Nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết nấm fusarium oxysporum đến sinh trưởng, phát triển và tính chống chịu nấm bệnh của một số dòng cẩm chướng đột biến trong môi trường in vitro - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH CHIẾT NẤM

Fusarium oxysporum ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ
TÍNH CHỐNG CHỊU NẤM BỆNH CỦA MỘT SỐ DÒNG

CẨM CHƯỚNG ðỘT BIẾN TRONG MÔI TRƯỜNG IN VITRO
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Lý Anh


Nội, đã tận tình hướng dẫn, quan tâm và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn.
Bên cạnh đó tôi xin cảm ơn thầy TS. Hà Viết Cường - Giám đốc Trung tâm
nghiên cứu bệnh cây nhiệt đới, trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tận tình
quan tâm, giúp đỡ tôi trong việc giải đáp những vấn đề thắc mắc về chủng nấm
Fusarium oxysporum.
Tôi cũng xin cảm ơn toàn thể cán bộ công nhân viên Viện Sinh học Nông
nghiệp Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
tốt cho tôi trong suốt quá trình thực tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn tới gia đình và bạn bè đã quan tâm, động
viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 09 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phương Anh
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii


2.1.2 Nguồn gốc 4

2.1.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoa cẩm chướng 4

2.1.4 Yêu cầu ngoại cảnh của hoa cẩm chướng 5

2.1.5 Tình hình sản xuất hoa cẩm chướng trong và ngoài nước 6

2.2. Giới thiệu chung về nấm Fusarium oxysporum 10

2.2.1 Phân loại 10

2.2.2 Đặc điểm chung 10

2.2.3 Môi trường sống 12

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

iv

2.2.4 Cách thức xâm nhập và enzyme ngoại bào của nấm Fusarium nói
chung và Fusarium oxysporum nói riêng 12

2.3. Tình hình bệnh hại do nấm Fusarium oxysporum gây ra 14

2.3.1 Tình hình gây bệnh của nấm Fusarium oxysporum đối với các cây
trồng nói chung 14

2.3.2 Tình hình gây bệnh và một số nghiên cứu về ảnh hưởng của nấm
Fusarium oxysporum đến cây cẩm chướng 16

3.6. Phương pháp xử lý số liệu 28

PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

4.1. Nuôi cấy và tách chiết dịch nấm Fusarium oxysporum gây bệnh trên
cây cẩm chướng 29

4.2. Ảnh hưởng của dịch nuôi cấy nấm Fusarium oxysporum đến khả năng
sống, sinh trưởng in vitro của các dòng cẩm chướng nghiên cứu 31

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

v

4.2.1 Chu kỳ I 31

4.2.2 Chu kỳ II 46

4.3 Ảnh hưởng của dịch nuôi cấy nấm Fusarium oxysporum đến khả năng
ra rễ in vitro của các dòng cẩm chướng nghiên cứu 59

4.3.1 Ảnh hưởng của dịch nuôi cấy nấm Fusarium oxysporum đến khả
năng sinh trưởng và phát triển của các dòng cẩm chướng nghiên cứu đã
nuôi cấy qua 2 chu kỳ trên môi trường ra rễ 61

4.3.2 Ảnh hưởng của dịch nuôi cấy nấm Fusarium oxysporum đến khả
năng ra rễ in vitro của các dòng cẩm chướng nghiên cứu đã qua nuôi cấy 63

4.4 Lây nhiễm nhân tạo ngòai vườn ươm 68


Bảng 4.8 Ảnh hưởng của dịch nuôi nấm Fusarium oxyspoum đến khả năng
sống của các dòng cẩm chướng nghiên cứu ở chu kỳ II 46
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của nồng độ dịch nấm đến động thái tăng trưởng
số chồi của các dòng cẩm chướng nghiên cứu qua các tuần 50
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của nồng độ dịch nấm đến động thái tăng trưởng
số lá của các dòng cẩm chướng nghiên cứu qua các tuần 52
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của nồng độ dịch nấm đến động thái tăng trưởng
chiều cao chôi của các dòng cẩm chướng nghiên cứu qua
các tuần 54
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của dịch nuôi cấy nấm Fusarium oxyspoum đến sự
sinh trưởng của các dòng cẩm chướng nghiên cứu ở chu kỳ II 56
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của dịch nuôi cấy nấm Fusarium oxysporum đến khả
năng sống và sinh trưởng của các dòng cẩm chướng trên môi
trường ra rễ 62
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của dịch nuôi cấy nấm Fusarium oxysporum đến khả
năng ra rễ của các dòng cẩm chướng nghiên cứu 64
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của dịch nấm Fusarium oxysporum đến sinh trưởng,
phát triển của các dòng cẩm chướng nghiên cứu trong điều kiện
vườn ươm 64
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

vii

DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Đặc điểm bào tử của nấm Fusarium oxysporum 11
Hình 2.2 Bệnh do các loại nấm Fusarium gây ra 15
Hình 3.1 Các dòng, giống cẩm chướng nghiên cứu 20
Hình 4.1 Khuẩn lạc của nấm Fusarium oxysporum 29
Hình 4.2 Biểu đồ so sánh khả năng sống và sinh trưởng in vitro của các dòng

Hình 4.13 Biểu đồ so sánh khả năng sống và sinh trưởng của các dòng cẩm
chướng nghiên cứu khi lây nhiễm nhân tạo theo nồng độ nấm (sau 4
tuần) 66

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

viii

DANH MỤC ẢNH

Ảnh 4.1 Chồi các dòng cẩm chướng nghiên cứu ở chu kỳ I theo dòng cây (sau
4 tuần nuôi cấy)
Ảnh 4.2 Chiều cao của từng dòng cẩm chướng nghiên cứu ở chu kỳ I theo
dòng cây (sau 4 tuần nuôi cấy)
Ảnh 4.3 Chồi các dòng cẩm chướng nghiên cứu ở cu kỳ I theo nồng độ bổ sung
dịch nấm (sau 4 tuần nuôi cấy)
Ảnh 4.4 Chồi các dòng cẩm chướng nghiên cứu ở chu kỳ II theo dòng cây (sau
4 tuần nuôi cấy)
Ảnh 4.5 Chiều cao của từng dòng cẩm chướng nghiên cứu ở chu kỳ II theo
dòng cây (sau 4 tuần nuôi cấy)
Ảnh 4.6 Chồi các dòng cẩm chướng nghiên cứu ở chu kỳ II trên các môi
trường nồng độ khác nhau của dịch nấm (sau 4 tuần nuôi cấy)
Ảnh 4.7 Các dòng cẩm chướng nghiên cứu trên môi trường ra rễ thí nghiệm 3
(sau 4 tuần nuôi cấy)
Ảnh 4.8 Chiều cao cây hoàn chỉnh của các dòng cẩm chướng nghiên cứu trên
môi trường ra rễ bổ sung dịch nấm với các nồng độ khác nhau
Ảnh 4.9 Chồi các dòng cẩm chướng nghiên cứu ở chu kỳ III trên các môi
trường nồng độ khác nhau của dịch nấm (sau 4 tuần nuôi cấy)
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………



PHẦN I: MỞ ðẦU

1.1. ðặt vấn ñề
Guồng quay của lịch sử đang từng ngày thay đổi nhanh chóng theo hướng
ngày càng hiện đại và sung túc hơn thì cuộc sống tinh thần của con người cũng
ngày càng phong phú và đang dạng hơn. Cuộc sống tinh thần của con người phát
triển theo hướng yêu thích và tìm tòi cái đẹp của cuộc sống, trong đó có thú chơi
hoa tao nhã và tinh tế. Mỗi loài hoa có những ý nghĩa và vẻ đẹp riêng có thể kể
đến như ly, hồng, lan và không thể không kể đến loài hoa cẩm chướng.
Hoa cẩm chướng còn có tên gọi là hoa phăng là nhóm hoa cắt cành phổ
biến không kém hoa hồng, hoa cúc trên thế giới. Hiện nay, trên thế giới có
khoảng hơn 300 loài với rất nhiều giống lai khác nhau, và được trồng phổ biến ở
rất nhiều nước trên thế giới như Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc , ở nước ta
chúng cũng được trồng ở nhiều địa phương như: Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng,
Đà Lạt, Sapa [10].
Hiện nay ở nước ta trồng hoa cẩm chướng cho hiệu quả kinh tế cao, tuy
nhiên cũng như trồng các loài hoa khác những bất thuận về điều kiện tự nhiên
cũng như sâu bệnh hại luôn là những bất cập đặt ra khi trồng cẩm chướng. Nước
ta sở hữu một nền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên khi trồng cẩm chướng
chúng rất dễ dàng bị nhiều loài sâu bệnh tấn công, trong đó phải kể đến bệnh
héo rũ do nấm Fusarium oxysporum gây nên.
Nấm Fusarium oxysporum f.sp dianthi là loài gây hại cho các vùng trồng hoa
cẩm chướng ở Italy, Israel, Colombia, Hà Lan, Nhật Bản…[15]. Nguồn bệnh
của loài nấm này thường bảo tồn chủ yếu là dạng hạch nấm, sợi nấm và hậu bào
tử ở trong đất và trong tàn dư cây bệnh, do vậy, việc phòng trừ nấm bệnh cho
cây gặp rất nhiều khó khăn và thường phải sử dụng các biện pháp xử lý đất
trồng bằng các loại hoá chất độc hại như methyl bromide để xử lý (50-70gr/m
2
),

- Xác định được khả năng ra rễ in vitro của các dòng cẩm chướng sàng lọc
được khi nuôi cấy trên môi trường ra rễ chứa dịch nấm bệnh Fusarium
oxysporum ở các nồng độ khác nhau.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

3

- Đánh giá được khả năng chống chịu nấm bệnh của các dòng cẩm
chướng được sàng lọc trong vườn ươm.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Ứng dụng phương pháp nuôi cấy mô để phát hiện được tương tác giữa dịch
nấm bệnh Fusarium oxysporum với sự sinh trưởng, phát triển của các dòng cẩm
chướng đột biến trong điều kiện in vitro. Các kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp
những dữ liệu cơ bản làm cơ sở để đánh giá khả năng chống chịu bệnh của các
dòng cẩm chướng nghiên cứu.
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp thêm một phương thức hiệu quả để sàng lọc nguồn nguyên liệu
có khả năng chống chịu nấm bệnh Fusarium oxysporum phục vụ công tác chọn
tạo giống cẩm chướng.


Cẩm chướng có bộ rễ chùm, có rất nhiều nhánh phát triển mạnh để hút
nước, dinh dưỡng. Chiều dài của rễ 15-20 cm, phân bố tập trung ở tầng đất
mặt 20 cm, một số ít có khả năng ăn sâu tới 40 – 45 cm. Ở trạng thái bình
thường rễ và tán cây tỷ lệ tương đương. Nếu đất quá nhiều phân, nhiều nước
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

5

rễ sẽ sinh trưởng không tốt. Nhiệt độ đất cao cũng ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng, phát triển của rễ.
* Thân cẩm chướng
Thân thảo, thân thẳng đứng, phân nhánh nhiều, chiều cao cây khoảng 30 –
100 cm (tùy theo giống) và nửa hóa gỗ. Thân rất dễ gẫy ở đốt. Các đốt cẩm
chướng thường gẫy khúc. Thân thường có màu xanh nhạt, bao phủ một lớp
phấn trắng xung quanh, có tác dụng chống thoát hơi nước và bảo vệ cây khỏi
sâu bệnh.
* Lá cẩm chướng
Lá kép mọc từ đốt thân, lá mọc đối. Phiến lá dày hình lưỡi mác, mép lá trơn.
Mặt lá nhẵn không có độ bóng. Trên mặt lá có phủ một lớp phấn trắng, mỏng và
mịn có tác dụng làm giảm thoát hơi nước. Tốc độ sinh trưởng của lá phụ thuộc
vào thời tiết: mùa xuân, mùa hè thường 4-5 ngày, mùa thu, mùa đông từ 7-10
ngày ra một đôi lá.
* Hoa cẩm chướng
Có 2 dạng hoa chính: hoa chùm và hoa đơn. Cánh hoa có thể xếp làm 2 loại:
hoa đơn hoặc hoa kép. Hoa đơn mọc từng chiếc một, hoa chùm có nhiều hoa
trên một cành. Hoa nằm trên đầu cành và có nhiều màu sắc hoa khác nhau. Ngay
cả trên một hoa cũng có thể có 2-3 màu khác nhau. Hoa đẹp, có mùi thơm thoang
thoảng. Nụ hoa có đường kính 2-2,5 cm. Khi hoa nở hoàn toàn có đường kính 6-7
cm. Chiều cao bông hoa (tính từ đốt trên cùng của cành) khoảng 4 – 7,5 cm.
* Hạt cẩm chướng

tối thích 70%.
* Không khí
Cẩm chướng ưa khí hậu mát mẻ và thông thoáng. Trồng ở nơi có độ ẩm cao,
kém gió sẽ bị bệnh nhiều.
* ðất ñai
Khoảng 70% số rễ của cẩm chướng tập trung ở tầng đất mặt (0 – 20 cm), yêu
cầu đất đai có kết cấu tơi xốp. Độ pH thích hợp với cây cẩm chướng là từ 6,0-
6,5. Đối với đất liên tục trồng cẩm chướng thì phải khử trùng, tiêu độc hoặc luân
canh vì đất có nhiệu vi sinh vật gây bệnh (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc,
2003) [3].
2.1.5 Tình hình sản xuất hoa cẩm chướng trong và ngoài nước
2.1.5.1 Tình hình sản xuất hoa cẩm chướng trên thế giới
Trong số các loại hoa, cẩm chướng là loại hoa được trồng rộng rãi và là
một trong bốn loại hoa cắt cành chủ yếu trên thế giới (chiếm khoảng 17% tổng
sản lượng hoa cắt) (Tạp chí hoa cây cảnh) [6]. Cẩm chướng là loài hoa chủ lực
phối hợp với hoa lay ơn, hoa baby làm thành lãng hoa, bó hoa, vòng hoa, hoa cài
cùng các tác phẩm nghệ thuật trong ngày lễ, ngày tết, dịp sinh nhật…
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

7

Với sự đa dạng về màu sắc và hương thơm cẩm chướng mang đến cho
người ta cảm giác khoẻ khoắn, ấm áp và lành mạnh. Vì vậy các nước trồng
nhiều hoa đều có trồng loại hoa này.
Ở Kenya, diện tích trồng hoa cẩm chướng chủ yếu tập trung ở Ritf
Valley. Cây cẩm chướng cảnh được trồng ngoài đồng không bảo vệ ở độ cao
1800m và cẩm chướng thường được trồng trong nhà plastic ở độ cao 2700m so
với mực nước biển [18].
Italia là nước có diện tích trồng hoa cẩm chướng nhiều nhất, năm 1995
sản lượng hoa cắt của nước này đạt 2500 triệu cành.

khẩu từ các nước khác. Tỷ lệ nhập khẩu hoa cẩm chướng là 22,05% đứng thứ 2
trong tổng giá trị nhập khẩu hoa chỉ đứng sau hoa cúc (36,98%). Năm 1996,
lượng hoa cẩm chướng nhập khẩu của Philippin từ Hà Lan là 7691kg ( khoảng
620000 cành), từ Malaysia 5097kg (khoảng 260000 cành), từ Autralia 638kg
(khoảng 32000 cành) và New Zealand 80kg (khoảng 4000 cành) (Teresita L.
Rosario (1998).
Tại Srilanka, hoa cẩm chướng là cây hoa ôn đới quan trọng nhất. Hoa
cẩm chướng được trồng chủ yếu để xuất khẩu, còn các loại hoa khác chỉ tiêu thụ
được ở nội địa. Hai giống cẩm chướng châu Mỹ và cẩm chướng Địa Trung Hải
của Srilanka rất nổi tiếng trên thị trường thế giới. Một phần diện tích hoa cẩm
chướng khá lớn được trồng trong môi trường bảo vệ hoàn toàn.
2.1.5.2 Tình hình sản xuất hoa cẩm chướng tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hoa cẩm chướng được trồng rộng rãi ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà
Lạt, thành phố Hồ Chí Minh. Các vùng chuyên hoa như An Hải (Hải Phòng),
Tây Tựu- Từ Liêm, Phú Thượng – Tây Hồ (Hà Nội) trồng nhiều hoa cẩm
chướng. Trước đây, vào mùa hè, hoa cẩm chướng trên thị trường nước ta chủ
yếu phải nhập từ Côn Minh (Trung Quốc) và Hà Lan, vài năm gần đây, để đáp
ứng nhu cầu thị trường cẩm chướng đã được trồng ở Đà Lạt, Lào Cai, SaPa và
đang dần chiếm lĩnh thị trường trong nước [13].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

9

Hiện nay, ở nước ta đã tiến hành trồng được 3 loài Dianthus làm hoa cảnh
tại Đà Lạt là Dianthus barbatus L., D.sinensis L. và D.caryophyllus L.Cây hoa
cẩm chướng phát triển ở vùng có độ cao khác nhau tuy nhiên chất lượng hoa
khác nhau. Vì vậy, tùy thuộc nên phổ biến cho người trồng hoa biết thêm những
đặc điểm về các loài hay giống cẩm chướng này để trồng cho phù hợp [10].
Tại Đà Lạt, diện tích trồng cẩm chướng đạt 50ha chủ yếu trồng trong nhà
che plastic, hàng năm cung cấp từ 100-120 triệu cành cẩm chướng cung cấp cho

oxysporum gồm 7 chỉ tiêu như sau:
1. Hình thành bào tử lớn
2. Hình thành bào tử nhỏ
3. Hình dạng và kiểu bào tử nhỏ
4. Kích thước của bào tử nhỏ
5. Sự có mặt hay không có mặt của bào tử hậu trên môi trường PGA
6. Đường kính tản nấm trên môi trường PGA.
7. Hình thái tản nấm.
Nấm Fusarium oxysporum ban đầu gồm hơn 100 loài được mô tả dựa trên
kiểm nghiệm về cấu trúc của ổ sinh bào tử lớn là thực vật. Theo phân loại của
Weollenneper Reikinh (1935) số loài giảm xuống còn 65 loài, 55 giống và 22
dạng. Bằng phương pháp cấy truyền đơn bào tử dùng trong hệ thống phân loại
của Synder và Hanser đã bổ sung sự giống và khác nhau giữa các loài Fusarium
oxysporum, Synder và Hanser đã đề nghị giảm số lượng xuống còn 9 loài.
2.2.2 ðặc ñiểm chung
Khi sinh trưởng trên môi trường PDA, môi trường giàu dinh dưỡng cho sợi nấm
phát triển, nấm Fusarium oxysporum thường mọc thành tản thưa hoặc dày, với màu
sắc pha giữa màu trắng và màu tím violet, có khi có màu xanh hoặc xanh đen, Nhìn
chung, các sợi nấm trên không đầu tiên xuất hiện màu trắng, và sau đó có thể thay
đổi nhiều màu sắc khác nhau trong một số điều kiện chúng có thể có màu vàng, màu
kem hoặc màu da cam (Smith et al, 1988). Còn khi sinh trưởng trên môi trường
CLA, môi trường nghèo dinh dưỡng, chúng ta sẽ quan sát thấy các dạng bào tử của
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

11

nấm Fusarium oxysporum. Nấm Fusarium oxysporum có 3 kiểu bào tử vô tính bao
gồm: Bào tử lớn (Macroconidia), bào tử nhỏ (Microconidia), bào tử hậu (bào tử vách
dày - Chlamydospores) (Burges và cộng sự, 1999; John và Breet, 2006), (Agrios,
1988). Fusarium oxysporum sinh trưởng rất nhanh 4.5 cm trong vòng 4 ngày [38].

µ
m.
Nấm Fusarium oxysporum không có diệp lục, dinh dưỡng dị dưỡng nên sử
dụng các chất hữu cơ sẵn có chủ yếu là các nguồn cacbon, nguồn đạm, nguồn
chất khoáng và vitamin của cây cẩm chướng thông qua tác động của hệ thống
các enzyme nội, ngoại bào, các độc tố để hoàn thành chu kì phát triển của chúng
trên cây trồng. Chu kì phát triển của nấm Fusasium oxysporum cũng giống như
chu kì phát triển của nấm bệnh nói chung là vòng đời bao gồm các giai đoạn
sinh trưởng, phát dục, sinh sản tuần tự kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định
để trở lại giai đoạn ban đầu. Giai đoạn ban đầu của quá trình sinh sản là bào tử.
Sau khi bào tử nảy mầm xâm nhập tiến tới giai đoạn sinh trưởng thể dinh dưỡng
(thể sợi) kí sinh phát ra triệu chứng bệnh rồi đến giai đoạn phát dục hình thành
cơ quan sinh sản và tạo ra các bào tử thế hệ mới vô tính tái xâm nhiễm và hữu
tính (Lê Lương Tề, 2007) [11].
2.2.3 Môi trường sống
F. oxysporum có thể được tìm thấy gần như ở khắp mọi nơi. Bản đồ phân bố
cho thấy rằng loại nấm này đã xâm chiếm miền Bắc và Nam Mỹ, Châu Âu,
Châu Phi, Châu Á, và Châu Đại Dương [34].
Đây là một loại nấm phát triển ở mọi môi trường sống, nhiệt độ đất tối
ưu cho nhiễm trùng gốc là 30°C hoặc cao hơn, nhưng lây nhiễm qua hạt
giống có thể xảy ra ở nhiệt độ thấp như 14
0
C [39], mặc dù nó phát triển tối
ưu ở 28°C [35].
2.2.4 Cách thức xâm nhập và enzyme ngoại bào của nấm Fusarium nói
chung và Fusarium oxysporum nói riêng
Giống như các nấm bệnh hại cây trồng khác, nấm Fusarium do không có
diệp lục nên chúng sử dụng các chất hữu cơ sẵn có chủ yếu là các nguồn cacbon,
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………



14

Năm 2002, Ricardo Andrade Barata và cộng sự đã chỉ ra rằng loài Fusarium
oxysporum var.lini sản sinh ra một loại protease kiềm có khả năng thủy phân
Nα-benzoyl-DL arginine nitroanilide. Sau quá trình tinh chế, làm sạch đã xác
định trọng lượng phân tử của protein này là 41 kDa, cũng như các điều kiện tốt nhất
cho enzyme hoạt động là: nhiệt độ 45
0
, pH 8 [28].
Năm 2006, Janaina Nicanuzia và cộng sự đã xác định được những điều
kiện cho sự hoạt động của enzyme lipase (enzyme được ứng dụng trong sản
xuất chất tẩy) do loài F.oxysporum sản sinh ra: pH kiềm, nhiệt độ 50
0
C,
enzyme bị ức chế hoạt động khi có mặt của SDS… Điều này có ý nghĩa rất
lớn vì việc sử dụng enzyme mà vi sinh vật tạo ra trong ngành công nghiệp sản
xuất chất tẩy rửa không những mang lại hiệu quả kinh tế mà còn không gây
hại cho môi trường [21].
2.3. Tình hình bệnh hại do nấm Fusarium oxysporum gây ra
2.3.1 Tình hình gây bệnh của nấm Fusarium oxysporum ñối với các cây
trồng nói chung
F. oxysporum đóng vai trò của một sát thủ thầm lặng - các chủng gây bệnh
của loại nấm này có thể không hoạt động trong 30 năm trước khi trở lại độc tính
và lây nhiễm. F. oxysporum khét tiếng là gây ra một tình trạng gọi là bệnh héo
Fusarium, đó là gây tử vong một cách nhanh chóng cho các cây trồng - bởi thời
gian một cây trồng cho thấy bất kỳ dấu hiệu bên ngoài của nhiễm trùng, nó đã
quá muộn, và cây trồng sẽ chết. Ngoài ra, F. oxysporum không phân biệt đối xử,
nó có thể gây bệnh gần như cho mọi cây trồng nông nghiệp quan trọng [33].
Ngoài ra, bào tử F. oxysporum có thể tồn tại trong không khí trong thời gian
Hình 2.2 Bệnh do các loại nấm Fusarium gây ra
a: héo trầm trọng gây chết cây, b: thân cây héo với nhiều khối bào tử sinh màu trắng
trên bề mặt. Héo Fusarium f.sp pisi gây héo đậu Hà Lan, c: các triệu chứng héo trên đồng
ruộng (chú ý các đám cây chết), d: hóa nâu mạch dẫn ở cành bị héo, e: Fusarium f.sp pisi gây
héo đậu Hà Lan, f: quả thể của F. gramjnearum trên thân ngô; Héo Fusarium trên chuối do
Fusarium oxysporum f.sp. cubenseg: các triệu chứng héo trầm trọng, h: các triệu chứng nứt
thân, k: khối bào tử phân sinh Fusarium oxysporum f.sp.zingiberi trên củ gừng [1].
A b

c
D
g
h k
e

f

Trích đoạn Phương pháp lây nhiễm nhân tạo Phương pháp ựánh giá tắnh chống chịu nấm bệnh Nuôi cấy và tách chiết dịch nấm Fusarium oxysporum gây bệnh trên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status