Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn
của các trường chuyên nghiệp ở nước ta nói chung và trường Đại học Nông Lâm
nói riêng. Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu của sinh viên cuối
khóa. Đây là quá trình nhằm giúp cho sinh viên có dịp cọ xát với thực tế nghề
nghiệp, nâng cao kỹ năng thực hành. Từ đó giúp sinh viên rèn luyện khả năng tổng
hợp lại những kiến thức đã học vào thực tế để giải quyết vấn đề cụ thể.
Nhằm hoàn thiện mục tiêu đào tạo kỹ sư Môi trường có đủ năng lực, sáng tạo
và có khả năng công tác. Được sự nhất trí của Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường cùng với nguyện vọng của
bản thân, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến
môi trường nước mặt các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái
Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013”. Trong thời gian triển khai làm
đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong khoa Môi
trường và đặc biệt là sự chỉ đạo của thầy giáo, TS. Dư Ngọc Thành.
Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản đề tài của tôi không tránh khỏi có
thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong có được sự đống góp ý kiến của thầy, cô giáo và các bạn để
bản khóa luận của tôi được hoàng thiện tốt hơn./.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
CA Correspondence Analysis Phân tích tương ứng
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Bảng vị trí của các điểm lấy mẫu 21
Bảng 4.1. Tình hình biến động mục đích sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên
giai đoạn 2008 - 2013 30
Bảng 4.2 : Biến động cơ cấu sử dụng đất so với diện tích tự nhiên của thành phố
Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2013 31
Bảng 4.3. Hàm lượng pH trong môi trường nước mặt tại khu vực
nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 32
Bảng 4.4. Bảng phân chia cấp độ pH 33
Bảng 4.5. Hàm lượng COD trong môi trường nước mặt của khu vực nghiên cứu
giai đoạn 2008 – 2013 34
Bảng 4.6. Hàm lượng BOD
5
trong môi trường nước mặt của khu vực nghiên cứu
giai đoạn 2008 – 2013 36
Bảng 4.7. Hàm lượng TSS
trong môi trường nước mặt của khu vực nghiên cứu
giai đoạn 2008 – 2013 37
Bảng 4.8. Hàm lượng Pb trong môi trường nước mặt của khu vực nghiên cứu
giai đoạn 2008 – 2013 39
Bảng 4.9. Hàm lượng Fe trong môi trường nước mặt của một số các địa điểm
giai đoạn 2008 – 2013 41
Bảng 4.10 Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của PTĐT
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2
PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
3
2.1. Khái quát về môi trường và ô nhiễm môi trường
3
2.1.1. Khái quát về môi trường
3
2.2.2. Khái quát về ô nhiễm môi trường
4
3.3. Nội dung nghiên cứu
18
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên
18
3.3.2. Ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị đến biến động diện tích đất nông
nghiệp tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013
19
3.3.3. Sự ảnh hưởng của phát triển đô thị đến thành phần môi trường nước mặt các
xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013
19
3.3.4. Đánh giá sự ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường qua
ý kiến người dân
19
3.3.5. Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước khu vực nghiên cứu thành
phố Thái Nguyên
19
3.3.6. Đề xuất một số giải pháp
19
3.4. Phương pháp nghiên cứu
19
3.4.1 Phương pháp khảo sát ngoài thực địa
19
3.4.2. Phương pháp bản đồ
19
3.4.3. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
20
3.4.4. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu.
20
3.4.5. Phương pháp điều tra phỏng vấn
20
4.3.3. Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng BOD5 trong môi trường nước
mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013
35
4.3.4. Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng TSS trong môi trường nước
mặt các xã phường phía Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013 37
4.3.5. Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng Pb trong môi trường nước
mặt các xã phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn
2008 – 2013 39
4.3.6. Ảnh hưởng của phát triển đô thị đến hàm lượng Fe trong môi trường nước
mặt các xã phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên giai đoạn
2008 – 2013 41
4.3.7. Phân tích mối tương quan giữa hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá tại khu vực
nghiên cứu năm 2013 42
4.4. Đánh giá sự ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường qua ý kiến
người dân 43
4.5. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước mặt 46
4.6. Đề xuất một số giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ
môi trường
47
4.6.1. Giải pháp trước mắt 47
4.6.2. Giải pháp lâu dài 48
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1. Kết luận 50
5.2. Kiến nghị 51
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
quả nghiêm trọng tới môi trường thành phố Thái Nguyên. Điều này đã được chứng
minh từ thực tế hiện trạng môi trường thành phố Thái Nguyên.
Sự phát triển đô thị ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường nước nói chung.
Trong phạm vi thời gian và không gian nghiên cứu tôi tiến hành nghiên cứu ảnh
hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường nước mặt. Xuất phát từ những vấn đề
nêu trên, được sự cho phép của ban chủ nhiệm khoa Môi Trường trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát
triển đô thị đến môi trường nước mặt các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến chất lượng
môi trường nước mặt các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái
Nguyên - tỉnh Thái Nguyên, để đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những
tác động tiêu cực tới môi trường nước mặt trước sự phát triển đô thị thành phố
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa học tập: Vận dụng các kiến thức đã học ở trường lớp vào thực tiễn.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất biện pháp khắc phục những tác động tiêu cực
của phát triển đô thị tới môi trường nước mặt thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên và các địa phương có điều kiện tương tự
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Khái quát về môi trường và ô nhiễm môi trường
2.1.1. Khái quát về môi trường
* Các khái niệm môi trường:
* Ô nhiễm môi trường:
Theo Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005: “Ô nhiễm môi trường
là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi
trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “ Ô nhiễm môi trường
là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh
hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất
lượng môi trường”.
* Ô nhiễm môi trường nước:
Là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục
đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời
sống con người và sinh vật. Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau: Nước ngầm, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí Nước bị ô
nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây
hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Nước ô nhiễm thường
là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu.
* Nước thải sinh hoạt:
Là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công
sở, trường học và các cơ sở trường học khác.
* Nước thải công nghiệp: Là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc
trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.
* Nước thải đô thị: Nước thải đô thị là một thuật ngữ chỉ chất lỏng trong hệ
thống cống thoát của một thành phố, thị xã đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên.
* Nước thải thấm qua: Là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều
cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố gas hay hố xí.
* Nước thải tự nhiên: Nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những
thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng.
* Tiêu chuẩn môi trường: Trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “Là giới hạn cho phép của các thông số
2.3. Những vấn đề cơ bản về đô thị và quá trình phát triển đô thị
2.3.1. .Đô thị và điểm dân cư đô thị
* Khái niệm đô thị
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt
động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. (Từ điển bách khoa Việt Nam,
1995) [13].
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và
làm việc theo kiểu thành thị. (Vũ Thị Bình, 2008) [1].
6
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp,
cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai
trò thức đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc
trong huyện.
Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay trung tâm tổng
hợp; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền, của
một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh, trong huyện.
* Khái niệm điểm dân cư đô thị
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi
nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Mỗi nước có một quy định riêng về điểm dân cư đô thị.Việc xác định quy mô
tối thiểu của đô thị phục thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội của mỗi nước và tỷ lệ
phần trăm dân phi nông nghiệp của đô thị. (Vũ Thị Bình, 2008) [1].
* Quy định về đô thị
Ở nước ta theo quy định của Chính phủ, các điểm dân cư được gọi là điểm
dân cư đô thị khi thỏa mãn 5 yêu cầu sau đây:
1. Là trung tâm vùng lãnh thổ hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc
đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định.
2. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn)
3. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 65% trong tổng số lao
loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận.
1. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
2. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là
thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
3. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành,
nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
4. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
5. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây
dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn.
Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân
số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy
định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so
với các loại đô thị tương đương.
8
* Sự phát triển của đô thị
Quá trình phát triển đô thị thực chất cũng là một quá trình phát triển kinh tế xã
hội, hơn nữa nó còn là quá trình phát triển không gian kiến trúc. Nó gắn liền với
tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển các công trình xây dựng.
Quá trình phát triển đô thị phụ thuộc nhiều vào đặc điểm tự nhiên kinh tế xã
hội của từng vùng, miền, lãnh thổ.
2.3.2. Những vấn đề về môi trường đô thị
2.3.2.1. Khái niệm về môi trường đô thị
Môi trường đô thị là một bộ phận trong toàn bộ môi trường nói chung. Tất cả
các yếu tố môi trường xét trong không gian đô thị đều thuộc phạm vi môi trường đô thị.
Môi trường đô thị có ảnh hưởng quan trọng tới sự hoạt động, tồn tại và phát
triển của đô thị trong đó con người là hạt nhân trung tâm, vừa là đối tượng nghiên
cứu vừa là người nghiên cứu nhằm giải quyết hợp lý các mối quan hệ phức tạp đó.
Chính vì vậy mà ông phó chủ tịch phụ trách phát triển môi trường đô thị bề vững
COD Chemical Oxygen Demand Nhu cầu oxy hóa học
XĐB Xã Đồng Bẩm
XCN Xã Cao Ngạn
XQT Xã Quyết Thắng
PTT Phường Tân Thịnh
PPĐP Phường Phan Đình Phùng
PQT Phường Quan Triều
CGB Cầu Gia Bẩy
ĐTH Đập Thác Huống
CA Correspondence Analysis Phân tích tương ứng
10
* Đất trong đô thị
Con người và nhiều loại sinh vật tồn tại, phát triển trên và trong đất. ĐẤt
cung cấp cho con người những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống (lương thực, thực
phẩm …); Đất là nơi xây dựng các công trình, các đô thị … Do đó đất là tài nguyên
quý giá của loài người. Trong quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế, con người
đã chiếm dụng đất canh tác để xây dựng nhà cửa, đường sá … cho đô thị. Đất được
dùng vào mục đích xây dựng tăng lên nhiều.
Lượng phân hóa học, thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp đã ảnh hưởng
đến đất. Từ đất mới ảnh hưởng đến rau xanh con người ăn rau xanh sẽ ảnh hưởng
đến sức khỏe.
Rác thải, phế thải công nghiệp, chất thải rắn từ sinh hoạt, bệnh viện, thương
nghiệp – dịch vụ … không qua phân loại đã chuyển thẳng đến bãi chon lấp rác
không đảm bảo điều kiện vệ sinh của thành phố là nguồn độc hại gây ô nhiễm nước,
đất. - Khả năng di chuyển các chất độc hại trong đất xa hơn nhiều so với phạm vi
trực tiếp bị ô nhiễm.
tỉnh lộ, hoạt động xây dựng hạ tầng và khu dân cư góp phần làm gia tăng mức độ ô
nhiễm. Hàm lượng các khí độc hại rất cao do khí thải, đun nấu và công nghiệp làm
gia tăng bệnh đường hô hấp, bệnh về mắt và ngoài da.
Ô nhiễm không khí còn bao gồm ô nhiễm về tiếng ồn. Ô nhiễm tiếng ồn giao
thông và các ảnh hưởng tới sức khỏe người dân đô thị. Theo kết quả nghiên cứu giá
trị mức ồn tăng từ 2 - 5dBA do cấu trúc nhà ống, liền kề, bám dọc theo các tuyến
đường. Hầu hết các trục đường lớn ở các đô thị đều có mức tiến ồn vượt quá tiêu
chuẩn cho phép. Tiếng ồn là nguyên nhân làm giảm tuổi thọ và gia tăng các chứng
bệnh về thần kinh.
• Đô thị hoá và ô nhiễm môi trường nước
Nguồn nước và môi trường nước có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đô thị.
Bất kỳ một đô thị nào cũng phải có nguồn nước đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt,
công nghiệp và dịch vụ. Không những thế, nguồn nước còn đóng vai trò làm sạch,
cân bằng môi sinh vỡ nó cải tạo khí hậu đô thị và đưa các chất thải ra khỏi đô thị
qua hệ thống thoát nước.
12
Nguồn nước ở đô thị bao gồm nước mặt và nước ngầm. Hiện nay, cả nguồn
nước mặt và nước ngầm ở nhiều đô thị đều đang trong tình trạng báo động về cả ô
nhiễm chất bẩn và suy thoái nguồn nước. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước ở đô thị
do công nghiệp, sinh hoạt và giao thông gây ra. Vấn đề ô nhiễm còn đi kèm với việc
khai thác quá mức làm cạn kiệt nguồn tài nguyên này.
- Ô nhiễm do công nghiệp
- Ô nhiễm do giao thông
- Ô nhiễm do sinh hoạt
• Đô thị hoá và ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm đất có quan hệ chặt chẽ với ô nhiễm môi trường nước. Dưới góc độ
môi trường đô thị vấn đề ô nhiễm đất bao gồm: thoái hóa đất tự nhiên và đất canh
tác( sa mạc hóa, xói mòn, axit hóa ), nhiễm bẩn do công nghiệp và sinh hoạt ( do bãi
rác, khu công nghiệp ô nhiễm và nghĩa địa) và việc cạn kiệt nguồn tài nguyên khi
đất canh tác bị lạm dụng biến thành đất ở.
người di cư hay vãng lai) do sự tập trung một khối lượng lớn người trên một diện
tích có hạn của thành phố. Đó chính là các loại tệ nạn xã hội (nghiện hút, mại dâm,
trộm cắp, lừa đảo…) và những loại bệnh tật vô phương cứu chữa của nền văn minh
hiện đại (ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp ).
Sự phát triển không được kiểm soát của các đô thị sẽ dẫn đến những vấn đề
không thể sửa chữa được lợi ích chỉ rơi vào một nhóm rất ít người trong xã hội còn
thực tế dành cho đại đa số quần chúng lao động là đô thị hóa phát triển không bền
vững: chất lượng nhà ở kém (không có chỗ ở và nơi cư trú không còn đủ không gian
để có thể tự tổ chức các hoạt động văn hoá và đời sống), cuộc sống bấp bênh do giá
cả sinh hoạt ngày một cao, người dân không tiếp cận được đầy đủ nền giáo dục
chung của xã hội…
Trong đô thị còn những nguồn ô nhiễm khác mà con người ít để ý đến. Đó là
sự ô nhiễm do các yếu tố vật lý, cụ thể là do các yếu tố từ trường với tần suất và
cường độ khác nhau (các trạm thu - phát sóng, các đường dây truyền tải điện
năng…).
Hơn nữa, cho đến bây giờ chúng ta cũng chưa lường hết được về những tác
động của các loại vật liệu xây dựng đến sức khoẻ của con người, đặc biệt là những
loại vật liệu có nguồn gốc từ các hợp chất vô cơ. Đô thị càng phát triển thì các nguy
cơ ô nhiễm từ các yếu tố đó càng lớn.
Thành phố không những bị ô nhiễm mà khí hậu của nó cũng bị thay đổi.
Những thành phần cơ bản của khí hậu như bức xạ, chế độ nhiệt - ẩm, áp suất không
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Bảng vị trí của các điểm lấy mẫu 21
Bảng 4.1. Tình hình biến động mục đích sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên
giai đoạn 2008 - 2013 30
Bảng 4.2 : Biến động cơ cấu sử dụng đất so với diện tích tự nhiên của thành phố
Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2013 31
Bảng 4.3. Hàm lượng pH trong môi trường nước mặt tại khu vực
nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2013 32
thị xã và trên 500 thị trấn. Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc
gia: Các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Huế. Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố như: Cần Thơ,
Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thái Nguyên, Việt
Trì, Hạ Long, Hoà Bình… Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ
chức năng trung tâm hành chính-chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch-dịch vụ, đầu mối
giao thông; và các đô thị trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư
nông thôn, các đô thị mới.
Hiện nay, tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta dưới 40%, theo quy hoạch phát triển
đến năm 2010 con số này sẽ 56-60%, đến năm 2020 là 80%
Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ phát triển đô thị của Việt Nam vào năm
2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên
45 triệu dân. Mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m2/người.
Nếu đạt tỷ lệ 100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000ha đất đô thị, nhưng
hiện nay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng 1/4 so với yêu cầu. Với tốc độ
phát triển và dân số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều
vấn đề phức tạp phát sinh từ quá trình phát triển đô thị hóa.
Đó là: Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị, làm cho mật độ dân số ở
thành thị tăng cao; vấn đề giải quyết công ăn việc làm, thất nghiệp tại chỗ, nhà ở và
tệ nạn xã hội làm cho trật tự xã hội ven đô ngày càng thêm phức tạp; vấn đề nhà ở
và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm
nguồn nước
• Phát triển đô thị hướng tới mục tiêu bền vững
Phát triển đô thị là một quá trình tất yếu của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có
Việt Nam. Tuy nhiên, phát triển đô thị tự phát, thiếu quy hoạch khoa học sẽ làm nảy
sinh và để lại nhiều hậu quả tiêu cực và lâu dài, cản trở sự phát triển của đất nước.
Chính vì vậy, chiến lược phát triển đô thị của Việt Nam phải hướng tới mục tiêu
bền vững giữ tự nhiên, con người và xã hội.
16
Muốn vậy cần: Tăng cường công tác giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của
Di chuyển các xí nghiệp sản xuất ô nhiễm môi trường vào các khu công nghiệp, di
17
dời một số công trình nghĩa trang, bãi chôn lấp chất thải rắn ra khỏi khu vực trung
tâm Thành phố.
- Về quy hoạch, phát triển các khu dân cư và đô thị mới
Trong những năm qua, thành phố tập trung các nguồn lực để hoàn thiện cơ
sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển mạng lưới đô thị và
điểm dân cư tập trung theo hướng hiện đại. Đặc biệt là các khu đô thị mới 2 bên bờ
sông Cầu, sẽ là điểm nhấn để phát triển thành phố bên bờ sông đang dần trở thành
hiện thực. Hiện nay, thành phố đang có chủ trương xây dựng các khu đô thị mới
phường Túc Duyên; Dự án Kè chống lũ sông Cầu đang tiếp tục triển khai giai đoạn
2 kéo dài từ Túc Duyên đến đập thác Huống. Tới đây, dự án Đường Bắc Sơn,
đường Minh Cầu nối đường Bắc Sơn và Khu dân cư số 1 Hoàng Văn Thụ sau khi
hoàn thành sẽ tạo thêm một con đường nội thị rộng đẹp cùng một khu dân cư mới,
góp phần xóa bỏ tình trạng làng trong phố; Dự án Khu đô thị Xương Rồng với tổng
diện tích trên 45 ha được quy hoạch và xây dựng theo kiến trúc hiện đại, độc đáo,
với 9,5 ha diện tích lòng hồ được thiết kế nằm giữa khu đô thị vừa có chức năng
điều hòa sinh thái, vừa tạo cảnh quan cho khu đô thị và khu vực phía Bắc thành phố.
Bao quanh hồ là khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí,
cây xanh các biệt thự đơn, biệt thự đôi, khu dân cư, được bố trí hài hòa cùng với
một kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ sẽ là điểm nhấn quan trọng, làm thay đổi diện
mạo thành phố.
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng được tập trung chỉ đạo
và thực hiện có hiệu quả. Đến nay, gần như toàn bộ diện tích đất nội thị đã được lập
quy hoạch chi tiết xây dựng. Đối với các xã ngoại thị, trung tâm các xã đã và đang
được lập quy hoạch chi tiết. Việc quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch được
duyệt được thực hiện tương đối tốt.
- Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn
Khu dân cư nông thôn của thành phố được phân bố ở 9 xã. Với phong tục,
tập quán có từ lâu đời, các điểm dân cư nông thôn thường được hình thành và phát