NGUỒN NHÂN LỰC CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI TRUNG TRUNG BỘ - Pdf 30

NGUỒN NHÂN LỰC CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
MIỀN NÚI TRUNG TRUNG BỘ
PGS. TS. Nguyễn Văn Mạnh
Trường ĐH Khoa học Huế
Các dân tộc thiểu số vùng miền núi Trung Trung Bộ
1
ngoài người
Hoa và các DTTS phía Bắc như Tày, Nùng, Thái mới di cư vào trong thời
gian gần đây, về cơ bản bao gồm 4 tộc người với trên 100 nghìn nhân
khẩu (tính đến năm 2007). Cụ thể ở Quảng Bình có 2 dân tộc thiểu số
chính cư trú là người Bru‑Vân Kiều và người Chứt với dân số trên 15.000
người [8; 13]; ở Quảng Trị là 2 dân tộc Tàôi và Bru‑Vân Kiều với dân số
trên 56.000 người [5;27]; Thừa Thiên‑Huế với 3 dân tộc, Tàôi, Cơtu và
Bru‑Vân Kiều với gần 38.000 người [5; 25].
Nhìn chung, các dân tộc thiểu số (DTTS) Trung Trung bộ có trình độ
phát triển kinh tế thấp kém và chịu nhiều thua thiệt về cơ hội phát triển
trong quá trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH). Vì vậy,
muốn đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH vùng đồng bào các dân tộc thiểu
số nơi đây cần phải đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực. Đây
vừa là động lực cũng vừa là mục tiêu của quá trình CNH, HĐH với cách
hiểu toàn diện của nội dung khái niệm này theo quan điểm của Đảng
ta. Quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình CNH, HĐH nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Quy mô của nguồn nhân lực nói lên số lượng người trong độ tuổi lao
động, khả năng lao động, sự phân phối nguồn lao động theo giới tính
và độ tuổi, địa điểm thành thị hay nông thôn… Trong những năm gần
đây, dân số các DTTS trong khu vực nghiên cứu không ngừng được gia
tăng. Chỉ tính các dân tộc Chứt, Bru‑Vân Kiều, Tàôi, Cơtu ở khu vực
Quảng Bình, Quảng trị, Thừa Thiên‑Huế từ năm 1989 đến năm 2007
chúng ta thấy dân số của từng năm gia tăng đáng kể [5; 18].
1. Trung Trung bộ được tính gồm 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên‑ Huế.

2007 5.538 27.924 11.221 14.284 2.297 43.312 15.978
Dân tộc
Chứt
(Q. Bình)
Tà ôi
(chỉ tính TTHuế)
Bru-Vân Kiều
(chỉ tính TTHuế)
Cơ tu
(chỉ tính TTHuế)
6.430/ 3.252 27.924/ 14.718 2.297/ 1.062 15.978/ 8.115
% Dân số 50,2 52,7 46,3 50,8
340
Nguyễn Văn Mạnh
chủ yếu lao động thô sơ, thủ công trong kinh tế nương rẫy, chăn nuôi,
hái nhặt các sản vật của tự nhiên.
Cơ cấu nguồn lao động ở đây chủ yếu tập trung ở những vùng nông
thôn, miền núi. Họ sống trong những cộng đồng làng bản với hoạt động
kinh tế nương rẫy, săn bắn, đánh cá, hái lượm nên khả năng giao lưu
tiếp xúc với bên ngoài còn nhiều hạn chế. Lại nữa, trong những năm
qua, nguồn lao động trong các bản làng có xu hướng giảm dần. Số người
trong độ tuổi lao động, nhất là tầng lớp thanh niên có xu hướng tham
gia lao động trong các nông lâm trường, một bộ phận đã trở thành công
nhân trong các nhà máy, khu chế xuất ở vùng đồng bằng, đô thị. Tuy
nhiên, do khả năng nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực các DTTS
nơi đây còn hạn chế, nên tỷ lệ tham gia vào các nhà máy, khu chế xuất
còn rất khiêm tốn. Về cơ cấu dân số theo độ tuổi, chúng ta thấy dân số
trong độ tuổi lao động và dưới độ tuổi lao động chiếm số lượng rất lớn
[5; 20].
Bảng 3: Cơ cấu độ tuổi lao động và dưới lao động năm 2007

giúp cha lao động sản xuất. Nhìn chung, thiếu niên vùng đồng bào dân
tộc thiểu số thường sớm làm quen với lao động sản xuất kiếm sống.
Gần đây một số trẻ em còn tham gia vào chăn nuôi gia súc gia cầm và
kiếm củi bán. Nhìn chung đây là nguồn nhân lực trẻ đã hỗ trợ phần
nào cho sự ổn định và phát triển kinh tế trong khu vực; tuy nhiên đây
phải được coi là nguồn nhân lực bổ sung vào nguồn lao động cho tương
lai, còn hiện tại chỉ là sự phụ giúp trong phạm vi gia đình. Yêu cầu
chính của nguồn nhân lực này là phải được học hành, giáo dục định
hình nhân cách để trở thành nguồn lao động có chất lượng. Nếu không
chú ý vấn đề này, đề cao lao động trẻ em sẽ biến họ thàmh nô lệ trong
cuộc sống và điều đó ảnh hưởng đến nguồn nhân lực lao động trong
tương lai. Một thực tế số lượng trẻ em chưa đến độ tuổi lao động ở vùng
đồng bào dân tộc tham gia vào lao đông sản xuất quá sớm. Trẻ nhỏ lên
7, 8 tuổi đã được bố mẹ cho làm quen với những chiếc gùi để hái nấm
và thậm chí gùi sắn khoai, củi, ngô, chuối, mít từ nương rẫy về nhà.
Hơn nữa, người dân ở đây kể cả trẻ nhỏ quen với lối sống hoang dã tự
nhiên của rừng núi nên có tâm lý ngại đến trường, không thích những
con chữ con số, những bài toán phức tạp, thêm vào đó cộng đồng cũng
chưa có ý thức giáo dục khuyên răn con em đến trường, đồng thời có
một số bản vùng sâu trường lớp ở xa bản, đến mùa mưa lũ những con
suối ngăn cách bản với trường,… Tất cả những điều đó đã làm cho chất
lượng giáo dục không ổn định và thiếu hiệu quả. Một vấn đề cần đề
cập thêm ở đây là tình trạng sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của
nguồn lực trẻ em ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Trung Trung bộ còn
rất thấp. Số trẻ em suy dinh dưỡng còn chiếm một tỉ lệ lớn. Mặc dầu
chưa có một số lượng thống kê cụ thể về sự phát triển thể chất của trẻ
em nơi đây nhưng nhìn chung số trẻ em gầy, thấp, còi cọc và suy dinh
dưỡng chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Điều này phần nào làm hạn chế sự
phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình CNH, HĐH.
Theo quan điểm của ngành lao động, dưới độ tuổi lao động là

vệ rừng ở các nông lâm trường hoặc sản xuất trong các lĩnh vực trồng
cây công nghiệp, cây lấy gỗ, khai thác cao su, chăm sóc cà phê, hồ tiêu…
hoặc tham gia vào các xí nghiệp chế biến gỗ, xí nghiệp mộc, mây tre xuất
khẩu… Một bộ phận còn tham gia vào các nhà máy, khu chế xuất ở vùng
đồng bằng, đô thị như nhà máy may, giày dép, các khu chế xuất lâm thổ
sản… Nhìn chung, lực lượng lao động này đều tham gia vào các lĩnh
vực lao động thô sơ, thủ công là chính.
Đối với xu hướng tiếp nhận những tri thức khoa học để đổi mới cách
nghĩ cách làm trong lao động sản xuất, nguồn nhân lực trong độ tuổi
Nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số miền núi Trung Trung Bộ
343
lao động đều tham gia một cách tích cực, nhất là tầng lớp trung niên.
Họ được các cán bộ khuyến nông khuyến lâm, các tổ chức phi chính
phủ, các tổ chức thực hiện các chương trình dự án trên địa bàn miền núi,
cung cấp giống cây trồng vật nuôi, cho vay vốn và hướng dẫn cụ thể
cách thức trồng trọt và chăn nuôi [1;48]. Ví như đồng bào các dân tộc
Chứt, Bru‑Vân Kiều, Tàôi, Cơtu,… ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên‑Huế được hướng dẫn cách trồng sắn cao sản K94, ngô lai, cách
trồng lúa nước, cách trồng các loại cây ăn quả có giá trị hàng hoá như
nhãn, thanh long, cam, cà phê, cao su, quế… và cách nuôi bò lai sin, nuôi
dê, nuôi lợn, trâu, bò với hình thức chăn dắt, chuồng trại. Từ đó, các
nguồn nhân lực lao động ở đồng bào đã biến đổi cách nghĩ cách làm, họ
dần dần đã chuyển đổi từ cách thức trồng trọt nương rẫy với cây lúa
hoặc sắn, ngô và kinh tế hái nhặt các sản vật trong tự nhiên, chăn nuôi
thả rông, sang trồng trọt các loại cây, nuôi những vật nuôi có giá trị hàng
hoá, có nghĩa là những cây trồng và những vật nuôi mới mà từ trước
đến nay họ chưa từng làm. Và như vậy người dân phải làm quen với lối
canh tác mới, hình thức chăn nuôi mới, đó là những tri thức KHKT bước
đầu được người dân tiếp nhận.
Đối với xu hướng đa dạng hoá ngành nghề trong hoạt động sản

mây tre, nghề mộc mỹ nghệ lại là sự tham gia của cả nguồn lực nam
giới và phụ nữ. Trong những năm gần đây, một số dự án phát triển
nghề thủ công phục vụ cho hoạt động du lịch, nhất là nghề dệt của
người Tà ôi ở A Lưới, nghề điêu khắc, dệt thổ cẩm của người Cơ tu ở
Nam Đông ‑ Thừa Thiên‑Huế. Các dự án đã mở các lớp đào tạo cung
cấp phương tiện kỹ thuật mới, nguyên liệu mới nên đã thu hút một
nguồn lực lao động đáng kể vào lĩnh vực lao động này. Bên cạnh đa
dạng hoá cách nghĩ cách làm các ngành nghề truyền thống, cộng đồng
các dân cư nơi đây còn hình thành những ngành nghề mới. Nếu như
trước đây, chỉ có người Chăm và người H’rê làm ruộng nước thì hiện
nay, mặc dù tuỳ điều kiện của từng vùng, nhưng về cơ bản ở đa số các
bản làng đồng bào các DTTS đã hình thành kinh tế ruộng nước[4;67].
Bên cạnh đó, các hoạt động ngành nghề dịch vụ như máy xay xát, mở
quán sửa chữa xe máy, tivi, các quán hàng nhỏ, mua bán các nông sản
đã được xuất hiện ở hầu khắp các bản làng đồng bào các DTTS. Một
điều đặc biệt đáng chú ý là xuất hiện ở các bản làng một số gương điển
hình làm kinh tế giỏi với mô hình kinh tế trang trại vườn ao chuồng
kết hợp trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, chăn nuôi trâu bò và đào ao thả
cá. Các trang trại vườn đồi và vườn rừng khác đã đã thu hút nguồn
lực đáng kể của địa phương vào lao động sản xuất. Rõ ràng đa dạng
hoá ngành nghề đã tạo cho các nguồn lực lao động có cơ hội tham gia
vào các hoạt động kinh tế sản xuất, tăng thu nhập, tạo nên biến đổi xã
hội và thúc đẩy quá trình CNH, HĐH.
Đối với hoạt động du lịch, một trong những xu hướng CNH, HĐH
ở vùng miền núi, các hoạt động du lịch này tập trung chủ yếu ở các lĩnh
vực du lịch hang động danh thắng như Phong Nha, Bạch Mã và du lịch
văn hoá sinh thái làng bản các DTTS. Ở các hoạt động du lịch này, nguồn
Nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số miền núi Trung Trung Bộ
345
lực lao động của người dân tại chỗ chủ yếu chỉ tham gia vào dẫn đường,

này với dân tộc khác ngày càng được mở rộng. Các mặt hàng công
nghiệp của đồng bằng có mặt ngày càng nhiều và được đồng bào các
DTTS mua bán, trao đổi phổ biến hơn. Đó là một tín hiệu đáng mừng
cho xu hướng CNH, HĐH vùng đồng bào các DTTS Trung Trung bộ.
Trong hoạt động kinh tế hàng hoá, hầu như mọi nguồn lực lao động đều
tham gia, trong đó trao đổi sản phẩm ở các chợ hoặc ở ngay các bản làng
346
Nguyễn Văn Mạnh
là công việc chủ yếu của người phụ nữ, chỉ trừ các bản làng người Tàôi
ở sát biên giới Việt ‑ Lào ở Quảng Trị và một số nhóm người Chứt như
người Rục, Mày, người đàn ông có một vai trò đáng kể trong trao đổi,
mua bán.
Đối với nguồn nhân lực trên độ tuổi lao động, theo quan điểm
chung của Đảng và Chính phủ, phụ nữ từ 55 tuổi và nam giới từ 60
tuổi trở lên. Nhưng vùng đồng bào các DTTS, nguồn nhân lực này độ
tuổi có thể giảm hơn trên dưới 5 tuổi; có nghĩa là, người phụ nữ
khoảng trên dưới 50 tuổi và đàn ông trên dưới 55 tuổi được coi là
những người già không đi nương rẫy, chỉ làm những công việc phụ ở
nhà hoặc xung quanh thôn bản. Theo thống kê của Ban Dân tộc miền
núi một số tỉnh Trung Trung Bộ, số lượng người trên độ tuổi lao động
có khoảng 15%. Họ là những người trên dưới 50 tuổi cho đến những
người già cả trong làng bản. Tuy không phải là lực lượng lao động
chính, nhưng họ là một nguồn lực đáng kể cho quá trình CNH, HĐH.
Bởi vì, ở các cộng đồng dân cư nơi đây, ý kiến của già làng có vai trò
rất quan trọng đối với cộng đồng. Vì vậy tuy không tham gia các công
việc làm rẫy, chăn nuôi, các nghề thủ công, họ đảm trách những công
việc phụ nhẹ hơn và động viên cháu con giữ gìn thuần phong mỹ tục,
tri thức dân gian, văn hoá truyền thống và tiếp nhận cái mới, cái hay
để vươn lên làm giàu.
Trong những năm gần đây, nguồn nhân lực đồng bào DTTS nơi đây

trong tương lai, đây được coi là một thuận lợi đáng kể cho sức bật, sức
vươn lên cho quá trình CNH, HĐH của cộng đồng dân cư nơi đây.
‑ Nguồn nhân lực lao động của đồng bào DTTS số nơi đây có truyền
thống yêu lao động, cần cù, siêng năng, chịu khó trong công việc, biết
dựa trên nền tảng các giá trị truyền thống để tiếp nhận cái hay, cái mới
của thời đại. Trong xu thế hiện nay, họ biết lắng nghe, biết học hỏi, biết
đổi mới nhận thức, đổi mới cách nghĩ cách làm.
‑ Nguồn nhân lực của đồng bào DTTS nơi đây đã tham gia một cách
tích cực, phổ biến ở tất cả mọi xu hướng của quá trình CNH, HĐH vùng
miền núi. Có những xu hướng họ mới làm quen, mới bước đầu tiếp nhận
như xu hướng tham gia vào các hoạt động du lịch, tham gia vào các nông
lâm trường, nhà máy, xí nghiệp. Có những xu hướng họ tham gia để
biến chuyển hoạt động kinh tế truyền thống của mình, như đa dạng hoá
ngành nghề, kinh tế thị trường…
Đây được coi là những nhân tố tích cực về nguồn nhân lực của đồng
bào các DTTS vùng núi Trung Trung bộ, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH
đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên quê hương của họ. Tuy nhiên,
nguồn nhân lực lao động ở đây cũng có những hạn chế, ảnh hưởng tiêu
cực đến quá trình phát triển CNH, HĐH, như:
348
Nguyễn Văn Mạnh
‑ Chất lượng nguồn nhân lực nơi đây không được đảm bảo, tình
trạng nghèo đói đã làm cho một bộ phận không nhỏ nguồn nhân lực
thấp bé, suy dinh dưỡng và đặc biệt trình độ giáo dục, khả năng tiếp
nhận tri thức của họ còn rất hạn chế. Điều này gây khó khăn không nhỏ
đến việc hình thành một nguồn lực lao động có trình độ để tham gia vào
những ngành công nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn nghiệp vụ.
‑ Do lối sống gắn bó với cái hoang dã của môi trường tự nhiên và có
phần ỷ lại vào cộng đồng, vào môi trường tự nhiên đó, nên trong cơ chế
thị trường với môi trường sống của quá trình CNH, HĐH đòi hỏi tính

bức thiết của quá trình CNH, HĐH nơi đây.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đỗ Minh Cương (2002), Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở Việt
Nam hiện nay, Nxb Giáo dục, HN.
[2] Đặng Bá Lãm (2002), Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học công
nghệ trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN.
[3] Trịnh Duy Luân (2002), Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐN, Tạp chí xã hội học, tr 7‑12, 2002.
[4] Nguyễn Thanh (2002), Phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất
nước, Nxb Chính trị quốc gia, HN.
[5] Nguyễn Văn Mạnh (2008), Biến đổi văn hoá truyền thống trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các dân tộc thiểu số Quảng Bình, Thừa Thiên‑
Huế, đề tài khoa học cấp tỉnh.
[6] Ban dân tộc và miền núi tỉnh Bình Định (2000), Văn hoá các dân tộc thiểu
số tỉnh Bình Định, Nxb Thuận Hoá, Huế.
[7] Ban dân tộc tỉnh Quảng Nam (2005), Tìm hiểu con người miền núi Quảng
Nam, Quảng Nam.
[8] Ban dân tộc tỉnh Quảng Bình (2008), Sổ tay công tác dân tộc, Đồng Hới.
[9] Hoàng Minh Đô (2006), Tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng người Chăm
ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Nxb Lý luận Chính trị, HN.
[10] Nguyễn Thị Kim Hoa (2003), Phong tục vòng đời của người Êđê Mdhur ở
Phú Yên, Nxb Văn hoá dân tộc, HN.
[11] Nguyễn Văn Mạnh (2002), Văn hoá làng và làng văn hoá ở Quảng Ngãi,
Nxb. Thuận Hoá, Huế.
350
Nguyễn Văn Mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status