Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
THIẾT KẾ
ẬU XANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn
Vũ Thanh Thanh, Khoa Khoa học Sự sống, trƣờng Đại học Khoa học - Đại học
Thái Nguyên và TS. Lê Văn Sơn, Phòng Công nghệ Tế bào Thực vật, Viện Công
nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, là những ngƣời đã tận
tình hƣớng dẫn, chỉ bảo, dìu dắt và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện
và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS.TS. Lê Trần Bình,
PGS.TS. Chu Hoàng Hà, Phòng Công nghệ Tế bào Thực vật, Viện Công nghệ
Sinh học, là những ngƣời đã tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu
cho tôi trong suốt thời gian thự .
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới CN. Hoàng Hà, Phòng Công nghệ tế
bào thực vật, Viện Công nghệ Sinh học đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn tốt nghiệp này. Trong thời gian thực tập nghiên cứu, tôi cũng đã nhận đƣợc
sự hỗ trợ nhiệt tình và những ý kiến đóng góp bổ ích của các cô chú, các anh chị
và các bạn trong Phòng Công nghệ Tế bào Thực vật, Viện Công nghệ Sinh học.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin cảm ơn chân thành các thầy cô giáo trong khoa Khoa học sự sống-
trƣờng Đại học Khoa học-Đại học Thái Nguyên đã hƣớng dẫn, truyền đạt kiến
thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi cũng vô cùng cảm ơn những tình cảm tốt đẹp của những ngƣời thân
trong gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi
trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu.
1.2.1. đối với cây trồng ………………….
1.2.2. Cơ sở hóa sinh và sinh học phân tử của tính chịu hạn
1.3. GEN VÀ PROTEIN LTP (Lipid Transfer Protein)
1.3.1. Gen LTP …………………………………………………………
1.3.2. Protein (LTP) ……………………………………
1.4. KỸ THUẬT CHUYỂN GEN THÔNG QUA A.tumefaciens …….
1.4.1. Vi khuẩn A. tumefaciens và hiện tƣợng biến nạp gen vào thực vật
1.4.2.
1.4.3. Các ……
Trang
i
ii
iii
iv
1
1
2
2
3
4
4
4
6
6
8
10
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. PHÂN LẬP GEN LTP ……………………………………………
3.1.1. Thiết kế mồi ……………………………………………………
3.1.2. Tách RNA tổng số tổng hợp cDNA …
3.1.3. Kết quả PCR LTP …………………………………
3.1.4.
3.1.5. Kết quả xác định trình tự nucleotide
3.2. THIẾT KẾ VECTOR CHUYỂN GEN
3.2.1. Ghép nối đoạn gen LTP vào vector chuyển tiếp pRTRA7/3
3.2.2. Thiết kế vector tái tổ hợp pCB301 mang gen LTP
3.2.3. Kết quả biến nạp pCB301-LTP vào vi khuẩn A. tumefaciens
3.2.4. Kết quả kiểm tra sự có mặt của vector tái tổ hợp trong các dòng
khuẩn lạc bằng colony-PCR
3.3. CHUYỂN GEN VÀ KIỂM TRA SỰ CÓ MẶT CỦA GEN LTP Ở
21
24
24
24
25
26
27
27
27
28
29
33
34
35
36
51
52
52
53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
A.tumefaciens Agrobacterium tumefaciens
BAP 6-Benzyl Amino Purine (Benzyladeninpurin)
Tên các bảng
Trang
2.1
25
2.2
Thành phần phản ứng PCR nhân gen LTP
29
2.3
Chu kỳ nhiệt cho phản ứng PCR nhân gen LTP
29
2.4
Thành phần phản ứng ghép nối gen LTP vào vector
31
2.5
Thành phần
34
2.6
34
3.1
Trình tự mồi nhân gen LTP
39
3.2
Kết quả chuyển gen LTP vào cây thuốc lá trên môi trƣờng chọn lọc
51 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
pCB301-LTP vào A. tumefaciens chủng CV58C1
48
3.8
Hình ảnh điện di sản phẩm colony-PCR bằng cặp mồi đặc hiệu
49
3.9
Quy trình chuyển gen-LTP vào cây thuốc lá K326 invitro từ mô lá
thông qua vi khuẩn A. tumefaciens
50
3.10
Hình ảnh điện di PCR nhân đoạn gen LTP ở cây thuốc lá bằng cặp
mồi đặc hiệu
52 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.
Đậu xanh có tên khoa học Vigna radiata L.Wilczek, là cây đậu đỗ
. Đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và
Trung Á, phân bổ chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, là cây trồng
khá quen thuộc ở Châu Á và rất phổ biến ở nƣớc ta [11], [13]. Trồng đậu xanh
không những cung cấp nguồn thực phẩm giàu đạm, đáp ứng nhu cầu về dinh
dƣỡng của con ngƣời và vật nuôi mà còn có tác dụng cải tạo và bồi dƣỡng đất
do rễ cây đậu xanh có các nốt sần chứa vi sinh vật cố định đạm sống cộng
sinh [4], [5].
phospholipid giữa các lớp màng tế bào, hỗ trợ việc tạo ra các lớp sáp hoặc lớp
biểu bì giúp cây hạn chế mất nƣớc [27]. ọng cho việ
. Những kết quả này sẽ
rất có ý nghĩa không chỉ đối với thực tế sản xuất cây đậu xanh mà còn đối với
sự phát triển của công nghệ sinh học thực vật, đặc biệt là trong điều kiện tại
Việt Nam.
Xuất phát từ cơ sở trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Thiết kế vector
chuyển gen mang gen LTP phân lập từ đậu xanh” nhằm phục vụ việc tạo
cây đậu xanh chuyển gen chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- T vector mang gen LTP liên quan đến khả năng chịu hạn nhằm
tạo cây đậu xanh có khả năng chịu hạn tốt
- cây mang gen LTP.
3. Nội dung nghiên cứu
Phân lập gen LTP từ giống đậu xanh đị Mỹ Đức – Hà
Nội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
n gen mang gen LTP
Biến nạ ổ hợp vào vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens
Chuyể )
Xác định sự có mặt của gen chuyển trong cây thuốc lá bằng PCR
4. Ý nghĩa khoa học :
Là cơ sở cho việc chuyển gen LTP nhằm tạo cây đậu xanh chuyển gen
có khả năng chống chịu với điều kiện môi trƣờng khô hạn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ phân cành muộn, có từ 1 – 5 cành mọc ra từ các đốt còn lại các cành mọc ra
từ nách lá thứ 2, 3 phát triển mạnh hơn.
Lá thuộc loại lá kép mọc cách, lá chét có ba thùy với các hình dạng
ovan, thuôn dài, lƣỡi mác, chẻ thùy. Trên thân chính có 7 – 8 lá, cả hai mặt
trên và dƣới của lá đều có lông bao phủ. Diện tích của các lá tăng dần từ các
lá mọc phía dƣới lên các lá mọc ở giữa thân rồi giảm dần lên các lá mọc ở
phía ngọn. Số lƣợng lá, kích thƣớc, hình dạng và chỉ số diện tích lá thay đổi
tùy thuộc vào giống, đất trồng và thời vụ [5], [13].
Hoa đậu xanh là hoa lƣỡng tính tự thụ phấn, mọc thành chùm xếp xen
kẽ nhau ở trên cuống từ các mắt thứ ba thứ tƣ ở trên thân cây, còn các cành thì
tất cả các mắt đều có khả năng ra hoa. Sau khi cây mọc 35 – 40 ngày thì nở
hoa và kéo dài từ 10 – 15 ngày thì nở hết. Hoa đậu xanh thƣờng nở rải rác,
các hoa ở thân nở trƣớc, hoa ở cành nở sau, có khi còn chậm hơn các hoa nở ở
ngọn cây. Khi mới hình thành hoa có hình cánh bƣớm, có màu xanh tím hoặc
vàng nhạt. Hoa đậu xanh nở sau 24 giờ là tàn, tràng hoa rụng, quả hình thành
và sau đó 20 ngày là quả chín.
Quả đậu xanh thuộc loại quả giáp hình trụ, dạng tròn, hơi dẹt, dài từ 8 -
14 cm. đƣờng kính từ 4 – 6 mm, có hai gân nổi rõ dọc theo hai bên cạnh quả,
đa số quả thẳng, có một số hơi cong , khi còn non quả có màu xanh, khi chín
quả có màu vàng, nâu hoặc đen. Mỗi cây có từ 8 – 35 quả, mỗi quả có từ 5 –
15 hạt. Cũng nhƣ các bộ phận khác trên cây đậu xanh (thân, cành, cuống, lá)
trên lớp vỏ quả đậu xanh thƣờng bao phủ một lớp lông mịn dài khoảng 0,3 –
0,4 mm. Mật độ lông phụ thuộc vào đặc điểm của giống và khả năng chống
chịu của cây. Những giống đậu xanh thuộc nhóm kháng virus gây bệnh khảm
vàng và bệnh sâu đục quả thì mật độ lông khá dầy, màu trắng, vào thời kỳ
chín hoàn toàn lông trên quả thƣờng rụng đi hoặc tự tiêu biến [4], [5]. Quả
đƣợc nghiên cứu theo hƣớng tạo giống cho năng suất, chất lƣợng cao, tạo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ giống có khả năng kháng sâu, bệnh hại, tạo giống có khả năng chống chịu tốt
với điều kiện ngoại cảnh bất lợi [1], [12].
Ở Việt Nam các nghiên cứu tập trung đi sâu vào hai hƣớng nghiên cứu
cơ bản trong sản xuất đậu đỗ nói chung và đậu xanh nói riêng đó là:
Giống có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu với
điều kiện ngoại cảnh bất lợi.
Đƣa cây đậu xanh vào hệ thống trồng trọt nhằm cải tiến hệ thống trồng
độc canh hóa ở các vùng và cải tạo các vùng đất bị thoái hóa [4], [5].
Vì vậy, công tác nghiên cứu chọn tạo giống đậu xanh ở nƣớc ta đã
đƣợc quan tâm phát triển và đã đạt đƣợc một số thành tựu đáng ghi nhận nhƣ:
Lê Khả Tƣờng và cs (2000) nghiên cứu đực điểm hình thái, sinh lí, khả
năng chống chịu sâu bệnh hại và thử nghiệm giống đậu xanh KP11. Kết quả
đã đƣợc hội đồng khoa học công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật năm 2001 áp
dụng cho vùng Bắc Trung Bộ [10].
Chu Hoàng Mậu (2001), đã tạo đƣợc hai dòng đậu xanh MX1103 và
TX16012 có năng suất cao và có khả năng chịu hạn tốt bằng phƣơng pháp
thực nghiệm [15].
Chu Hoàng Mậu (2001), đã tiến hành nghiên cứu hàm lƣợng protein,
thành phần và hàm lƣợng các amino acid trong hạt các giống đậu xanh đột
biến và giống gốc để đánh giá chất lƣợng hạt của các giống đậu xanh. Kết quả
cho thấy hạt của các giống đậu đột biến MX103 có hàm lƣợng protein là
20,58%, cao hơn so với các giống còn lại, hàm lƣợng amino acid của các
giống đậu xanh đột biến cũng cao hơn các giống đối chứng [16].
Cùng với sự phát triển ngày càng cao của Công nghệ Sinh học với việc
áp dụng các kỹ thuật sinh học phân tử và kỹ thuật gen, các nhà khoa học đã
Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Hàng năm trên thế giới có khoảng 20 nƣớc sản xuất đậu xanh, trong
Thái Lan, Ấn Độ, Philipin, Srilanca, Pakistan, Trung Quốc,…đƣợc coi là
những trọng điểm về diện tích, năng suất và sản lƣợng đậu xanh. Tại trung
tâm nghiên cứu và phát triển rau quả châu Á đóng tại Đài Loan có một bộ sƣu
tập giống đậu xanh với khoảng 6000 mẫu giống.
Ở Việt Nam, cây đậu xanh đƣợc trồng từ rất lâu và ở nhiều địa phƣơng
trong cả nƣớc. Trong những năm trƣớc, đậu xanh chỉ đƣợc xem nhƣ một loại
cây trồng phụ, trồng xen với các loại cây khác nhằm tận dụng đất thừa và
không đƣợc quan tâm đúng mức nên năng suất đậu xanh thấp. Ở nƣớc ta, có
thể phân chia các vùng trồng đậu xanh nhƣ sau:
Vùng núi phía Bắc tập trung ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình,
Bắc Kạn, Tuyên Quang. Tập quán canh tác ở đây đơn giản, ít thâm canh, năng
suất thấp.
Vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ gồm các tỉnh Hà Nội, Vĩnh Phúc,
Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dƣơng, Hƣng Yên, Hải Phòng,
Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình Và Thanh Hóa. Do xu hƣớng thâm canh tăng
vụ vì có hệ thống tƣới tiêu và đầu tƣ khá hoàn chỉnh nên năng suất vùng này
cao. Việc trồng thí đểm và tiếp nhận mô hình giống đậu xanh cải tiến khả thi
hơn. Đây là điều kiện cơ bản trong phát triển sản xuất.
Vùng duyên hải Trung Bộ Và Tây Nguyên. Đây là vùng có diện tích và
sản lƣợng đậu xanh lớn do khí hậu thuận lợi để trồng đậu xanh quanh năm.
Tuy nhiên, hàng năm tại thời điểm thu hoạch vụ hè thu thƣờng gặp mƣa bão
nên thất thoát nhiều về năng suất và sản lƣợng.
Vùng Đông Nam bộ. Đây là vùng sản xuất đậu xanh có quy mô lớn
chiếm 26% diện tích gieo trồng cả nƣớc. Tuy nhiên, năng suất trung bình của
các hoạt động sống sang trạng thái coaxecva hoặc gel kém linh động, cản trở
các hoạt động sống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Quá trình trao đổi chất lúc thiếu nƣớc sẽ bị đảo lộn từ hoạt động tổng
hợp là chủ yếu khi đủ nƣớc chuyển sang hƣớng phân giải khi thiếu nƣớc. Quá
trình phân giải quan trọng nhất là phân giải protein và acid nucleic, kết quả là
giải phóng và giải phóng NH3 gây độc cho cây và có thể làm cây chết.
c chế hoạt động quang hợp. Do khí khổng đóng nên
thiếu CO2, lục lạp thể bị phân hủy, ức chế tổng hợp diệp lục, lá bị héo và
khô chết, diện tích quang hợp giảm, sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp
ra khỏi lá và về cơ quan dự trữ bị tắc nghẽn.
Thiếu nƣớc ban đầu sẽ làm tăng hô hấp, về sau giảm hô hấp nhanh,
hiệu quả sử dụng của năng lƣợng của hô hấp rất thấp vì hô hấp sản sinh nhiệt
là chính.
Hạn làm mất cân bằng nƣớc trong cây: lƣợng nƣớc thoát ra lớn hơn
lƣợng nƣớc hấp thu vào cây làm cho cây bị héo. Dòng vận chuyển vật chất
trong cây bị ức chế rất mạnh: sự hút chất khoáng giảm do tốc độ dòng hút
chất khoáng giảm. Thiếu nƣớc kìm hãm tốc độ vận chuyển chất đồng hóa về
các cơ quan dự trữ và có thể có hiện tƣợng “chảy ngƣợc dòng‟‟ các chất dự
trữ về các cơ quan dinh dƣỡng. Kết quả làm giảm năng suấ của cây
trồng. Quá trình sinh trƣởng và phát triển bị kìm hãm
Ức chế sinh trƣởng: thiếu nƣớc thì đỉnh sinh trƣởng không tiến hành
phân chia đƣợc, quá trình dãn của tế bào bị ức chế làm cho cây sinh trƣởng
chậm nên nƣớc đƣợc xem là yếu tố nhạy cảm trong sự sinh trƣởng của tế bào.
Ức chế ra hoa, kết quả: thiếu nƣớc ảnh hƣởng đến quá trình phân hóa
hoa và đặc biệt là quá trình thụ tinh. Khi gặp hạn, hạt phấn không nảy mầm,
ống phấn không sinh trƣởng đƣợc, sự thụ tinh không xảy ra và hạt sẽ bị lép
abscisic acid (ABA), aquaporin, các nhân tố ức chế protease, các gen điều
khiển phiên mã và các gen chức năng (HSP, LEA, LTP, PLC…) [12].
Vai trò của bộ rễ: khả năng nhận nƣớc của cây phụ thuộc vào bộ rễ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy cây nào có bộ rễ dài, khỏe, to thì có khả năng hút
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ nƣớc ở những tầng đất sâu, vì vậy cây nào có bộ rễ dài sẽ có khả năng lấy
đƣợc nhiều nƣớc.
Ở cây đậu xanh, hình thái rễ rất đa dạng. Các giống đậu xanh địa
phƣơng thƣờng có bộ rễ dài hơn các giống khác.
Khả năng điều chỉnh áp suất thảm thấu là một đặc tính của tế bào khi bị
mất nƣớc do hạn, nóng, lạnh… Trong điều kiện hạn, áp suất thẩm thấu tăng
lên giúp rễ cây nhận đƣợc một lƣợng nƣớc rất nhỏ còn lại trong đất. Các chất
và gen tƣơng ứng có khả năng tạo áp suất thẩm thấu cao trong tế bào để cạnh
tranh nƣớc với môi trƣờng xung quanh bao gồm: ion K
+
; các amino acid nhƣ
prolin, estonine; các chất đƣờng nhƣ sucarose, fructant, manitol, pinitol và các
chất khác nhƣ glycine betain, β- alanin betain. Các chất này có khả năng điều
chỉnh áp suất thẩm thấu nhờ khả năng hút nƣớc và giữ nƣớc vào tế bào hoặc
ngăn chặn sự xâm nhập của ion Na
+
[22].
Abscisic acid (ABA) là hormone thực vật liên quan đến sự điều chỉnh
sinh lý, sinh trƣởng và phát triển đáp ứng với môi trƣờng của thực vật bậc
cao. ABA chủ yếu đƣợc tổng hợp ở rễ cây do phản ứng với stress nhờ gen cis-
epoxycarotenoids với sự tham gia của enzym 9-cis-epoxycarotenoid
dioxygenase [42]. ABA đóng vai trò then chốt trong nhiều quá trình của tế
đoan nhƣ hạn, nhiệt độ cao, muối cao. Sự xuất hiện của HSP có chức năng
ngăn cản hoặc sửa chữa sự phá hủy của stress. Dựa vào khối lƣợng phân tử
ngƣời ta chia HSP thực vật thành 6 nhóm khác nhau: 8.5, 20, 60, 70, 90,
11kDa. Trong nhóm HSP có rất nhiều đại diện của chất môi giới phân tử
(MGPT), (HSP70), (HSP60) nhƣng cũng có những HSP không phải là môi
giới phân tử, ví dụ HSP 8,5 kDa (Ubiquitin).
Các MGPT là yếu tố chìa khóa tham gia nội cân bằng tế bào trong các
điều kiện sinh trƣởng cực thuận và đối lập. Chức năng chính của MGPT là
tham gia tạo cấu trúc không gian đúng cho protein mới đƣợc tổng hợp,
chuyển protein qua màng, duy trì cấu trúc đặc hiệu của protein, ngăn chặn sự
hủy hoại biến tính [12]. MGPT có 5 họ chính là HSP70 (Dank), HSP 60
(Chaperonin), HSP 90, HSP 100 và sHSP (small HSP) trong đó có hai họ môi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ giới phân tử đƣợc nghiên cứu nhiều nhất là chaperonin và HSP70. HSP70 đã
đƣợc phân lập ở đậu xanh [32].
Protein LEA cũng đƣợc chú ý trong điều kiện thực vật bị stress do thiếu
nƣớc [34], [44], [48]. Protein LEA đƣợc phân chia làm 5 nhóm chính trên cơ
sở chuỗi trình tự amino acid của nó: nhóm 1-D19, nhóm 2-D11 (dehydrin),
nhóm 3-D7, nhóm 4-D113, nhóm 5D29 [33]. Protein LEA thực hiện chức
năng nhƣ: cô lập ion, bảo vệ protein màng tế bào, phân hủy protein biến tính,
điều chỉnh áp suất thẩm thấu. Nó không những chỉ đƣợc phát hiện trong hạt
mà còn trong các mô tăng trƣởng khi cây bị stress do thiếu nƣớc, do mặn, và
do lạnh. Sự biểu hiện của protein LEA và đặc điểm cấu trúc đại phân tử của
nó cho thấy nó có vai trò trong bảo vệ cây trồng chống chịu sự mất nƣớc [47].
Protein LEA đƣợc tạo ra hàng loạt trong giai đoạn muộn của quá trình hình
thành phôi.
Gen PLC liên quan đến sự huy động canxi. Canxi hòa tan đƣợc xem
đƣợc cô lập và biểu hiện trong hoa [35], [31].
Ở cây đậu xanh, Liu K.H và cs (2003) đã phân lập thành công hai dạng
khác nhau của gen LTP và đặt tên là Vrltp1 và Vrltp2 [39]. Trình tự các
amino acid suy diễn của Vrltp1 và Vrltp2 đều có hai đoạn pentapeptide mang
tính bảo thủ cao ở thực vật. Trong hạt đậu xanh ở giai đoạn nảy mầm, nhóm
nghiên cứu chỉ tìm thấy mRNA của Vrltp1, còn trong mô sinh dƣỡng thì
mRNA của Vrltp1 và Vrltp2 chỉ tìm thấy ở lá và thân, không có ở chóp rễ.
Các tác giả cũng nhận thấy, khi gặp điều kiện bất lợi nhƣ stress hạn hay muối
hoặc khi hàm lƣợng ABA ngoại bào tăng cao sẽ làm tốc độ phiên mã của
mRNA Vrltp1 và Vrltp2. Từ đó đƣa ra giả thuyết ràng gen LTP có ảnh hƣởng
rõ rệt tới sự phát triển của các mô non và rất có thể đóng vai trò quan trọng
trong sự thích nghi của thực vật trong điều kiện khô hạn.
Khi gặp các điều kiện cực đoan của môi trƣờng, các nhân tố nhƣ
hormone, các quá trình trao đổi ion, các con đƣờng truyền tín hiệu, … sẽ điều