Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
Trong xây dựng cơ bản, như khi xây một toà nhà cao tầng hiện đại thì việc xử
lý móng là hết sức quan trọng, mà nền móng ngôi nhà lại là phần nằm sâu trong lòng
đất, nên người ta thường chỉ nhìn thấy những tầng cao ở trên; chỉ có những người xây
dựng, những người có chuyên môn mới thấy rõ tầm quan trọng, giá trị đích thực của
nó. Bậc Tiểu học cũng được coi như cái nền móng của ngôi nhà tri thức kia. Chính vì
vậy, điều 2 của lụât phổ cập giáo dục tiểu học đã xác định bậc tiểu học là bậc học đầu
tiên bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Bậc tiểu học đã tạo những cơ
sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho các em tiếp tục học các bậc học trên. Nội dung
giảng day của tiểu học luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống,
không chỉ có thế mà mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và
phát triển nhân cách học sinh. Trong các môn học, môn toán là một trong những môn
có vị trí rất quan trọng. Các kiến thức, kỹ năng của môn toán có nhiều ứng dụng
trong đời sống, giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng không
gian của thế giới hiện thực. Một trong những nội dung toán đáp ứng được mục đích
trên đó là đơn vị đo lường. Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật
và công nghệ thông tin đã làm cho khả năng nhận thức của trẻ cũng vượt trội. Điều
đó đã đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều chỉnh nội dung,
phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối tượng học sinh nhằm
không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước.
Toán chuyển động đều chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình Toán 5 và
cũng là loại toán không thể thiếu trong chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5.
Bài toán chuyển động đều là bài toán có chứa 3 đại lượng quãng đường(s), vận tốc(v)
và thời gian(t) liên hệ với nhau bởi các mối quan hệ.
S= v x t (hoặc v = s/t hoặc t = s/v)
Nhờ có các tình huống chuyển động hết sức đa dạng trong đời sống mà các mối
quan hệ đơn giản trên lúc ẩn, lúc hiện; biến hóa khôn lường trong rất nhiều các đề
đó môn Toán giữ vai trò quan trọng, thời gian dành cho việc học Toán chiếm tỉ lệ khá
cao. Thực tế những năm gần đây, việc dạy học Toán trong các nhà trường tiểu học đã
có những bước cải tiến về phương pháp, nội dung và hình thức dạy học.
Môn Toán là môn học có vai trò hết sức quan trọng trong việc rèn phương
pháp suy luận, phát triển năng lực tư duy, rèn trí thông minh, óc sáng tạo của học sinh
tiểu học, là môn học có rất nhiều học sinh thích học.
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy học sinh tiểu học, bản thân tôi cũng
đã suy nghĩ tìm tòi cho mình những vấn đề khó trong giảng dạy. Thực tế cho thấy khi
giảng dạy có rất nhiều học sinh nắm lí thuyết một cách máy móc nhưng khi vận dụng
vào thực hành thì gặp nhiều lúng túng khó khăn.
Trong chương trình toán lớp 5, một trong những nội dung mới mà các em được
học đó là toán chuyển động đều. Đây là loại toán khó, nhờ có các tình huống chuyển
động hết sức đa dạng trong đời sống nên nội dung của nó rất phong phú. Đồng thời
các bài toán chuyển động đều có rất nhiều kiến thức được áp dụng trong cuộc sống,
chúng cung cấp lượng vốn sống hết sức cần thiết cho học sinh. Khi học dạng toán này
các em còn được củng cố nhiều kiến thức kỹ năng khác như: Các đại lượng có quan
hệ tỉ lệ; kỹ năng tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng ; kỹ năng tính toán ;…
Vậy dạy và học như thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức, vận dụng kiến
thức đã học để làm toán từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp một cách linh hoạt,
chủ động, bồi dưỡng vốn hiểu biết, vốn thực tế. Và một điều quan trọng nữa là tạo
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
2
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
cho học sinh lòng đam mê học toán. Từ ý nghĩa và thực tiễn của vấn đề trên, tôi đã
tập trung nghiên cứu nội dung : “Dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động
đều”.
%"&" ' #(")
* +#'#,-&.,&#/0-1 203#
* +#'#,
JK54L5MN
." O3P&:' #(")
B
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
4
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
JK54I5QR5ST
!"U2'3P&:' #(")
* Trong chương trình Tiểu học, toán chuyển động đều được học ở lớp 5 là loại
toán mới, lần đầu tiên học sinh được học. Nhưng thời lượng chương trình dành cho
loại toán này nói chung là ít : 3 tiết bài mới, 3 tiết luyện tập sau mỗi bài mới, 3 tiết
luyện tập chung. Sau đó phần ôn tập cuối năm một số tiết có bài toán nội dung
chuyển động đều đan xen với các nội dung ôn tập khác.
Với loại toán khó, đa dạng, phức tạp như loại toán chuyển động đều mà thời
lượng dành cho ít như vậy, nên học sinh không được củng cố và rèn luyện kĩ năng
nhiều chắc chắn không tránh khỏi những vướng mắc, sai lầm khi làm bài.
* Qua 2 năm thực dạy lớp 5. Qua dự giờ, tham khảo ý kiến đồng nghiệp, xem
bài làm của học sinh phần toán chuyển động đều, bản thân thấy trong dạy và học toán
chuyển động đều giáo viên và học sinh có những tồn tại vướng mắc như sau:
- Do thời gian phân bố cho loại toán chuyển động đều ít nên học sinh không
được củng cố rèn luyện kĩ năng giải loại toán này một cách hệ thống, sâu sắc, việc
mở rộng hiểu biết và phát triển khả năng tư duy, trí thông minh, óc sáng tạo cho học
sinh còn hạn chế.
- Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhận dạng bài,
và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có. Dẫn đến học sinh lúng
túng, chán nản khi gặp loại toán này.
- Đa số giáo viên chưa nghiên cứu để khai thác hết kiến thức, dạy máy móc,
chưa chú trọng làm rõ bản chất toán học, nên học sinh chỉ nhớ công thức và vận dụng
công thức làm bài, chứ chưa có sự sáng tạo trong từng bài toán tình huống chuyển
toán “V>" , &#;_G=0U`#06#&#aabnên đã vận dụng công thức tính ngay
vận tốc ô tô là :
25 :
2
1
= 50 (km/giờ).
V<# : Học sinh sai vì một số em khi tìm ra thời gian đi là :
11 giờ – 8 giờ 20 phút = 2 giờ 40 phút
Vì vận tốc cho được tính bằng đơn vị km/giờ, thì thời gian tương ứng phải là
giờ . Nhưng do không chú ý đến điều này đã đổi :
Đổi : 2 giờ 40 phút = 160 phút
Rồi vận dụng công thức tính quãng đường là: 42 x 160 = 6720 (km)
JK54IcdVef5gchG5id
fVfZjI5
*>";#k1 >1 !" #k4
Trước thực trạng như vậy, đầu năm học 2010 – 2011, được sự đồng ý của
chuyên môn, tôi đã áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học phần toán
chuyển động đều ở lớp 5B. Nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, góp phần tăng tỉ lệ học
sinh khá giỏi và nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh khá giỏi. Đối với loại toán
chuyển động đều tôi đã thực hiện như sau:
1 - Dạy giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản, làm rõ bản chất mối quan hệ
giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian.
2 - Phân dạng bài tập, giúp học sinh nhận dạng các bài tập và phương pháp
giải các bài tập của từng dạng.
3 - Hướng dẫn học sinh nắm chắc các bước giải toán.
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
6
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
4 - Giáo viên tự học tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức, tìm tòi phương pháp
Chẳng hạn:
s → km s → m
t → giờ v → km/giờ t → phút v → m/phút
- Đơn vị thời gian phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và vận tốc.
Chẳng hạn: s →km
v →km/giờ t → giờ
- Đơn vị quãng đường phụ thuộc vào đơn vị vận tốc và thời gian.
Chẳng hạn: v→ km/giờ v → m/giờ
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
7
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
t → giờ s → km t → giờ s → m
a' )"4Qr
t
s
- v: Vận tốc.
- s: Quãng đường.
- t: Thời gian.
* Muốn tính quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian.
S = v x t
- s: Quãng đường.
- v: Vận tốc.
- t: Thời gian.
* Muốn tính thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc.
t =
v
s
- t: Thời gian.
- s: Quãng đường.
a) Người đó đi từ A đến B (không kể thời gian nghỉ) mất bao lâu?
b) Người đó đi với vận tốc là bao nhiêu?
u@2#4>";<#@>&8,3:t2'@>&#/ Y
Để có thể đưa một số bài toán chuyển động đều về các dạng toán điển hình thì
trong quá trình dạy hình thành công thức tính vận tốc, quãng đường, thời gian tôi
hướng dẫn để học sinh nhận ra mối quan hệ tỉ lệ giữa 3 đại lượng đó như sau :
+ Quãng đường đi được (trong cùng thời gian) tỉ lệ thuận với vận tốc.
+Vận tốc và thời gian (đi cùng một quãng đường) tỉ lệ nghịch với nhau.
+ Khi đi cùng vận tốc, quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian.
Các bài toán chuyển động, nhiều bài khi mới đọc đề tưởng như rất khó, rất
phức tạp nhưng biết chuyển về dạng toán điển hình thì việc giải bài toán trở nên dễ
dàng hơn rất nhiều.
Một số bài toán chuyển động đều có thể đưa về các dạng toán hìmh nhờ vào
mối quan hệ tỉ lệ giữa các đại lượng như :
+ Tìm 2 số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của chúng.
+ Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của chúng.
Ví dụ1: Một ô tô đi từ A đến B mất 4 giờ. Nếu mỗi giờ ô tô đi thêm 14 km
nữa thì đi từ A đến B chỉ mất 3 giờ. Tính khoảng cách giữa A và B .
Với bài toán này tôi đã hướng dẫn học sinh nhận dạng và đưa về dạng toán
điển hình như sau:
- Xác định các đại lượng đã cho :
+ Thời gian thực tế đi từ A đến B : 4 giờ
+ Thời gian giả định đi từ A đến B : 3 giờ
+ Vận tốc chênh lệch : 14 km/giờ
- Thiết lập mối quan hệ giữa các đại lượng đã cho :
+ Tỉ số thời gian thực tế so với thời gian giả định là:
3
4
+ Từ tỉ số giữa thời gian thực tế và thời gian giả định, dựa vào mối quan
hệ tỉ lệ giữa vận tốc và thời gian là 2 đại lượng tỉ lệ nghịch với nhau khi đi trên cùng
nước là 60 m/phút.
- Trước khi hướng dẫn học sinh nhận dạng và tìm phương pháp giải bài toán,
Qua bài tập số 4 – SGK trang 162 tôi hướng dẫn để học sinh hiểu rằng : Nếu dòng
nước chảy thì bản thân dòng nước cũng là một chuyển động. Cho nên khi vật chuyển
động trên dòng nước thì dòng nước có ảnh hưởng đến chuyển động của vật cụ thể :
+ Vận tốc xuôi dòng = Vận tốc thực + Vận tốc dòng nước
+ Vận tốc ngược dòng = Vận tốc thực – Vận tốc dòng nước
Từ hai công thức trên suy ra :
+ Vận tốc xuôi dòng – Vận tốc ngược dòng = Vận tốc dòng nước x 2
* Ở bài toán này tôi cũng giúp học sinh nhận dạng và tìm phương pháp giải
tương tự ví dụ 1. Từ vận tốc dòng nước là 60 m/phút ta tìm được mức chênh lệch
(hay hiệu) giữa vận tốc xuôi dòng và vận tốc ngược dòng. Từ tỉ số giữa thời gian xuôi
dòng và thời gian ngược dòng ta suy ra được tỉ số giữa vận tốc ngược dòng. Bài toán
chuyển về dạng điển hình “Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó”. Tìm vận tốc
xuôi dòng hoặc ngược dòng ta tìm được chiều dài khúc sông.(lưu ý: đơn vị thời gian
và đơn vị vận tốc ở bài này chưa tương ứng với nhau)
*Dạng 2 : Chuyển động thẳng đều có hai động tử.
Sau khi học sinh được làm quen với 3 đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời
gian. Học sinh biết cách tính một trong 3 đại lượng khi biết 2 đại lượng còn lại. Sách
giáo khoa có giới thiệu bài toán về 2 động tử chuyển động ngược chiều gặp nhau,
cùng chiều đuổi nhau ở 2 tiết luyện tập chung (Bài 1 – trang 144; Bài 1 – trang 145).
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
10
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
Khi hướng dẫn học sinh giải 2 bài toán này tôi đã giúp học sinh giúp học sinh rút ra
các nhận xét quan trọng như sau :
- Hai động tử chuyển động ngược chiều với vận tốc v
1
và v
1
- v
2
) ( t
gn
: Thời gian để 2 động tử gặp nhau)
A B
v
1
→ S v
2
→
+ Loại 1: ,#&_'O" C/&_'U("w'0_ps'&8+'-= # < "w'
0_l"
Ví dụ 1: Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc 60 km/giờ . Cùng lúc đó một xe
máy đi từ B về A với vận tốc 40 km/giờ. Biết A cách B là 300 km. Hỏi sau bao lâu
hai xe gặp nhau ?
Ví dụ 2: Một người đi xe máy từ A đến C với vận tốc 36 km/giờ, cùng lúc đó
một người đi xe đạp từ B cách A 48 km để về C. Hỏi sau bao lâu người đi xe máy
đuổi kịp người đi xe đạp ?
* Đối với các bài toán loại toán này cần hướng dẫn học sinh nhận dạng được
bài toán rồi vận dụng công thức suy luận được rút ra ở trên để giải.
Tôi đã hướng dẫn học sinh nhận dạng bằng cách:
- Xác định xem bài toán có mấy chuyển động.
- Biểu diễn các chuyển động trên sơ đồ đoạn thẳng.
- Xét xem các động tử đó chuyển động cùng chiều hay ngược chiều.
- Vận dụng công thức để tính.
+ Loại 2 : ,#&_'O" C/&_'U("w'0_ps'&8+'-= # <
= a'"w'0_l"
Ví dụ : Lúc 7 giờ sáng, một ô tô khởi hành từ A đến B với vận tốc 65 km/giờ.
thức đã được trang bị thông qua bài giảng của thầy cô để phát hiện cách giải các bài
toán nâng cao, phức tạp dần, Tìm tòi nhiều cách giải khác nhau. Từ đó các em hiểu
sâu hơn kiến thức biết vận dụng kiến thức đó để giải các bài toán khác và vận dụng
kiến thức vào cuộc sống.
Chẳng hạn, nhận dạng và nắm chắc phương pháp giải toán chuyển động đều
học sinh sẽ dễ dàng giải được các bài toán tương tự toán chuyển động đều như : Vòi
nước chảy vào bể, Làm chung một loại công việc,…
Hay nắm chắc cách giải bài toán chuyển động cùng chiều đuổi nhau các em sẽ
dễ dàng giải được các bài toán chuyển động của kim đồng hồ mà đề thi học sinh giỏi
thường đề cập.
*Ví dụ : Một ô tô khởi hành từ A lúc 7 giờ 30 phút với vận tốc 45 km/giờ, đến
B ô tô nghỉ 1 giờ 46 phút. Sau đó ô tô trở về A lúc 12 giờ 40 phút với vận tốc 40
km/giờ. Tính quãng đường AB.
Bài toán này tương đối khó, phức tạp với học sinh tiểu học. Bài toán có nhiều
cách giải khác nhau. Với bài toán này khi dạy cho học sinh khá, giỏi tôi đã hướng dẫn
học sinh tìm tòi cách giải như sau như sau :
Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài, xác định rõ những cái đã cho và những điều
mà bài toán yêu cầu. Tóm tắt bài toán trên sơ đồ.
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
12
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
+ Để tìm được độ dài quãng đường AB ta cần phải biết gì ? (vận tốc của ô tô
và thời gian ô tô đi hết quãng đường đó)
+ Vận tốc biết chưa ? (vận tốc đã biết : vận tốc khi đi là 45 km/giờ, vận tốc về
là 40 km/giờ)
+ Ta chỉ cần tìm gì ? (Tìm thời gian đi hoặc về)
+ Yêu cầu học sinh thảo luận tìm thời gian đi hoặc về.
(Tìm tổng thời gian đi và về ; có thể tìm được tỉ số thời gian đi và về dựa trên
mối quan hệ giữa thời gian và vận tốc. Từ đó đưa về dạng toán tìm hai số khi biết
Cứ mỗi km của quãng đường AB (cả đi lẫn về) ô tô đi hết thời gian là :
45
1
+
40
1
=
360
17
(giờ)
Tìm thương hai tổng đó chính là độ dài quãng đường AB.
- Quãng đường AB là :
3,4 :
360
17
= 72 (km)
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
13
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
* Hoặc tính vận tốc trung bình cả đi lẫn về và thời gian trung bình cho một
lượt đi hoặc về . Từ đó tính được quãng đường AB.
Tính được tổng thời gian cả đi và về. Tính được mỗi km của quãng đường AB
cả đi lẫn về ô tô đi hết thời gian là bao nhiêu. Tìm vận tốc trung bình cả đi và về của
ô tô. Tìm thời gian trung bình của một lượt đi hoặc về. Tìm quãng đường AB.
- Vận tốc trung bình cả đi lẫn về của ô tô là :
2 : (
45
1
+
những gì không thuộc về bản chất của đề toán để hướng học sinh vào chỗ cần thiết.
- Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề bằng sơ đồ, hình vẽ, kí hiệu, ngôn ngữ ngắn
gọn. Sau đó yêu cầu học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại nội dung đề toán.
uV86" : Xây dựng chương trình giải.
Từ tóm tắt đề, thông qua đó giúp học sinh thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho
và cái phải tìm. ở đây cần suy nghĩ xem : Muốn trả lời câu hỏi của bài toán thì cần
biết những gì? Cần phải làm những phép tính gì? Trong những điều ấy cái gì đã biết,
cái gì chưa biết? Muốn tìm cái chưa biết ấy thì lại phải biết cái gì?…Cứ như thế ta đi
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
14
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
dần đến những điều đã cho trong đề toán. Từ những suy nghĩ trên học sinh sẽ tìm ra
con đường tính toán hoặc suy luận đi từ những điều đã cho đến đáp số của bài toán.
Đây là một bước rất quan trọng và vai trò của người giáo viên là đặc biệt quan
trọng. Để phát huy được tính tích cực, khả năng sáng tạo của học sinh tôi đã tổ chức,
hướng dẫn, gợi cho học sinh những nút thắt quan trọng để học sinh thảo luận, tìm
cách giải quyết tháo những nút thắt đó.
uV86"* : Thực hiện giải bài toán
Dựa vào kết quả phân tích bài toán ở bước hai, xuất phát từ những điều đã cho
trong đề toán học sinh lần lượt thực hiện giải bài toán.
Lưu ý học sinh trình bày bài giải khoa học, lập luận chặt chẽ, đủ ý,…
uV86"A : Kiểm tra kết quả.
Học sinh thực hiện thử lại từng phép tính cũng như đáp số xem có phù hợp với
đề toán không. Cũng cần soát lại câu lời giải cho các phép tính, các câu lập luận đã
chặt chẽ đủ ý chưa.
** Ngoài 4 bước giải trên trong dạy học nhất là dạy đối tượng học sinh khá, giỏi cần
giúp học sinh khai thác bài toán như:
- Có thể giải bài toán bằng cách khác không?
- Từ bài toán có thể rút ra nhận xét gì? Kinh nghiệm gì?
xV86"* : UY ;<C;<#'#?#
Học sinh trình bày bài giải.
Bài giải
Khi ô tô khách xuất phát thì ô tô tải đã đi được thời gian là:
8 giờ 30 phút – 7 giờ = 1 giờ 30 phút
Đổi : 1 giờ 30 phút = 1,5 giờ
Khi ô tô khách xuất phát thì ô tô tải đã đi được quãng đường là:
65 x 1,5 = 97,5 (km)
Quãng đường còn lại 2 xe phải đi là :
657,5 – 97,5 = 560 (km)
Sau 1 giờ cả 2 xe đi được :
65 + 75 = 140 (km)
Thời gian để 2 ô tô gặp nhau là :
560 : 140 = 4 (giờ)
Đáp số : 4 giờ
xV86"A : X#/0U,&> '#>=Dp{,
Học sinh tự kiểm tra kết quả hoặc đổi vở để kiểm tra kết quả của nhau.
Học sinh thử lại kết quả dựa vào các dữ liệu đã cho của bài toán.
Chẳng hạn :
Quãng đường ô tô tải đi là : AC = 65 x (4 + 1,5) = 357,5 (km)
Quãng đường ô tô khách đi là : BC = 75 x 4 = 300 (km)
Quãng đường AB là : 357,5 + 300 = 657,5 (km)
(Đúng theo đề bài)
xx86'ty m"# = ,# >";<#@>
Ví dụ : + Thêm dữ kiện cho bài toán : Ô tô tải đi được 2 giờ thì dừng lại nghỉ
15 phút rồi mới đi tiếp. Nếu thêm dữ kiện này cho bài toán thì ta giải bài toán như thế
nào ?
+ Thay đổi yêu cầu của bài toán : Hỏi hai ô tô gặp nhau lúc mấy giờ ?
xV#k1 >1A4|}=~•'&F#&3.&@" @ m"#
Tôi nhận thấy một sai lầm mà nhiều học sinh mắc phải khi giải toán
4
3
giờ = … phút.
- Tìm tỉ số giữa 2 đơn vị.
Ở ví dụ này = 60
- Ta nhân số phải đổi với tỉ số của 2 đơn vị.
Ở ví dụ trên ta thực hiện như sau:
4
3
x 60 = 45.
Vậy
4
3
giờ = 45 phút.
Hoặc đổi 2 ngày = ……. giờ.
Tỉ số của 2 đơn vị là : = 24.
Ta thực hiện: 2 x 24 = 48.
Vậy 2 ngày = 48 giờ.
x>" &F#€=0•'#+,'=0•1 l,'0•1 l
Q4 120 km/ giờ = … km/ phút = ……m/ phút.
,<0 ‚@;86" 8,4
V86"4 !" #k&F#€=0•'#+,'=0•1 l
- Thực hiện đổi 120 km/giờ = …….km/phút.
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
17
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
- Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60.
120 : 60 = 2
* Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút.
chắc chắn dạy học không thể có chất lượng. Để làm được điều này tôi đã dành thời
gian đọc kĩ sách giáo khoa. Tìm hiểu kĩ chương trình sách giáo khoa của toàn cấp
học.
- Nghiên cứu, xác định đúng trọng tâm của từng bài học. Tìm hiểu rõ nội dung
kiến thức này học sinh đã được tiếp cận chưa, nếu đã được tiếp cận thì ở mức độ nào.
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
18
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
Dự kiến điều gì là vấn đề khó đối với học sinh để tìm ra cách truyền đạt tốt nhất, dễ
hiểu nhất với học sinh.
- Đọc các chuyên đề, tài liệu tham khảo về dạng toán đó để mở rộng kiến thức.
- Thông qua dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp, nêu vấn đề còn phân vân
trước các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ để làm sáng tỏ những băn khoăn, vướng mắc
về nội dung kiến thức khó, về phương pháp truyền đạt.
- Trong khi nghiên cứu mở rộng kiến thức, tìm phương pháp giải cho các dạng
toán, cần tìm tòi nhiều hướng giải khác nhau, để cuối cùng rút ra hướng giải ngắn
gọn, dể hiểu, phù hợp nhất với học sinh.
*XDp?' #(")
Từ việc nghiên cứu, vận dụng biện pháp dạy toán chuyển động đều cho học
sinh lớp 5B – Trường Tiểu học Thị Trấn Tiên Yên, năm học 2010 – 2011. Với đề
khảo sát cùng kì năm ngoái như nêu ở phần thực trạng cho kết quả như sau :
X„Mi
(Trên tổng số 22 học sinh)
•0 m"
F'7
m"#
#/0
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
chính xác. Và một điều quan trọng là phải biết khơi gợi sự tò mò, hứng thú học tập,
không nản chí trước những khó khăn trước mắt.
4X„†‡X„5ˆ
XD
Nội dung môn Toán ở Tiểu học kiến thức tuy đơn giản nhưng vô cùng phong
phú. Mỗi một vấn đề, một mạch kiến thức có nét hay riêng nếu đi sâu nghiên cứu
chúng ta sẽ thấy thật hấp dẫn.
Tôi thiết nghĩ để quá trình dạy Toán đạt nhiều thành công giáo viên phải tận tuỵ với
nghề, đi sâu nghiên cứu tìm tòi cách thức phương pháp hợp nhất với nội dung từng
bài, phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Cách thức giúp học sinh giải Toán chuyển động đều chỉ là một khía cạnh nhỏ
trong nội dung Toán Tiểu học. Tôi mạnh dạn đưa ý kiến để bạn bè, đồng nghiệp tham
khảo.
X#D' .
1. Đối với học sinh:
Trước tiên đối với học sinh trung bình để giải được các bài tập chuyển động đều
nâng cao hơn thì các em phải thực sự chú ý lời giảng của giáo viên trên lớp để nắm
được bản chất bài toán và phải luôn luôn có ý thức học mới có thể xác định đúng
dạng để lắp công thức vào tính.
NguyÔn ThÞ CÈm Yªn Tr– êng TiÓu häc ThÞ TrÊn Tiªn Yªn
20
Một số kinh nghiệm dạy học sinh khá giỏi lớp 5 giải toán chuyển động đều
Còn đối với học sinh khá giỏi sau sau khi đã nắm rõ các công thức khái quát cần
phải tìm giải nhiều các bài toán chuyển động khác nhau để có thể thành thạo nâng
cao kiến thức hơn.
2. Đối với giáo viên:
Giáo viên là người nắm vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh tìm ra kiến
thức. Vì vậy điều quan trọng đầu tiên là giáo viên phải nắm vững kiến thức và biết
cách hướng dẫn học sinh rút ra được công thức khái quát cho mỗi dạng chuyển động.
- HS biết các đơn vị đo lường
- Hiểu về vận tốc
- Có khái niệm ban đầu về vận tốc, đơn vị
đo vận tốc.
- Biết tính vận tốc của một chuyển động
đều.
%"#+4
- Có khái niệm ban đầu về vận tốc, đơn vị đo vận tốc.
- Biết tính vận tốc của một chuyển động đều.
- Làm được bài 1, bài 2. Học sinh khá giỏi làm được các bài tập còn lại.
•;.4
+ GV: Bảng nhóm
+ HS: Vở, nháp.
>" @2&_'4
@2&_'t2C @2&_' m"
xX #&_'
ŽGọi 2 HS lờn bảng chữa bài
,•5 giờ 20 phút + 7 giờ 40 phút : 2
b/2 giờ 30 phút + 3 giờ 15 phút x 3
-GV nhận xét, ghi điểm
*Giới thiệu bài: Q7"
* Hoạt động 1: Hướng dẫn cách tính vận
tốc
Bài toỏn 1:
-GV nờu bài toán 1 sgk.
-Bài toán cho biết gì và hỏi gì ?
-Y/c HS suy nghĩ và tìm cách giải
-Gọi HS nêu kết quả.
-2 HS thực hiện.
Žnhận xét
tốc của bài toán này là m/giây.
-Gọi HS nhắc lại quy tắc tính vận tốc.
*Hoạt động 2: Luyện tập - Thực hành
V<#4
-HS đọc bài toán và tự làm.
-GV đính bảng chữa bài, nhận xét.
-HS đọc bài toán và tự làm.
-GV giúp HS yếu
-GV đính bảng chữa bài, nhận xét.
V<#:
-HS đọc bài toán.
-GV hướng dẫn: Muốn tính vận tốc với đơn
vị là m/giây thì phải đổi đơn vị của số đo
thời gian sang giây.
-Y/c HS tự làm bài.
-GV đính bảng chữa bài, nhận xét.
x@2&_'7##D1
-Nhắc lại quy tắc và công thức tính vận tốc.
-Lấy quãng đường chia cho thời gian.
- v = s : t
-HS làm bài
Vận tốc chạy của người đó là:
60 : 10 = 6 (m/giõy)
ĐS: 6 m/giây
-Nhiều HS nêu.
-HS làm bài vào vở,1 HS làm bảng ộp:
Vận tốc của xe mỏy là:
105 : 3 = 35 (km/giờ)
ĐS: 35 km/giờ
Vận tốc của máy bay:
@2&_'t2C @2&_' m"
xX #&_'
- GV cho HS chữa bài 4.
- GV nhận xét, ghi điểm.
x5#6# #k;<#
x@2&_'4Y < ">"
ps' &8+' "{, 0_ " C/ &_'
&:
a, Bài toán 1:
- Gọi HS đọc bài toán 1.
+ Em hiểu vận tốc của ôtô 42,5 km/giờ
như thế nào?
- Ôtô đi trong thời gian bao lâu?
- Em hãy tính quãng đường ôtô đi được?
- GV yêu cầu HS trình bày bài toán?
+ Muốn tính quãng đường ta làm thế
nào?
- GV hướng dẫn HS viết công thức tính
- 1 HS lên bảng chữa bài .
- Cả lớp nhận xét chữa
- 1 HS đọc bài toán.
- Là quãng đường đi của ô tô trong thời
gian 1 giờ.
- 4 giờ
- Quãng đường ô tô đi trong 4 giờ là:
42,5 x 4 = 170 (km)
Đáp số: 170 km
- Muốn tính quãng đường ta lấy vận tốc
nhân với thời gian.
r3‘
12 x 2,5 = 30 (km)
Đáp số: 30 km
*Bài 1:
- 1HS đọc đề toán
- 1 em lên bảng tóm tắt, 1 em giải
Quãng đường ca nô đi trong 3 giờ là
15,2 x 3 = 45,6 (km)
Đáp số: 45,6 km
*Bài 2:
- 1HS đọc đề toán
- Tính quãng đường đi được của người đó
- 1HS làm bảng, cả lớp lamg vở
15 phút = 0,25 giờ
Quãng đường đi được của người đó là:
12,6 x 0,25 = 3,15 (km)
Đáp số 3,15 km
Bài 3: (HS khá, giỏi)
Thời gian xe máy đi từ A đến B là:
11 giờ - 8 giờ 20 phút = 2 giờ 40 phút
Đổi 2 giờ 40 phút = 2
3
2
giờ =
3
8
giờ
Độ dài quãng đường AB là:
42 x
3
8