i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong bản luận văn này là kết quả nghiên
cứu thực sự của cá nhân dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn tiến sĩ
Nguyễn Hữu Dũng.
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng
được công bố dưới hình thức nào trước khi trình bảo vệ.
Tác giả Võ Thị Dung
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
ii
LỜI CÁM ƠN
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
o
m
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. VÀI NÉT VỀ LOÀI CÁ NGHIÊN CỨU (SERRANIDAE) 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2. Vài nét về tình hình nuôi cá mú ở Việt Nam 3
1.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh xuất huyết lở loét trên cá mú 3
1.2.1. Trên thế giới 3
1.2.2. Ở Việt Nam 4
1.3. Hiện trạng về các biện pháp phòng trị bệnh lở loét cho cá mú 5
1.4. Đáp ứng miễn dịch tự nhiên ở cá xương 7
1.5. Tình hình sử dụng chất kích ứng miễn dịch trong nuôi trồng thủy sản 9
1.5.1. Trên thế giới 9
1.5.2. Ở Việt Nam 13
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1. Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu 14
2.1.1. Địa điểm thực hiện 14
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 14
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu 14
2.1.3.1. Cá mú nghiên cứu 14
2.1.3.2. Chế phẩm sử dụng nghiên cứu 14
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
3.1.1. Kết quả theo dõi tỷ lệ và mức độ biểu hiện bệnh sau khi thử thách ( đợt 1) 22
3.1.2. Kết quả theo dõi tỷ lệ và mức độ biểu hiện bệnh sau khi thử thách (đợt 2) 27
3.1.3. Kết quả phân lập trở lại trên các mẫu cá bị bệnh sau khi công cường độc 30
3.2. Tỷ lệ sinh tồn tương đối RPS và LD
50
32
3.2.1. Tỷ lệ sinh tồn tương đối RPS và LD
50
32
3.3. Biến đổi công thức bạch cầu 34
3.3.1. Sự biến đổi công thức bạch cầu đợt 1 34
3.3.1. Sự biến đổi công thức bạch cầu đợt 2 36
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 41
4.1. Kết luận 41
4.2. Kiến nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
t
r
a
c
k
.
c
o
m
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Chế phẩm Vime glucan for fish 14
Hình 2.2: Chế phẩm Glumin 1
Hình 2.3: Chế phẩm Betami 1
Hình 3.1: Bể nuôi thuần và bể thí nghiệm 1
Hình 3.2: Tỷ lệ cá bị bệnh (A) và tỷ lệ chết tích lũy (B) từ ngày thứ nhất đến ngày thứ
14 sau khi tiêm vi khuẩn V. alginolyticus ở mật độ 10
4
cfu/ml (đợt 1) 1
Hình 3.3: Cá mú bị bệnh ở thể nhẹ (A) và cá bị bệnh ở thể nặng (B) sau khi cảm nhiễm
vi khuẩn V. alginolyticus 24
Hình 3.4: Tỷ lệ cá bị bệnh (A) và tỷ lệ chết tích lũy (B) từ ngày thứ nhất đến ngày thứ
14 sau khi tiêm vi khuẩn V. alginolyticus ở mật độ 10
5
cfu/ml (đợt 1) 24
Hình 3.5: Tỷ lệ cá bị bệnh (A) và tỷ lệ chết tích lũy (B) từ ngày thứ nhất đến ngày thứ
14 sau khi tiêm vi khuẩn V. alginolyticus ở mật độ 10
6
cfu/ml (đợt 1) 25
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
m
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khánh Hoà là tỉnh có nghề nuôi cá biển khá phát triển ở Việt Nam; cá mú là đối
tượng có giá trị kinh tế cao đang được nuôi ở nhiều nơi trong địa bàn tỉnh như Cam
Ranh, Cửa Bé, Vũng Ngán, Vạn Ninh,… với các hình thức nuôi lồng trên biển và nuôi
trong ao đất.
Gần đây, nghề nuôi cá mú gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh gây ra. Cá mú nuôi
bị bệnh có thể chết rải rác đến hàng loạt, gây thiệt hại không nhỏ cho người nuôi [3,
15]. Trong đó, bệnh xuất huyết lở loét là bệnh rất thường gặp trên cá mú nuôi tại
Khánh Hòa [3,15]. Tác nhân gây bệnh được xác định là do vi khuẩn thuộc nhóm
Vibrio như Vibrio parahaemolyticus, V. alginolyticus [15, 70], V. anguillarum [3].
Bệnh xẩy ra ở hầu hết các giai đoạn của cá; vì thế, tìm ra phương pháp phòng bệnh
hợp lý có thể hạn chế được những tổn thất do dịch bệnh gây ra là hết sức cần thiết.
Thực tế hiện nay, trong nuôi trồng thủy sản, người dân thường sử dụng hóa chất
hoặc kháng sinh để phòng - trị bệnh; và đã có rất nhiều loại thuốc và kháng sinh được
người nuôi sử dụng, song việc sử dụng kháng sinh tràn lan có thể gây hiện tượng lờn
thuốc mà không mang lại hiệu quả. Mặt khác, dư lượng kháng sinh trong sản phẩm có
thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và làm giảm giá trị sản phẩm.
Để giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm,
nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong quá trình sản xuất, người ta đã sử dụng
nhiều biện pháp khác nhau để phòng bệnh như sử dụng vaccine, chế phẩm sinh học hoặc
chất kích ứng miễn dịch (Immunostimulants) nhằm làm tăng khả năng miễn dịch cho cá.
Trên thế giới, người ta đã nghiên cứu sử dụng thành công một số sản phẩm như Beta
glucan, Glucan, Vitamin C [106], Chitin, Chitosan, Levamisole [114], … để tăng khả
năng miễn dịch cho cá kháng lại nhiều loại bệnh do vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng gây ra.
Tuy nhiên, ở nước ta vẫn chưa có một nghiên cứu nào về mức độ ảnh hưởng của những
chế phẩm này đối với việc kích ứng miễn dịch trên cá mú, nhằm chống lại bệnh xuất
huyết, lở loét.
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
sau khi cảm nhiễm vi khuẩn gây bệnh lở loét.
3. Ảnh hưởng của các chất kích ứng miễn dịch đến sự biến đổi công thức bạch cầu
máu cá mú E. coioides.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Ý nghĩa khoa học: Bổ sung những tư liệu về miễn dịch và khả năng phòng bệnh
của một số sản phẩm kích ứng miễn dịch trên cá từ dó có cơ sở phòng bệnh trên cá mú
nuôi.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho việc phòng bệnh
trên cá mú, nhằm mang lại lợi ích kinh tế, bảo vệ môi trường, góp phần tạo ra một nghề
nuôi bền vững.
Do kiến thức, kinh nghiệm của bản thân về vấn đề nghiên cứu còn nhiều hạn
chế, bản luận văn sẽ không thể trách khỏi sai sót. Mong quý thầy cô và bạn đọc góp ý để
Luận văn được hoàn chỉnh hơn, tôi xin chân thành cám ơn!
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
mạnh mẽ, sản lượng của nghề này đã tăng gấp đôi chỉ trong vòng một thập kỷ qua
[45]. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nuôi trồng thủy sản là sự bùng phát của
dịch bệnh, và thiệt hại do dịch bệnh gây ra có thể ước tính đến hàng triệu USD [28].
Năm 1993, ở Singapore chỉ với 2 trại cá mú nuôi thâm canh bị bệnh đã gây thiệt hại
tổng cộng 360.500 đô la Singapore [37]; Theo Somga và cs (2001), ở Philippines có
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
4
tới 88,3% hộ nuôi cá mú bị tổn thất do dịch bệnh gây ra [97]. Ở Thái Lan cũng có
khoảng 82,0% hộ nuôi cá hồng, cá mú bị thua lỗ do dịch bệnh [85]. Kết quả nghiên
cứu của Chong (2001), con số này ở Hồng Kông là 95,0%, trong đó tác hại do bệnh lở
loét chiếm 68,0% và gây tỷ lệ tử vong đến 72,0% số cá nhiễm [36]. Theo Bodad-
Reantaso và cs (2001), dịch bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra ở Malaysia làm thiệt hại
khoảng 20 triệu Ringít [28].
Xuất huyết lở loét là bệnh thường bắt gặp trên cá mú và tác nhân được xác định
là vi khuẩn Vibrio. Vi khuẩn Vibrio nhiễm vào máu và làm cho cá bị xuất huyết. Bệnh
thường kết hợp với các bệnh khác như bệnh mụn đỏ do vi khuẩn Streptococcus sp. gây
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
a
c
k
.
c
o
m
5
và có khả năng gây chết trên 50,0% cá nuôi, Ở hình thức nuôi lồng tỷ lệ mắc bệnh này
thường cao hơn nuôi ao do mật độ cao, cá dễ bị trầy xước do cọ sát vào thành lồng hoặc
do thao tác san lồng, chất lượng môi trường nước xấu [15]; Theo Đỗ thị Hòa và cs
(2008), tần số bắt gặp bệnh xuất huyết lở loét Vibriosis ở Khánh Hòa là 40/65 hộ [3].
Bệnh lở loét trên cá mú ở Khánh Hòa thường có những triệu chứng cá bị tróc
vẩy, xuất huyết vây ngực, vây bụng, vây hậu môn, vây lưng thường bị tưa rách, vây
đuôi mòn cụt, hậu môn sưng đỏ, mắt, miệng bị xuất huyết, lở loét. Những con bệnh
nặng có nhiều chỗ bị xuất huyết hoặc lở loét, thậm chí lòi phần cơ ra ngoài. Triệu
chứng ban đầu là chuyển sang màu đậm hơn, bơi lờ đờ, bỏ ăn và chết rải rác [3, 15].
Theo Nguyễn Thị Thanh Thùy (2005), tác nhân gây bệnh xuất huyết lở loét trên
cá mú nuôi tại Khánh Hòa là hai loài vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus và V.
alginolyticus [15]. Tuy nhiên, Đỗ Thị Hòa và cs (2008) lại cho biết V. angguillarum là
tác nhân gây bệnh xuất huyết lở loét trong điều kiện cảm nhiễm nhân tạo (60,0 -
80,0%) với liều tiêm 0,3ml huyền dịch có mật độ vi khuẩn 4.10
6
– 4.10
7
tb/ml
sau 3
ngày cảm nhiễm [3].
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
c
o
m
6
nồng độ 15-20g/m
3
nước từ 10-20 phút. Các loại thuốc sát trùng bôi vào vết thương
như cồn iốt, thuốc tím, thuốc mỡ có chứa Tetracyclin cũng thường được sử dụng [18] .
Đối với cá có kích thước lớn, cá bỏ ăn thì việc sử dụng phương pháp cho cá ăn
kháng sinh không có hiệu quả, đặc biệt là cá bố mẹ, do vậy cần áp dụng phương pháp
tiêm một số loại thuốc kháng sinh. Các loại thuốc có thể sử dụng điều trị bệnh lở loét
do vi khuẩn bằng phương pháp tiêm vào cơ gồm: Sulffamethoxazole 250 mg/kg cá,
Sulfadiazin 250 mg/kg cá, Sulfazin, Sulfaquinoxalin 150mg/kg cá, Colistin sulfate,
Sulfomanide 150 mg/kg cá. Sử dụng phương pháp tiêm tốn công lao động và chi phí
cao, chỉ áp dụng cho việc trị bệnh vi khuẩn trên đàn cá mú bố mẹ [18].
Theo kết quả điều tra của Đỗ Thị Hòa và cs (2008), khi cá biển (cá mú, cá
chẽm…) bị bệnh Vibriosis thì có tới 53,8% (trên tổng số 65 hộ) cơ sở nuôi dùng kháng
sinh để tắm cho cá bị bệnh; 23,1% dùng Xanh Malachite để tắm (mặc dù Xanh
Malachite đã bị cấm sử dụng ở nước ta (Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS của Bộ
Trưởng Bộ Thủy sản) và được kiểm tra nghiêm ngặt về dư lượng có trong thực phẩm ở
nhiều nước trên thế giới), và 23,1% người dân không sử dụng biện pháp trị bệnh nào.
Và trong số các biện pháp trị bệnh đó có 42,9% số hộ cho là có hiệu quả và 57,1% là
không có hiệu quả [3]. Nguyễn Thị Thanh Thùy (2005) thấy rằng người dân thường sử
dụng một số biện pháp trị bệnh bằng cách tắm nước ngọt hoặc sử dụng một số hóa chất
như CuSO
4
, Xanh Malachite (10 – 15ppm trong 15 phút). Tuy nhiên, đa số hộ dân
(90,0% số hộ) đều cho rằng đều không có hiệu quả [15].
Việc trị bệnh lở loét do vi khuẩn trên cá mú có thể có hiệu quả khi các vết loét
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
1.4. Đáp ứng miễn dịch tự nhiên ở cá xương
Cũng như các sinh vật khác, trong môi trường sống của cá luôn tồn tại các tác
nhân gây bệnh. Do đó, cá phải có những phản ứng tự nhiên bảo vệ cơ thể trước các
mối đe dọa đó. Đó chính là việc sử dụng các hàng rào của cơ thể nhằm ngăn cản các
tác nhân gây bệnh như lớp nhớt bao bọc cơ thể, các yếu tố miễn dịch dịch thể không
đặc hiệu có sẵn trong cơ thể (máu và hệ bạch huyết) và đặc biệt là vai trò của các tế
bào có khả năng làm nhiệm vụ thực bào. Tất cả hợp thành hệ miễn dịch gọi là hệ miễn
dịch không đặc hiệu.
Lớp nhớt bao bọc cơ thể của cá có chứa bổ thể, lysozym, proteaza (chất có thể
làm tan vi khuẩn gram âm [58, 80]. Tuy nhiên, kháng nguyên có thể xâm nhập vào cơ
thể qua vùng bề mặt biểu bì bị tổn thương, qua mang, cơ quan đường bên và ống tiêu
hóa [72]. Kháng nguyên lọt vào cơ thể có khả năng bị chặn lại bởi nhiều yếu tố plasma
bảo vệ, trong đó có lysozym, bổ thể, transferin, lectin, trypsin [30].
Khi bị kháng nguyên xâm nhập, cơ thể sẽ sản sinh ra các rào cản khác của hệ
thống miễn dịch tự nhiên để tự bảo vệ. Ban đầu một số tế bào miễn dịch được huy
động đến nơi có tác nhân xâm nhập, chức năng này do thành phần bạch cầu của máu
đảm nhận. Khi có vi trùng hoặc vật lạ xâm nhập, lập tức bạch cầu xuất hiện và tiêu diệt
mầm bệnh bằng cách thực bào [111]. Các tế bào tham gia thực bào chủ yếu là các đại
thực bào (marcrophase), tế bào đơn nhân (monocyte) [111] và bạch cầu đa nhân trung
tính (neutrophil) [63].
Bạch cầu đơn nhân là những bạch cầu tế bào có hình tròn hoặc gần tròn, đường
kính khoảng 10 – 20 µm, tế bào có màu nâu tím; nhân tế bào có dạng dẹt hình hạt đậu
hoặc hình móng ngựa và có màu tím hồng [93].
Bạch cầu đa nhân trung tính là những bạch cầu có hình tròn, đường kính khoảng
10 – 14 µm, có màu xanh nhạt hoặc màu hồng; nhân tế bào có dạng phân thùy (nhân
thường phân thành ≥ 2 thùy) và thường có màu hồng tím [93]
Khi cơ thể bị nhiễm tác nhân gây bệnh gây hiện tượng viêm. Phản ứng đầu tiên là
sự gia tăng số lượng bạch cầu trung tính từ máu chuyển đến. Bạch cầu trung tính bắt
đầu tập trung khoảng 1 giờ sau khi tác nhân gây viêm xâm nhập và đạt số lượng cực
Click to buy NOW!
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
các loài động vật có xương sống khác [111]. Chúng chủ yếu được tìm thấy dưới dạng
các tế bào thuộc mạng lưới nội bì của thận, lách và ở một số loài cá được tìm thấy ở
tâm nhĩ [89]. Các đại thực bào có khả năng thực bào lớn hơn nhiều so với các bạch cầu
hạt, mặc dù số lượng bạch cầu hạt nhiều hơn đại thực bào [99].
Bạch cầu đơn nhân có mặt ở thận và phân bố một số lượng nhỏ trong máu. Các tế
bào này được xem là tiền thân của đại thực bào ở các mô, chúng có thể di chuyển từ
máu vào các ổ viêm, biệt hóa thành đại thực bào tại những nơi và những lúc cần thiết.
Bạch cầu đơn nhân và đại thực bào có thể bắt và tiêu hóa nhiều dạng mảnh nhỏ, kể cả
các hạt carbon, vi khuẩn và nấm [5, 11]
Thành tựu của việc phân lập và nuôi cấy trong ống nghiệm các đại thực bào của
cá đã cho phép nghiên cứu kỹ các chức năng của chúng trong đáp ứng miễn dịch của
cá. Các chức năng này bao gồm khả năng thực bào, hóa ứng động, tiêu diệt tế bào vi
khuẩn nhờ vào phản ứng oxy hóa-khử và tổng hợp nitric oxide (NO), khả năng sản
xuất interleukin-1 (IL-1), chức năng xử lý và trình diện kháng nguyên (Secombes,
1996). Sự bùng nỗ các phản ứng oxy hóa – khử hình thành trong quá trình thực bào đã
tạo nên các sản phẩm có hoạt tính oxy hóa cao và do đó có tính diệt khuẩn mạnh như
H
2
O
2
, ion O
2
-
v nguyên tử oxy tự do.
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
cho các đối tượng nuôi, khi chưa có vaccine thích hợp. Chất kích thích hệ miễn dịch có
tác dụng tăng cường hoạt động hệ miễn dịch tự nhiên khi được sử dụng một mình hoặc
có thế kích thích đồng thời hệ miễn dịch tự nhiên và hệ miễn dịch đặc hiệu khi sử dụng
chất kích thích miễn dịch kết hợp với vắc xin hoặc khi cá bị viêm nhiễm [88]. Trong
số các hợp chất có khả năng tăng miễn dịch, có nhiều nghiên cứu đã tập trung vào các
chất như Glucan, MacroGard, Polypeptide, Levamisole, Chitin, Vitamin C, Lentinan,
Schizophyllan, Scleroglucan và Zymosan [114]; và một số chất bổ dưỡng đặc biệt
khác như Acid béo w - 3, Phospholipids, sắc tố Carotenoid và Nucleotids. Tuy nhiên
chỉ một số chất có thể ứng dụng tăng miễn dịch cho đối tượng thủy sản [76, 95]. Trong
đó Beta 1,3-glucans là chất được tập trung nghiên cứu nhiều nhất trong phòng bệnh
trên cá [22]. Các chất này đã được chứng minh có thể tăng cường khả năng kháng
bệnh của một số loài cá như cá chép Cyprinus carpio [114], cá hồi Đại Tây Dương
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
10
Salmo salar [83], cá Cam Seriola quinqueradia [64], cá hồi vân Oncorhynchus mykiss
[48], cá hồi suối Salvelinus fontinalis [23] và cá da trơn Châu Phi Clarias gariepinus
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
11
Ở cá, Glucans có chức năng như chất kích thích miễn dịch mạnh [83]. Glucan có
thể kích hoạt các đại thực bào, tăng khả năng bảo vệ để diệt mầm bệnh [53]; Glucans
có thể làm tăng khả năng miễn dịch ở một số loài cá, chống lại một loạt các tác nhân
gây bệnh do vi khuẩn bao gồm cả Aeromonas salmonicida [71], Vibrio salmonicida
[76], hoặc Pasteurella piscicida [73].
Trong một nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Beta – glucan trên loài cá cá bơn
Turbot Scophthalmus maximus, Ogier de Aulnyl (1996) thấy rằng tỷ lệ chết ở thí
nghiệm cá bơn sau khi được cho ăn Beta glucan sau năm tuần và thách thức vi khuẩn
V. anguillarum không cao hơn so với thí nghiệm cho ăn Beta – glucan kết hợp với
vaccine chống vibriosis (VIB - Riffa Bain ND), tuy nhiên số lượng tế bào bạch cầu lại
tăng cao ở thí nghiệm chỉ sử dụng Beta – glucan [67].
Một số nghiên cứu cho thấy tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống và sức kháng bệnh
đều được cải thiện thông qua hoạt lực được tăng cường của các tế bào bạch cầu của cá
hồi, cá trê phi và tôm he Nhật Bản, tôm sú sau khi sử dụng các chất kích thích miễn
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
o
m
12
68,9%, 57,8%, 37,5%. Qua đó nhóm tác giả kết luận rằng, sự bổ sung Chitosan vào thức
đã làm tăng những đáp ứng miễn dịch và tỉ lệ sống của cá chép nuôi trong ao [20].
Khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Glucan lên sức đề kháng của cá tráp
(Sparus aurata) đối với vi khuẩn Photobacterium damselae gây bệnh xuất huyết,
Norma Couso và cs. (2003), thấy rằng cho cá ăn thức ăn có trộn thêm 5g, 10g
Glucan/kg thức ăn làm giảm tỷ lệ chết một cách đáng kể so với nghiệm thức đối
chứng. Những kết quả này cho thấy Glucans có thể được sử dụng trong chế độ ăn uống
để ngăn ngừa hoặc giảm tỷ lệ chết ở cá tráp do vi khuẩn P. damselae gây ra [72].
Men bánh mì (Saccharomyces cerevisiae) là một sản phẩm tự nhiên có chứa các
hợp chất kích ứng miễn dịch khác nhau như β – glucan, Axit Nucleic,
Oligosaccharides, Chitin và đã được chứng minh có thể tăng cường đáp ứng miễn dịch
tăng khả năng kháng bệnh do vi khuẩn gây ra trên một số loài cá như cá hồi, cá tráp, cá
da trơn [101, 75, 34]
Kitao và Yoshida (1986) thông báo rằng khi tiêm FK-156 (Tetrapeptid tổng hợp
từ Lactoyl-tetrapeptide được chiết xuất từ nấm Streptomyces olivaceogrieus) cho cá
hồi vân 1 ngày trước khi gây cảm nhiễm vi khuẩn Aeromonas salmonicida lên cá thì
sức đề kháng đối với vi khuẩn của cá thí nghiệm tăng lên đáng kể. Hiệu quả bảo vệ
này vẫn được duy trì đến ngày thứ 7 sau khi tiêm, tuy có thấp hơn so với lần gây
nhiễm trước đó. Cơ chế đáp ứng miễn dịch thể hiện ở sự gia tăng hoạt tính thực bào và
cũng có hiệu quả cả ở nhóm cá thí nghiệm bị gây ức chế miễn dịch [56].
Theo Welker (2008) [106], bổ sung chất kích ứng miễn dịch vào khẩu phần ăn
của cá rô phi có thể tăng khả năng kháng bệnh.
Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu sử dụng chất kích thích miễn dịch trên
cá mú. Theo Cheng và cs (2007), khi tiêm 20 mg/kg Sodium alginate và 30mg/kg iota-
carrageenan có tác dụng tăng khả năng kháng bệnh nhiễm trùng máu do vi khuẩn
V.alginolyticus trên cá mú E. coioides và kích thích hệ miễn dịch không đặc hiệu
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
như một liệu pháp phòng bệnh trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam . Mới chỉ có một
vài nghiên cứu sử dụng Beta Glucan, Vitamin C trong nghiên cứu tăng miễn dịch cho
đối tượng thủy sản.
Theo Nguyễn Thị Thanh Thủy và cs (2007), có thể cải thiện sức đề
kháng với vi khuẩn Vibrio alginolyticus của cá Khoang cổ đen đuôi vàng Amphibrion
clarkii (Bennett, 1830) bằng cách tắm Beta glucan và cho ăn ấu trùng Artemia được
làm giàu bằng dung dịch này [16]. Trong một kết quả nghiên cứu khác, Nguyễn Thị
Thanh Thủy và cộng sự (2009) cho biết, tỷ lệ sống và sức đề kháng của của cá khoang
cổ đỏ (Amphiprion frenatus Brevoort, 1856) với vi khuẩn Vibrio alginolyticus trong
các nghiệm thức được tắm dung dịch Beta – 1,3/1,6 glucan cao hơn so với nghiệm
thức đối chứng. Tuy nhiên, nếu tắm ở nồng độ cao (184 và 920 mg/l), hiệu quả của
Beta – 1,3/1,6 Glucan không rõ ràng [17].
Từ những kết quả ban đầu như thế có thể thấy, nghiên cứu sử dụng các chất
kích ứng miễn dịch để phát huy tối đa khả năng miễn dịch tự nhiên của cá, nhằm
chống lại các bệnh thường gặp trong quá trình nuôi còn là một vấn đề hết sức mới mẻ
ở Việt Nam; nhưng lại là vấn đề có ý nghĩa lớn.
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
• Xác định mật độ tế bào vi khuẩn trên môi trường TSA
+ Hệ thống pha loãng: hệ số pha loãng bằng 10.
+ Lấy 0.1 ml nước mẫu ở 2 độ pha loãng cuối cùng, nuôi cấy trên môi trường
TSA 2% NaCl. Mỗi độ pha loãng nuôi cấy trên 3 hộp lồng.
+ Nuôi cấy ở nhiệt độ 30-32
o
C, sau đó đếm số khuẩn lạc mọc trên đĩa thạch sau
khi nuôi cấy khoảng 24 giờ, lấy giá trị trung bình của 3 đĩa hộp lồng có cùng độ pha
loãng.
+ Số lượng vi khuẩn tính theo công thức:
Trong đó: X là số lượng vi khuẩn/ml (cfu/ml)
X =
N
V
x k
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Hình 2.5. Sơ đồ phân lập vi khuẩn
* Nuôi cấy, phân lập vi khuẩn trên cá có dấu hiệu bệnh lý
- Thu cá có dấu hiệu bỏ ăn, bơi yếu, có hiện tượng tróc vẩy, lở loét tại vùng xung
quanh vị trí tiêm và bề mặt cơ thể. Tiến hành mổ cá, dùng que cấy hơ nóng dưới ngọn
Cá bệnh
Th
ử
các ph
ả
n
ứ
ng sinh hóa
Kết luận giống loài vi khuẩn
Phân loại vi khuẩn
Nhuộm gram
Nuôi c
ấ
y, phân l
ậ
p
Hình thái khuẩn lạc
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
• Rửa nước, để khô tự nhiên (có thể dùng giấy thấm khô nhưng không làm xước
mẫu).
• Dùng kính hiển vi có vật kính 100x để quan sát tiêu bản
Vi khuẩn có màu xanh tím – Gram dương (+).
Vi khuẩn có màu đỏ hồng – Gram âm (-).
- Định danh vi khuẩn bằng test API 20E
Thực hiện dãy các phản ứng sinh hóa bằng test kit API-20E (Analytical Profile
Index) để xác định đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn:
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
20
1. Oxidase
2. Catalase
3. ONPG
4. ADH (Arginine)
5. LDC (Lysine)
6. ODC (ornithine)
Xác định tỷ lệ chết tích lũy của cá mú sau khi thách thức vi khuẩn ở các nghiệm
thức thí nghiệm và nghiệm thức đối chứng theo công thức sau:
2.3.2. Phương pháp xác định chỉ số RPS và LD
50
+ Xác định tỷ lệ sinh tồn tương đối (RPS – relative per cent survival) theo
phương pháp Ellis (1988), Selvaraj và cs (2005)
+ Xác định LD
50
(50% Lethal dose)
Công thức tính LD
50
theo phương pháp của Reed và Muench (1938) [78]
RPS = 1 -
Tỷ lệ tử vong của nghiệm thức cá
thí nghi
ệ
m
Tỷ lệ tử vong của nghiệm thức cá
đ
T
ỷ
l
ệ
ch
ế
t tích l
ũy
=
X 100 (%)
Số cá tiêm cảm nhiễm
Tổng số cá chết đến thời gian xác định
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
21
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
23
Ở nghiệm thức thí nghiệm Betami cá bắt đầu có dấu hiệu bị bệnh lý sau khi
tiêm 18h với tỷ lệ cá bị bệnh là 25,0%, sang ngày thứ 2 biểu hiện bệnh lở loét là 50,0%
tuy nhiên ở mức độ nhẹ. Đến ngày thứ 5, vết loét tại vị trí tiêm rõ hơn. Sang ngày thứ
7 có 12,5% cá trong bể bị chết. 12,5% cá có dấu hiệu khỏi bênh sau khi tiêm 9 ngày và
đến ngày thứ 11 những con bị bệnh còn sống hoàn toàn lành vết loét.
Ở nghiệm thức thí nghiệm với Glumin, sau khi tiêm 24h cá bắt đầu có dấu hiệu
bệnh với tỷ lệ 12,5%, sang ngày thứ 2 có 37,5% cá có dấu hiệu bệnh lở loét nhưng ở
thể nhẹ. Cá ở nghiệm thức Glumin cũng tương tự nghiệm thức Betami, 12,5% cá dấu
hiệu lành vết loét sau 8 ngày thách thức và sang ngày thứ 11 sau khi tiêm những con
còn sống hoàn toàn khỏi bệnh. Tỷ lệ chết tích lũy sau 14 ngày thử thách là 12,5%.
Nghiệm thức thí nghiệm Vime glucan có thời gian xuất hiện bệnh chậm hơn,
25,0% cá trong nghiệm thức bắt đầu có dấu hiệu bị bệnh sau khi tiêm 30h và mức độ
bệnh ở thể nhẹ. Lúc đầu cá bị sưng nhẹ tại vị trí tiêm, tuy nhiên sang ngày thứ 3 hết
sưng, chỗ vết tiêm bị bong vảy, lở nhẹ. Đến ngày thứ 8 toàn bộ cá (25,0%) trong
nghiệm thức thí nghiệm hoàn toàn khỏi bệnh và không có cá chết.
Sau 14 ngày thử thách ở mật độ tiêm 10
4
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
c
o
m