Một số ý kiến hoàn thiện chính sách đền bù và giải phóng mặt bằng trên địa bàn Hà Nội những năm tới - Pdf 30


Chuyên đề thực tập K48 1 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
o0o
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP CHUYÊN NGÀNH
Đề tài:
MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỀN
BÙ VÀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ
NỘI NHỮNG NĂM TỚI
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. PHẠM VĂN VẬN
Sinh viên thực hiện : TRƯƠNG THỊ THANH HÒA
Líp : KINH TẾ PHÁT TRIỂN 48A
MSSV : CQ480991
Hà Nội, 2010
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 2 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
MỤC LỤC
Hà Nội, 2010 1
LỜI MỞ ĐẦU 7
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ-
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 9
I/ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỀN BÙ VÀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 9
1/ Khái niệm giải phóng và đền bù mặt bằng 9
1.1/ Khái niệm giải phóng mặt bằng 9
1.2/ Khái niệm đền bù mặt bằng 9
2/ Sự cần thiết phải đền bù- giải phóng mặt bằng 9
3/ Yêu cầu đối với công tác đền bù- giải phóng mặt bằng 11
II/ HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN TỚI ĐỀN BÙ- GIẢI

1.2.2.4/ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: 26
1.3/ Chính sách về việc giải phóng và đền bù mặt bằng của Nhà Nước 26
1.3.1/ Chính sách sử dụng lao động 27
1.3.2/ Chính sách hỗ trợ và tái định cư cho người dân bị mất đất. 28
II/ THỰC TRẠNG VIỆC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRấN ĐỊA BÀN HÀ
NỘI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 29
1/ Thực trạng về việc thực hiện chính sách giá đền bù của thành phố Hà
Nội trong những năm gần đây 29
1.1/ Dự án ô chợ dừa 32
1.1.1/ Thực trạng việc giải phóng mặt bằng dự án ô chợ dừa 32
1.1.1.1/ Quá trình thực hiện được diễn ra như sau 32
1.1.1.2/ Nguyên nhân gây ra dự án bị “treo” và những vướng mắc trong
vấn đề GPMB 33
1.2/ Dự án đường vành đai ba 36
1.2.1/ Thực trạng dự án đường vành đai ba 36
1.2.2/ Nguyên nhân gây ra xung đột lợi ích giữa cỏc bờn và vì sao dự án
bị “treo” 37
1.3/ Dự án tuyến đường vành đai 2,5 (đoạn khu vực Đền Lừ II- Gớap
Bỏt) 40
1.3.1/ Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng tại quận Hoàng Mai 40
1.3.2/ Các văn bản pháp lý liên quan tới dự án 40
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 4 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
1.3.3/ Quy mô của dự án: 40
1.1.4/ Nguyên nhân gây ra sự khiếu nại trong nhân dân 41
III/ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHÍNH SÁCH 43
IV/ KINH NGHIỆM GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC 45
5.2/ Thái Lan 46
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH GIẢI PHÓNG -
ĐỀN BÙ MẶT BẰNG 47

Bảng 1: Gớa đất cây trồng hàng năm - Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà
Nội-20
Bảng 2: Gớa đất cây trồng lâu năm - Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà
Nội-20
Bảng 3: Gớa đất ở khu vực nông thôn thuộc trục đường chính, khu du lịch -
Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội-22
Bảng 4: Gớa đất ở khu vực nông thôn thuộc cỏc vựng còn lại- Nguồn: Sở Tài
Nguyên Môi Trường TP Hà Nội-22
Bảng 5: Gớa đất ở đô thị - Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội-23
Bảng 6: Tỷ lệ lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo - Nguồn: Phòng thanh tra sở Tài
Nguyên- Môi Trường, thành phố Hà Nội- 27
Bảng 7: Bảng giá đất bồi thường xung quanh dự án- Ban quản lý dự án ễ Chợ
Dừa- Ban quản lý dự án- 31
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 7 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, cơ sở hạ tầng cũng ngày càng phát
triển và được coi trọng. Như chúng ta thấy, một đất nước được coi là phát triển
được đánh giá trên rất nhiều tiêu chí khác nhau, ví dụ: tốc độ phát triển và tăng
trưởng kinh tế, các chỉ số phát triển về con người và môi trường…cũng như sự phát
triển của cơ sở hạ tầng.
Ngày nay việc xây dựng cơ sở hạ tầng của Việt Nam nói chung và của Hà
Nội nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề bồi thường và giải phóng mặt
bằng, những khó khăn đó một phần xuất phát từ chính sách của Nhà Nước cũng như
của thành phố Hà Nội, một phần trách nhiệm thuộc về chủ dự án thi công công
trình, và một phần do ý thức- sự hiểu biết của người dân. Nhìn chung những khó
khăn trên đều xuất phát từ “lỗ hổng “ và sự chậm trễ trong việc thực thi chớnh sỏc
của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và ý thức của người dân. Sự chậm trễ
trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng là một trong những yếu tố gây ra sự yếu
kém trong xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, cũng như sự lãng phí về nguồn tài

mặt bằng.
Trong quá trình nghiên cứu, em còn rất nhiều thiếu xót về mặt nội dung cũng
như hình thức, em mong được sự góp ý của PGS.TS Phạm Văn Vận- khao Kế
Hoạch phát triển- trường ĐHKTQD để đề tài của em hoàn thiện hơn.
Trong quá trình làm bài, em xin chịu toàn bộ trách nhiệm về bài làm của
mình, nếu bài làm của em có dấu hiệu sao chép bài, em xin chịu mọi hình thức kỷ
luật của nhà trường.
Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của PGS.TS Phạm Văn Vận, tập thể
cán bộ phòng đất đai thuộc Sở Tài Nguyên Môi Trường thành phố Hà Nội,cũng như
sưk giúp đỡ của trung tâm giao dịch và phát triển quỹ đất thành phố Hà Nội.
Hà Nội, ngày 06/05/2010
Sinh viên
Trương Thị Thanh Hòa
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 9 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ-
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
I/ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỀN BÙ VÀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
1/ Khái niệm giải phóng và đền bù mặt bằng
1.1/ Khái niệm giải phóng mặt bằng
Có thể hiểu cụm từ “giải phóng mặt bằng” theo nhiều cách khác nhau, nhưng
dù hiểu như thế nào thì cụm từ “giải phóng mặt bằng” cũng được hiểu là việc di dời
con người, tài sản sang một nơi khác để sử dụng mặt bằng đó làm các mục đích
khác nhau đã được hoạch định từ trước, và được sự đồng thuận từ cấp chính quyền
địa phương tới người dân trong khu vực bị giải tỏa. Cũng có thể hiểu: giải phóng
mặt bằng là sự giải tỏa để lấy không gian thực hiện dự án
Còn hiểu theo từ điển Tiếng Việt, cụm từ “giải phóng mặt bằng” được hiểu
là sự di dời, dọn dân đi nơi khác để lấy mặt bằng xây dựng công trình.
Như vậy dù hiểu như thế nào thì cụm từ” giải phóng mặt bằng” được hiểu là

đầu chính là công tác đền bù- giải phóng mặt bằng. Có giải phóng được mặt bằng
thì mới có quỹ đất để thực thi các dự án, để quy hoạch được đô thị.
Vậy tại sao giải phóng mặt bằng lại cần thiết như vậy? Sau đây em xin nêu ra một
số lý do về tính cấp thiết của việc giải phóng mặt bằngvà đền bù.
Thứ nhất: Giải phóng mặt bằng là yêu cầu tất yếu đối với các dự án đầu
tư xây dựng.
Ngày nay theo đà phát triển chung của kinh tế- xã hội thỡ các dự án đầu tư
xây dựng cũng ngày càng phát triển, mà quỹ đất thì luôn luôn có giới hạn, đất đai
không thể tự sinh ra và cũng không thể tự thu hẹp được, như vậy không thể xây
dựng không có quy hoạch hay không có khuôn khổ. Mặt khác có giải phóng mặt
bằng thỡ cỏc dự án mới có không gian để thực hiện. Hơn thế nữa, nếu không giải
tỏa được mặt bằng thỡ cỏc dự án không có chỗ để đo đạc, vận chuyển nguyên vật
liệu và như vậy sẽ làm chậm quy trình và thời gian thực hiện dự án, một phần ảnh
hưởng tới kinh tế, đời sống của cụm dân cư sống trong khu vực đấy nói chung và
ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế khu vực đó nói riêng. Bởi vậy, việc giải phóng
mặt bằng là điều tất yếu quan trọng trong vấn đề thực thi dự án.
Thứ hai: Cụng tác giải phóng mặt bằng giúp quy hoạch đô thị, sử dụng
đất hiệu quả và hợp lý, tạo được khuõn viờn đô thị.
Quy hoạch là một trong những khâu quan trọng trong việc cải thiện và xây
mới khuõn viờn đô thị. Việc quy hoạch đô thị luôn luôn được thực hiện trước một
bước trong kế hoạch phát triển đo thị. Nhờ có quy hoạch, Nhà Nước nắm được quỹ
đất của từng loại đất, quỹ đất nào còn nhiều, quỹ đất nào thiếu để điều chỉnh cho
hợp lý với sự phát triển kinh tế. Nhờ có quy hoạch đúng hướng mà bộ mặt đô thị
được thay đổi, từ những khu công nghiệp cạnh khu dân dư, công viên cho trẻ nhỏ và
người già, khu vui chơi giả trí cho người dõn… đến các cây cầu đường phục vụ cho
sự lưu thông kinh tế…đều được sắp xếp một cách hợp lý phù hợp với từng vùng,
từng khu vực. Tuy nhiên để quy hoạch đô thị hay đầu tư dự án thỡ khõu đầu tiên
vẫn phải là giải phóng mặt bằng, có mặt bằng thỡ cỏc công trình phục vụ đời sống
nhân dân mới có chỗ để triển khai, khi các dự án đó được hoàn tất sẽ làm đô thị
được đẹp hơn và có quy củ hơn rất nhiều.

tới tiến độ thực thi dự án.
Như vậy, chính sách đền bù cũng là một trong những chính sách tác động
trực tiếp tới quá trình di dân và việc thực hiện dự án.
3/ Yêu cầu đối với công tác đền bù- giải phóng mặt bằng
Công tác giải phóng mặt bằng là một trong những quy trình tác động trực
tiếp tới tiến độ thực hiện dự án, như vậy nó cần phải đảm bảo yêu cầu sau:
Thứ nhất: Nhanh chóng, kịp thời và chính xác
Việc tiến hành giải phóng mặt bằng nhanh chóng, kịp thời chính xác sẽ giúp
tiết khiệm chi phí, đẩy nhanh quá trình thực hiện dự án, tác động trực tiếp tới sự
phát triển kinh tế - văn hóa của địa phương. Hơn thế nữa công tác giải tỏa mặt bằng
là một trong những công tác đầu tiên ảnh hưởng tới việc thực thi dự án.
Thứ hai: Hài hòa lợi ích giữa cỏc bờn
Trong công tác giải tỏa mặt bằng luôn luôn có sự xung đột lợi ích giữa chủ
dự án và người dân. Nếu chúng ta giải quyết nhanh chóng và hài hòa lợi ích giữa
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 12 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
cỏc bờn sẽ thúc đẩy nhanh công tác giải tỏa mặt bằng, giảm chi phí, tăng tiến độ
xây dựng dự án.
Thứ ba: Công bằng, công khai, dân chủ
Công bằng, công khai và dân chủ là một trong những yếu tố không thể thiếu
được trong các dự án công cộng hay các dự án phục vụ lợi ích của người dân. Công
khai trong các văn bản pháp luật, công khai trong các thong tin xây dựng dự án,
công bằng trong việc giải quyết đền bù đối với các hộ gia đình với nhau. Có như
vậy mới tạo được niềm tin trong nhân dân và khiến người dân tự giác thực hiện việc
di dời. Mặt khác thực hiện như vậy sẽ làm giảm sự tiêu cực của một số cán bộ thực
hiện công tác đền bù và giải phóng mặt bằng.
II/ HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN TỚI ĐỀN BÙ- GIẢI
PHÓNG MẶT BẰNG CỦA NHÀ NƯỚC VÀ CỦA THÀNH PHỐ HÀ
NỘI
1/ Hệ thống văn bản pháp luật liên quan tới giải phóng mặt bằng của Nhà

dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2004 của Chính
phủ.
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC: quy định rõ
phạm vi áp dụng và đụid tượng được bồi thường thiệt hại khi Nhà Nước thu hồi
đất. Về phạm vi áp dụng: chính sách bồi thường, GPMB theo quy định của Nghị
định số 22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC áp dụng chung cho mọi
trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất. Đây là một điểm khác so với Nghị định số
90/CP.
Nếu như các văn bản trước đây mới chỉ quan tâm đến nội dung bồi thường
cho đất bị thu hồi và các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, thì Nghị định số
22/1998/NĐ-CP đó cú cỏc quy định cụ thể về công tác tổ chức thực hiện, trách
nhiệm của UBND các cấp và Hội đồng bồi thường, GPMB cấp huyện trong việc chỉ
đạo thực hiện công tác bồi thường, GPMB và TĐC của các dự án như lập phương
án bồi thường, xác định mức bồi thường hoặc trợ cấp cho từng tổ chức hộ gia đình,
cá nhân và tổ chức thực hiện bồi thường theo phương án được phê duyệt. Các quy
định này đó giỳp cho các địa phương có sự chủ động trong việc lựa chọn phương án
bồi thường phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội,
Nhìn chung, trong thời kỳ 1993 – 2003, chính sách thu hồi đất và bồi thường,
GPMB đó cú những tiến bộ nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước ta.
Tuy nhiên, cơ chế bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trong thời kỳ này
vẫn còn có một số nhược điểm như sau:
Vấn đề xác định giá đất để tính bồi thường cho người bị thu hồi đất trong
giai đoạn này chưa theo một quy định hay chuẩn mực nhất quán, các quyết định về
bồi thường còn thiếu nhiều cơ sở, đặc biệt trong giai đoạn này người bị thu đất nông
nghiệp bị thiệt thòi, người bị thu đất phi nông nghiệp được hưởng lợi. Thu hồi đất
nhưng không ưu tiên trả bằng đất mà chủ yếu là trả bằng tiền; nhiều trường hợp
phải TĐC cho người bị thu hồi đất nhưng chưa được giải quyết thỏa đáng, điều kiện
của các khu TĐC không bằng khu dân cư đã thu hồi.
1.2/ Hệ thống văn bản pháp luật liên quan tới GPMB sau khi có luật đất đai
năm 2003

dụng đất và thay thế các văn bản pháp luật về đất đai không còn phù hợp thực tiễn.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 181/2004/NĐ-CP; Nghị định số
197/2004/NĐ-CP. Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Chính
phủ về đổi mới hoàn thiện chính sách bồi thường, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 17/2006/NĐ-CP và tiếp theo là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP nhằm nâng
cao và hoàn thiện hơn nữa chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất bảo đảm phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu xây dựng an ninh,
củng cố quốc phòng và tiến trình phát triển nền kinh tế của đất nước trong thời
gian tới theo mục tiêu của Đảng và Chính phủ đã xác định. Tại Nghị quyết số 31-
NQ/TW ngày 02 tháng 02 năm 2009 của Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung
ương khóa X, về một số mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp từ nay đến Đại hội XI của
Đảng, đã nêu rõ: “Ban hành chính sách phù hợp để giải quyết vướng mắc kéo dài
trong thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư. Có chính sách
để cỏc vựng của đất nước đều phát huy tốt nhất lợi thế của mỗi vùng” và để triển
khai thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã và đang chỉ đạo các Bộ, ngành
và địa phương tiếp tục nghiên cứu xây dựng hoàn thiện chính sách bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất trong thời gian tới, để giải quyết cơ bản những vướng mắc
trong thực hiện thu hồi đất, tăng cường cơ chế hỗ trợ bảo đảm ổn định, nâng cao
đời sống, sản xuất đối với người bị thu hồi đất, từng bước cải cách công tác tổ
chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng góp phần thúc đẩy tiến độ thực
hiện các dự án đầu tư và nâng cao hơn nữa nguồn lực của đất đai, hiệu quả sử
dụng đất phục vụ cho sự nghiệp xây dựng quốc phòng, củng cố an ninh và phát
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 15 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
triển kinh tế của đất nước. Cụ thể một số văn bản pháp luật liên quan tới việc đền
bù, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng như sau:
- Nghị định 197/2004/NĐ- CP: ban hành 03/12/2004 của Chính Phủ về bồi
thường, tái định cư khi Nhà Nước thu hồi đất vì mục đích an ninh, quốc phòng, lợi
ích Quốc Gia, lợi ích công cộng. Nghị định có một nội dung rất quan trọng là hoàn
cảnh sử dụng đất thế nào thì được bồi thường, hỗ trợ bao nhiêu.

2/ Các chính sách và nghị định về đất đai liên quan tới việc giải phóng mặt
bằng trên địa bàn Hà Nội
2.1/ Trước khi có luật đất đai 2003
Về vấn đề GPMB, ban chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XII đó cú nghị
định số 20/NQ-TU ngày 13/7/2000 và hội đồng nhân dân thành phố khóa XII có
nghị quyết số 09/2000/NQ-H ĐND ngày 21/7/2000 về công tác GPMB trên địa bàn
thành phố. Ngày 17/9/2001 theo quyết định số 72/2001/QĐ-UB thành phố Hà Nội
đã ủy quyền cho các quận huyện được phép phê duyệt phương án bồi thường thiệt
hại, hỗ trợ tái định cư cho người bị thu hồi đất.
2.2/ Sau khi có luật đất đai năm 2003.
Nhìn chung thành phố thực hiện đúng các nghị định, quyết định của Nhà
Nước về nghuyờn tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như đó nờu tóm tắt ở chương I.
Ngoài ra thành phố cũn cú thờm một số quyết định để cụ thể hóa quy định về bồi
thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, từ Luật, Nghị định của Chính phủ,
Thông tư của các Bộ, ngành, UBND thành phố Hà Nội đ• ban hành các văn bản
pháp quy bao gồm:
- Quyết định số 26/2005/QĐ-UB ngày 18 tháng 02 năm 2005 của UBND thành phố
Hà Nội về việc ban hành "Quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC, thực hiện Nghị
định số 197/2004/NĐ-CP ra ngày 3 tháng 12 năm 2004 của Chính về bồi thường,
hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội”.
- Quyết định số 242/2006/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2006 của UBND thành
phố Hà Nội về việc ban hành quy định về giỏ cỏc loại đất trên địa bàn thành phố Hà
Nội năm 2007.
- Quyết định số 81/2005/QĐ-UBND ngày 3/6/2005 của UBND thành phố Hà Nội
về việc ban hành giá chuẩn xây dựng mới nhà ở, nhà tạm, vật kiến trúc trờn trờn địa
bàn thành phố Hà Nội để xác định giá trị đền bù.
- Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29 tháng 9 năm 2008 của UBND thành
phố Hà Nội về việc ban hành "Quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC trên địa bàn
thành phố Hà Nội”.
- Quyết định số 40/2008/QĐ-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2008 của UBND thành

Nam. Trong các văn bản pháp luật đã quy định và hướng dẫn rất rõ trách nhiệm và
nhiệm vụ của cấp quản lý trong việc thực hiện công tác giải tỏa mặt bằng. Các vấn
đề luôn luôn phát sinh trong thực tế, để giải quyết một cách ổn thỏa giữa cỏc bờn và
bảo vệ lợi ích cho người dân, nhà nước luôn luôn có những thay đổi và bổ sung kịp
thời các chính sách. Nhà Nước có trách nhiệm hướng dẫn và chỉ đạo cho các cấp,
các ban ngành và các cán bộ trực tiếp thực hiện công tác giải phóng mặt bằng thực
hiện đúng nhiệm vụ. Nhà Nước luôn luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu
trong mọi vấn đề, luôn luôn cố gắng bảo vệ lợi ích một cách tốt nhất cho người dân.
Ngoài việc là một nguồn vốn quan trọng trong quá trình thực hiện dự án, Nhà Nước
còn là người dẫn dắt và ban các chính sách giúp đỡ người đõn ổn định cuộc sống
khi bị mất đất và giúp họ định hướng được nghề nghiệp. Như vậy, có thể kết luận
rằng: trách nhiệm của Nhà Nước là: ổn định và bảo vệ lợi ích tốt nhất cho người dân
bị thu hồi đất, đứng trên phương diện là chủ dự án: Nhà Nước có trách nhiệm về
tiến độ thực hiện dự án.
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 18 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
4.2/ Chủ dự án và trách nhiệm của chủ dự án trong vấn đề thực hiện giải
phóng và đền bù mặt bằng.
Chủ dự án có trách nhiệm thực hiện dự án sao cho dự án đúng tiến độ hoàn
thành, và đảm bảo được chất lượng của dự án. Tuy nhiên, không phải dự án nào
cũng có thể thực hiện đúng thời gian như đã quy định, có rất nhiều nguyên nhân gây
ra vấn đề dự án chậm tiến độ, tuy nhiên trong phạm vi em nghiên cứu, em xin nêu
ra nguyên nhân chính: đó là việc thỏa thuận đền bù giữa chủ dự án và người dân.
Chủ dự án luôn muốn bồi thường cho người dân mức thấp nhất có thể để giảm chi
phí thực hiện dự án. Trong các dự án chúng ta luôn thấy hiện tượng: người dân chấp
vấn chủ dự án có sự tham gia của cơ quan chức năng ở địa phương về vấn đề tiền
bồi thường. Nếu chủ dự án và người dân trong cuộc họp, không đưa ra được sự thỏa
thuận nào thì người dân sẽ cương quyết không chịu di dời để chủ dự án lấy mặt
bằng thực hiện dự án. Như vậy, dự án chậm thi công do người dân không chịu di
dời, chủ dự án không chịu chấp nhận đề nghị của dân.

giá sự phát triển của một đất nước, cơ sở hạ tầng là một trong những cầu nối kinh tế
giữa các khu vực trong nước nói riêng cũng như với Thế giới bên ngoài nói chung.
Cơ sở hạ tầng có phát triển, giao thông có thuận tiện…thì sự giao lưu kinh tế giữa
các khu vực trong nước với nhau cũng như với nước ngoài mới trở lên đơn giản và
thuận tiện, điều này tác động trực tiếp tới tình hình kinh tế của đất nước, ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống nhân dân. Một đất nước càng phát triển, cơ sở
hạ tầng càng được quan tâm.
Mặt khác: Ngày nay, khi dân số ngày càng gia tăng, người dân luôn luôn có
xu hướng về các đô thị lớn để lập nghiệp thì nhu cầu về nhà ở, đất đai ngày càng gia
tằng. Điều này tạo ra gánh nặng cho các đô thị lớn, nhưng nó phù hợp với xu thế
của Thế Giới nói chung và của Việt Nam nói riêng.
Như vậy, sự phát triển về cơ sở hạ tầng, một mặt thể hiện sự phát triển của
một đất nước, mặt khác nó phù hợp với nhu cầu phát triển chung của Thế giới hiện
nay. Do đó chúng ta cần ban hành các chính sách sao cho phù hợp với tình hình
kinh tế trong nước nhưng vẫn thúc đẩy được sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Khi
chúng ta nói tới một chính sách, chúng ta luôn nói tới hai mặt của chúng, không có
một chính sách nào hoàn thiện được mọi mặt. Bởi vậy,việc phải thay đổi và bổ sung
chính sách là một trong những vẫn đề cần thiờt và quan trọng. Thay đổi chính sách
cũ, bổ sung chính sách mới sao cho phù hợp với tình hình thực tế trong nước, phù
hợp với xu thế phát triển.
Thứ hai: Đảm bảo và tôn trọng lợi ích của người dân và chủ dự án
Người dân và chủ dự án thường xuyên có sự xung đột về lợi ích. Người dân
luôn muốn có quyền lợi về bồi thường cao nhất, điều này đồng nghĩa với việc chủ
dự án phải chi thêm một khoản, điều này có nghĩa: chi phí đầu tư- xây dựng của chủ
dự án tăng lên, mà chủ dự án luôn luôn mong muốn chi phí nhỏ nhất. Như vậy có sự
xung đột lợi ích giữa hai bên. Chúng ta thử tưởng tượng rằng: nếu không có sự quy
định của pháp luật về quyền lợi người dân và nghĩa vụ của chủ dự án trong việc thu
hồi đất để thực thi dự án thì dự án đó sẽ không bao giờ được xây dựng. Mặt khác có
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 20 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển

thường và giải phóng mặt bằng, ví dụ như: lợi ích của người dân bị ảnh hưởng, chủ
dự án không thực hiện đúng quy định của luật đền bù và giải phóng mặt bằng mà
luật đất đai quy định hay chính sách bồi thường của Nhà Nước chưa thật sự phù
hợp, chưa kịp thay đổi so với thực tế….Như chúng ta biết, để một chính sách được
thực hiện cần phải trải qua một thời gian, chính sách luôn luôn có độ trễ so với thực
tế, bởi vậy một số vấn đề vướng mắc trong việc giải phóng và đền bù xảy ra thì cán
bộ quản lý dự án không thể giải quyết nổi, do luật đất đai và các chính sách hỗ trợ
chưa đề cập tới vấn đề này. Điều này gây ra tình trạng bế tắc trong khâu giải thích
cho người dân hiểu, gây nên khiếu kiện trong người dân khi họ cho rằng lợi ích của
họ bị ảnh hưởng. Như vậy, về phái người dân, họ cho rằng: quyền lợi của họ bị ảnh
hưởng, về phái chủ dự án và các cấp lãnh đạo địa phuơng thì không biết giải quyết
vấn đề như thế nào do vấn đề đó không được quy định trong luật, và không có một
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 21 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
chính sách nào đề cập tới đó. Một lần nữa, chúng ta khẳng đinh: Nhà Nước luôn
luôn cố gắng bổ sung chính sách mới và thay đổi chính sách cũ, tuy nhiên do “độ
trễ” của chính sách, nên nhiều khi một số vấn đề chưa được giải quyết tốt.
Như vậy, các nhà hoạch định chính sách cần phải thường xuyên bổ sung
chính sách mới và sửa đổi chính sách cũ sao cho phù hợp với thực tế và tiến tới
chính sách phải đi trước thực tế một bước, làm tiền đề để giải quyết vấn đề một
cách tốt nhõt, có thực hiện được như vậy, người dân mới cảm thấy lợi ích của mình
được đảm bảo và làm giảm đi tình trạng khiếu nạo trong dân.
Vậy: đất nước càng ngày càng phát triển, theo xu hướng hòa nhập với Thế
giới, không chỉ riêng chính sách đất đai phải thường xuyên hoàn thiện mà các chinh
sách thuộc các lĩnh vực khác nhau cũng phải thay đổi và bổ sung sao cho phù hợp
với thực tế trong nước và trên thế giới, luôn luôn đặt lợi ích của người dân lên hàng
đầu và hài hòa lợi ích giữa cỏc bờn. Việc bổ sung và thay đổi một chính sách là rất
khó và cần nhiều thời gian, nhưng thực tế thì mọi vấn đề luôn thay đổi theo thời
gian và chính sách cũng cần phải được hoàn thiện, hoàn thiện để phù hợp với thực
tế, hoàn thiện để đảm bảo tốt nhất lợi ích giữa cỏc bờn, hoàn thiện để hòa nhập

giá đất do Nhà nước quy định công bố hàng năm. Song để mọi người bị thu hồi
đất có thể chấp nhận mức bồi thường, trong trường hợp giá đất do Nhà nước
quy định thấp khoảng trên 20% so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thực tế của từng thửa đất.
Về việc xác định giá đất được quy định ở nghị định 188 , trong nghị định này
quy định hai phương pháp xác định giá đất, bao gồm phương pháp so sánh trực tiếp
và phương pháp thu nhập. Tuy nhiên hai phương pháp đó chưa đáp ứng được nhu
cầu về việc bồi thường giá đất hiện nay. Do vậy Chính phủ đã ban hành nghị định
123 bổ sung hai phương pháp mới là: phương pháp chiết trừ và phương pháp thặng
dư. Bốn phương pháp này sẽ cùng được sử dụng để xác định giá đất. Bên cạnh đó,
Nhà Nước cũng tớnh thờm cả những giá trị về mất công ăn việc làm, giá trị về mất
văn hóa làng quê để đền bù cho người dân một cách thỏa đáng
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 23 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
1.2/ Chính sách giá cả theo loại đất và theo vùng
Tùy thuộc và sự phân hóa mà cú cỏc vựng khác nhau, mỗi vựng cú một đặc
điểm, một tính chất khác nhau. Bởi vậy, chúng ta không thể đánh đồng cỏc vựng
với nhau được, phải có chính sách giá cả theo từng vùng khác nhau. Có thể phân
chia thành hai loại đất như sau:
+ Đất nông nghiệp
+ Đất phi nông nghiệp.
Dưới đây là một số khung giá đất năm 2009 ở một số địa phương do ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quy định như sau:
1.2. 1/ Đất nông nghiệp
Việc quy định giá đất nông nghiệp được thực hiện theo 3 vùng: đồng bằng,
trung du, miền núi và theo vị trí đất trong từng xã, phường, thị trấn. 62/63 tỉnh quy
định giỏ cỏc loại đất nông nghiệp nằm trong Khung giỏ cỏc loại đất do Chính phủ
quy định tại Nghị định số 123/2007/NĐ-CP. Cụ thể như sau:
1.2.1.1/Đất trồng cây hàng năm:
Giá đất trồng cây hàng năm bình quân đối với mức giá cao nhất quy định

2
.
Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A
Chuyên đề thực tập K48 24 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
1.2.1.2 / Đất trồng cây lâu năm:
Bình quân mức giá đất trồng cây lâu năm cao nhất quy định trong Bảng giá đất
của 63 tỉnh là 84.830 đồng/m
2
, tăng 14,53% so với năm 2008 và bằng 53,69% so với
mức giá tối đa của Khung giá đất. Trong đó:
Bảng 2: Gớa đất cây trồng lâu năm
Vùng Giá cao nhất
(đồng/m
2
)
Giá thấp nhất
(đồng/m
2
)
- Vùng Miền núi và Trung du Bắc Bộ 31.630 12.310
- Vùng Đồng bằng Bắc Bộ 78.660 40.000
- Vùng Bắc Trung Bộ 31.380 4.860
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 45.380 4.490
- Vùng Tây Nguyên 22.590 2.160
- Vùng Đông Nam Bộ 129.500 25.500
- Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 124.310 19.600
Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội
Vùng Đông Nam Bộ có mức giá đất trồng cây lâu năm cao nhất của là
129.500 đồng/m
2

Giá thấp nhất
(đồng/m
2
)
- Vùng Miền núi và Trung du Bắc Bộ 3.067.220 88.560
- Vùng Đồng bằng Bắc Bộ 4.671.430 145.750
- Vùng Bắc Trung Bộ 2.994.000 45.400
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 1.950.000 46.500
- Vùng Tây Nguyên 2.928.000 28.250
- Vùng Đông Nam Bộ 2.285.000 158.000
- Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 3.870.000 101.800
Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội
Vùng Đồng bằng Bắc Bộ có mức giá đất ở tại nông thôn cao nhất tại các vị
trớ trờn (4.671.430 đồng/m
2
), tiếp đến là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
(3.870.000 đồng/m
2
), vùng Miền núi và Trung du Bắc Bộ (3.067.220 đồng/m
2
)
vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ là vựng cú mức giá thấp nhất (từ 46.500 -
1.950.000 đồng/m
2
). Vùng Đồng bằng Bắc Bộ có giá cao nhất cũng đễ hiểu bởi vì
khu vực đó là khu vực trung tâm kinh tế- xã hội.
- Giá đất ở tại nông thôn tại các vị trí còn lại: Bình quân mức giá cao nhất là
1.164.660 đồng/m
2
Trong đó:

25.700.000 đồng/m
2

Sinh viên thực hiện : Trương Thị Thanh Hòa – KTPT A

Trích đoạn Quá trình thực hiện được diễn ra như sau Nguyên nhân gây ra dự án bị “treo” và những vướng mắc trong Thực trạng dự án đường vành đai ba Nguyên nhân gây ra xung đột lợi ích giữa cỏc bờn và vì sao dự án Nguyên nhân gây ra sự khiếu nại trong nhân dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status