩu khoảng 230 triệu USD sản
phẩm sữa, tăng khoảng 28% so với năm 2012. Từ chỗ phải nhập khẩu sữa hoàn
toàn, đến nay Việt Nam đã có hai công ty có sản phẩm sữa xuất khẩu là Công ty cổ
phần sữa Việt Nam (Vinamilk) và FrieslandCampina Việt Nam (thương hiệu Cô gái
Hà Lan) với sản phẩm xuất khẩu sang hơn 28 thị trường.
+ Công ty sữa Vinamilk: năm 2008, công ty đạt doanh thu xuất khẩu hơn
1.215 tỉ đồng, đến năm 2012 Vinamilk đã đạt doanh thu xuất khẩu hơn 3.712 tỉ
đồng. 9 tháng đầu năm 2013, Vinamilk đã đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 3.354 tỉ
đồng trong tổng doanh thu 23.369 tỉ đồng. Hết năm 2013, Vinamilk đã hoàn thành
hợp đồng xuất khẩu cho cả năm 2013 với tổng trị giá trị 230 triệu USD (tương
đương khoảng 4.700 tỉ đồng).
Các mặt hàng Vinamilk xuất khẩu hiện nay là: sữa bột trẻ em Dielac, bột
dinh dưỡng, sữa đặc, sữa tươi, sữa đậu nành, sữa chua…
Theo lũy kế doanh thu xuất khẩu trong vòng 5 năm liên tục, từ năm 2008 đến
2012, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Vinamilk đạt 62%. Nếu như năm 2008,
Vinamilk đạt doanh thu xuất khẩu hơn 1.215 tỷ đồng, thì đến năm 2012 Vinamilk
đã đạt doanh thu xuất khẩu hơn 3.712 tỷ đồng. Sản phẩm sữa của Vinamilk nhờ
tuân thủ tuyệt đối các tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn Codex (là tiêu chuẩn quốc tế
trong thương mại thực phẩm) nên đã được xuất khẩu đến 26 quốc gia trên thế giới,
trong đó có Mỹ, Úc, Canada, Nga, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ,
Iraq, Sri Lanka, Philippin, Hàn Quốc, các nước khu vực Trung Đông… Đây là
những thị trường xuất khẩu chính, ổn định mà Vinamilk đã vượt qua được hàng rào
16
kiểm soát an toàn thực phẩm rất gắt gao của các nhà nhập khẩu và chinh phục được
thị trường thế giới trong những năm qua bằng chính những sản phẩm chất lượng
quốc tế.
Hiện Vinamilk là đơn vị tiên phong trong việc đầu tư vào trang trại chăn
nuôi bò sữa tại Việt Nam. Từ đầu năm 2007, Vinamilk đã đầu tư hơn 500 tỷ đồng
cho 5 trang trại bò sữa tại Tuyên Quang, Lâm Đồng, Bình Định, Nghệ An, Thanh
Hóa, nhập khẩu giống bò cao sản thuần chủng HF từ Úc. Sắp tới, Vinamilk sẽ đầu

2.2. Vận dụng lý thuyết Linder vào ngành sữa của Việt Nam – nghiên cứu
trường hợp hãng sữa Vinamilk
2.2.1. Vai trò của mặt hàng sữa
Đối với đời sống, sữa là một nguồn dinh dưỡng bổ sung không thể thiếu cho
sức khỏe của con người. Nó giúp cho cơ thể khỏe mạnh, tăng chỉ số thông minh
trong quá trình hình thành và phát triển trí não, tăng tuổi thọ của con người…và vì
thế, sữa góp phần đẩy mạnh sự phát triển bền vững của xã hội. Khi xã hội đã phát
triển, đời sống người dân được cải thiện, ngành sữa đã được nhìn nhận với vai trò
ngày càng quan trọng trong việc góp phần nâng cao thể lực và tuổi thọ người dân.
Trong vòng 20 năm kể từ năm 1990 đến năm 2010, tiêu thụ sản phẩm sữa tại Việt
Nam đã tăng 30 lần: từ 0,47kg/người/năm lên 14,819kg/người/năm. Ngoài ra, với
mức tăng dân số hàng năm khoảng 1,2%, tỷ lệ tăng trưởng GDP từ 6-8%/năm, thu
nhập bình quân đầu người ngày một tăng thì tiềm năng phát triển của thị trường sữa
tại Việt Nam còn rất lớn.
Về mặt kinh tế, Công nghiệp chế biến sữa là một trong những ngành công
nghiệp chế biến có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế Việt Nam. Phát
triển công nghiệp chế biến sữa sẽ góp phần thúc đẩy phát triển một số ngành nghề
khác của Việt Nam phát triển như ngành chăn nuôi, mía đường…thông qua các mối
liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp sữa phát triển sẽ
góp phần tăng việc làm cho hàng vạn hộ gia đình, cải thiện đời sống của những hộ
gia đình chăn nuôi bò sữa… Việt Nam đã và đang dần phát triển ngành sữa để phục
vụ cho xuất khẩu, góp phần tăng tỷ trọng xuất khẩu và thúc đẩy quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế sâu rộng.

2.2.2. Các nhân tố tác động đến cầu mặt hàng sữa
Có nhiều nhân tố tác động đến cầu của một sản phẩm.Tuy nhiên, tựu chung
lại có thể kể đến các yếu tố sau:
18
Giá cả: do hơn 70% nguyên liệu đầu vào là nhập khẩu từ nước ngoài nên
nhìn chung mức giá sữa của Việt Nam luôn cao hơn so với mức giá thế giới. một

2.2.3. Vận dụng lý thuyết Linder trong trường hợp hãng sữa Vinamilk
Vinamilk là thương hiệu sữa số 1 tại Việt Nam. Cứ 100 gia đình thì có 94 gia
đình sử dụng ít nhất một sản phẩm mang thương hiệu Vinamilk (theo khảo sát của
Kantar panel ngày 10/5/2013). Thị phần của Vinamilk trên thị trường hiện nay là
75% trong phân khúc sữa đặc, 50% trong phân khúc sữa nước, 30% trong phân
khúc sữa bột là 90% trong phân khúc sữa chua.
Bên cạnh đó, Vinamilk hiện đang vươn ra một số thị trường trên thế giới.
Hiện nay, sản phẩm của Vinamilk đã có mặt tại 26 quốc gia trên thế giới. Doanh số
xuất khẩu năm 2013 tăng 27% và dự kiến trong những năm tiếp theo tăng 10-
15%/năm. Ước tính năm 2013, Vinamilk đạt kim ngạch xuất khẩu với tổng trị giá
230 triệu USD, tăng trưởng 28% so với năm 2012. Trong vòng 3 năm liên tiếp từ
2010 tới nay, Vinamilk đã tăng trưởng bình quân xuất khẩu khoảng 45%.
Năm 2010, Vinamilk đã được công nhận là 1 trong số 200 doanh nghiệp xuất
sắc nhất châu Á do tạp chí Forbes Asia bình chọn. Lý thuyết Linder phát biểu rằng
thương mại phát triển giữa những nước có mức thu nhập đầu người xấp xỉ nhau.
Hiện nay, Vinamilk đã xuất khẩu sản phẩm ra một số thị trường như: Mỹ,
Úc, Canada, Nga, Nhật, Thái Lan, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Srilanka, Philipin,
Hàn Quốc, các nước khu vực Trung Đông…. Năm 2012, Vinamilk cũng bắt đầu
xuất khẩu sữa sang thị trường Thái Lan, một thị trường mà trước kia chính là nguồn
nhập khẩu lớn của Việt Nam trong nhiều năm qua.
Vinamilk chú trọng đầu tư các dây chuyền thiết bị và công nghệ sản xuất
hiện đại, tiên tiến ở mức độ toàn cầu (từ các nước G7 có công nghệ và thiết bị
ngành sữa phát triển như Thụy Điển, Mỹ, Đan Mạch, Hà Lan…) với tiêu chí tạo ra
sản phẩm chất lượng cao, an toàn cho người sử dụng. ngoài ra, Vinamilk còn chủ
20
động nguồn nguyên liệu ổn định. Vinamilk là đơn vị tiên phong trong việc đầu tư
trang trại chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam.
Theo mô hình Linder, sự phát triển của ngành sữa Việt Nam nói chung và
của trường hợp của Vinamilk nói riêng là dựa trên co sở bắt đầu từ phát triển ngành
sơ khai mà phải tích lũy tư bản bằng kinh doanh nhập khẩu rồi tiến tới tự sản xuất

các quốc gia có trình độ. Ngoài ra, cần phải tích cực đầu tư cho nguồn nguyên liệu
đầu vào bằng cách xây dựng và phát triển các khu trang trại chăn nuôi bò giống như
Vinamilk và TH True Milk đang thực hiện.
Đầu tư vào R&D cũng là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng sản
phẩm, đa dạng hóa các mặt hàng tung ra thị trường. Ngoài ra, ngành sữa cũng cần
tiến tới sản xuất theo tiêu chuẩn ISO của thế giới. Một mặt giúp nâng cao chất
lượng sản phẩm. Mặt khác, giúp cho sản phẩm Việt Nam có cơ hội được xuất hiện
nhiều hơn trên thị trường thế giới.
Các biện pháp quảng cáo, PR cũng là một hình thức tốt song giải pháp quan
trọng nhất là tập trung vào nâng cao chất lượng.
Với tâm lý sính hàng ngoại của người Việt Nam, chính phủ cần có các chính
sách khuyến khích người Việt dùng hàng Việt. Phối hợp với chính sách của chính
phủ, các hãng sản xuất cần nỗ lực nâng cao thương hiệu, hình ảnh để chiếm được
cảm tình của người tiêu dùng.
2.3.2. Giải pháp cho Vinamilk
Vinamilk vốn đã là một ông lớn trong làng sản xuất sữa của Việt Nam. Là
một trong những người đi tiên phong trong xuất khẩu sữa ra thế giới, Vinamilk đã
có những bước tiến đáng kể và tạo dựng được hình ảnh tốt trong mắt người tiêu
dùng.
Trong tương lai, Vinamilk cần tiếp tục đi theo hướng đi đúng đắn, chú trọng
vào đầu tư nguyên liệu đầu vào, không ngừng cải tiến công nghệ để nâng cao chất
lượng sản phẩm.
Ngoài ra, Vinamilk cần tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu ra các nước
lân cận trong khu vực và ra các nước có trình độ phát triển, mức thu nhập tương
đương so với Việt Nam.
Chắc chắn, với những nỗ lực như vậy, ngành sữa của Việt Nam nói chung và
của Vinamilk nói riêng sẽ đạt được nhiều thành tựu hơn hiện tại.
22
KẾT LUẬN
Ngành sản xuất sữa là một trong những ngành sản xuất quan trọng của Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status