giải pháp mở rộng và nâng cao hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng tmcp bưu điện liên việt chi nhánh hà nội - Pdf 30

Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ kéo theo tất cả các
ngành kinh tế phát triển. Đi tiên phong trong đó là ngành ngân hàng. Ngân
hàng là một trung gian tài chính, là một kênh dẫn vốn quan trọng cho toàn bộ
nền kinh tế. Thật khó tưởng tượng ra một nền kinh tế nào đó không có sự
hiện diện của hệ thống các ngân hàng thương mại. Trong môi trường cạnh
tranh ngày càng gay gắt cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, việc
không ngừng đổi mới, hoàn thiện và mở rộng các hoạt động là hướng đi và
phương châm cho các ngân hàng tồn tại và phát triển. Hiện nay, đối với các
ngân hàng thương mại thì tín dụng vẫn luôn được coi là hoạt động cơ bản, có
vai trò quan trọng tạo ra nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng và giúp ngân hàng
sử dụng nguồn vốn huy động một cách hiệu quả nhất. Và nói đến tín dụng thì
không thể không nhắc đến hoạt động cho vay tiêu dùng.
Có thể nói cho vay tiêu dùng đang và sẽ đóng một vai trò chủ đạo
trong các dịch vụ ngân hàng. Bởi vì cho vay tiêu dùng không chỉ là khoản
mục mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng mà còn vì người tiêu dùng với
trình độ dân trí và mức sống ngày càng cao sẽ có nhiều nhu cầu phát sinh hơn
nên sẽ cần nhiều tiền hơn để thỏa mãn các nhu cầu đó và đáp ứng các kế
hoạch chi tiêu trên cơ sở triển vọng về thu nhập trong tương lai.
Tuy nhiên cho đến nay, khi mà thị trường Việt Nam đang trở nên rất
hấp dẫn đối với lĩnh vực cho vay tiêu dùng thì hoạt động cho vay tiêu dùng
vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Do đó việc các
ngân hàng ra sức mở rộng, thúc đẩy tăng trưởng cho vay tiêu dùng là cần
thiết.
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
1
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Là 1 ngân hàng còn trẻ nhưng ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện
Liên Việt – Chi nhánh Hà Nội cũng đã rất quan tâm đến việc phát triển hoạt
động cho vay tiêu dùng. Chính vì vậy, sau thời gian được thực tập, tìm tòi,

Chương 3: Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay
tiêu dùng tại NHTM cổ phần bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hà Nội.
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
3
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm và những hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn
liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Ngày nay hoạt động ngân hàng
đang không ngừng phát triển. Sự phát triển đó có thể nhận thấy trên tất cả các
phương diện, từ sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ mới cho tới sự xuất hiện
của các tập đoàn ngân hàng có quy mô toàn cầu được tạo ra từ làn sóng sáp
nhập, hợp nhất. Tất cả những diễn biến đó xảy ra nhanh hơn những gì mà
chúng ta biết.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về
NHTM. Theo Peter S.Rose thì ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng,
tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so
với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội nước
Việt Nam ban hành thì NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả
các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định
của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
NHTM có 3 chức năng chính:
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
4
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa

các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn. Đây là hoạt động đem lại nguồn thu
chủ yếu cho NHTM và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
- Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát
triển.
- Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ và giá cả.
- Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn định
trật tự xã hội.
- Tín dụng có vai trò tích cực trong quan hệ đối ngoại.
Các hình thức cấp tín dụng của NHTM bao gồm cho vay, cho thuê tài
chính, bảo lãnh, bao thanh toán, chiết khấu, tài trợ xuất nhập khẩu và các
hình thức cấp tín dụng khác.
Trong đó thì cho vay là hoạt động phổ biến và phát triển nhất. Cho vay
là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho
khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời
gian nhất định theo thỏa thuận có hoàn trả cả gốc và lãi.
Để đảm bảo cho NHTM có thể duy trì và phát triển vững chắc, đòi hỏi
hoạt động cho vay của NHTM phải an toàn, hiệu quả. Chính vì vậy hoạt động
cho vay phải tuân theo những nguyên tắc nhất định:
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
6
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng
tín dụng.
- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay theo đúng thời hạn đã thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng.
Có nhiều cách phân loại cho vay khác nhau.
 Căn cứ vào thời gian vay : cho vay ngắn hạn, cho vay trung
hạn và cho vay dài hạn.
 Căn cứ vào mục đích vay : cho vay kinh doanh và cho vay
tiêu dùng.

phong phú: nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ, du lịch, học tập, y tế…
Cho vay tiêu dùng cho phép cá nhân, các hộ gia đình được sử dụng trước khả
năng mua của mình trong tương lai, tức là tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu
tiêu dùng trước khi họ có khả năng chi trả. Do đó ngoài việc nâng cao mức
sống về mặt vật chất thì nó còn gián tiếp kích thích sản xuất phát triển. Mặt
khác ở CVTD thì người vay sử dụng tiền vay vào mục đích không sinh lời và
nguồn trả nợ độc lập so với việc sử dụng tiền vay.
1.2.1.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
- Khách hàng vay
CVTD của ngân hàng nhằm tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng của đối
tượng khách hàng là cá nhân và hộ gia đình. Những người có thu nhập càng
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
8
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
cao thì nhu cầu vay tiền càng lớn và họ có xu hướng vay tiền nhiều hơn thu
nhập hằng năm của mình.
- Mục đích vay
Mục đích vay là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia
đình như: mua nhà đất, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, sửa chữa nhà, du
học…
- Quy mô khoản vay
Hầu hết các khoản vay tiêu dùng đều có giá trị nhỏ. Vì giá trị các
khoản vay được xác định trên cơ sở giá trị hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng
có nhu cầu tiêu dùng nhưng những thứ này thì không quá đắt đỏ. Hoặc do
những cá nhân, hộ gia đình cũng có một số tiền tích luỹ nhất định nên số tiền
họ còn thiếu phải đi vay sẽ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng nhu cầu để tiêu
dùng. Tuy nhiên số lượng các khoản vay là rất lớn nên tổng cho vay tiêu
dùng lại lớn. Đó là xu hướng tất yếu, khi xã hội ngày càng phát triển thì mức
độ thỏa mãn về cuộc sống của con người ngày càng cao, do đó nhu cầu tiêu
dùng ngày càng lớn.

hàng hoá dịch vụ nào đó, có thể có giá trị lớn hoặc nhỏ thì họ chỉ quan tâm
đến việc thu nhập của mình trong tương lai có thể trang trải được khoản vay
hiện nay hay không, nếu phù hợp họ sẽ vay để thoả mãn nhu cầu của mình.
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
10
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Tính nhạy cảm theo chu kỳ
Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh
tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, moi người tin rằng mình sẽ có một thu
nhập cao hơn trong tương lai từ đó nhu cầu người dân sẽ tăng lên dẫn đến
tăng nhu cầu cho vay tiêu dùng. Ngược lại khi nên kinh tế suy thoái, sức mua
của dân cư giảm sút, mọi người có xu hướng tiết kiệm hơn là tiêu dùng nên
họ sẽ hạn chế tìm kiếm các khoản vay từ ngân hàng. Do đó nhu cầu tiêu dùng
sẽ giảm.
- Chi phí thẩm định các khoản cho vay tiêu dùng cao
CVTD có chi phí lớn và rủi ro cao trong danh mục cho vay của ngân
hàng. Mỗi hợp đồng vay của cá nhân thường có giá trị nhỏ hơn nhiều so với
giá trị các hợp đồng vay của các đơn vị sản xuất. Giá trị hàng hóa tiêu dùng
thường không lớn hoặc khách hàng chỉ vay một lượng nhỏ để bổ sung số tiền
còn thiếu. Trong khi đó ngân hàng vẫn phải tiến hành đầy đủ các thủ tục cho
vay bao gồm thẩm định hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân, kiểm
soát Do đó chi phí tổ chức cho vay cao.
1.2.2. Vai trò của cho vay tiêu dùng
1.2.2.1. Đối với NHTM
CVTD giúp tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các ngân hàng
và tổ chức tín dụng khác, thu hút được đối tượng khách hàng mới, từ đó mà
mở rộng quan hệ với khách hàng. Bằng cách nâng cao và mở rộng mạng lưới,
đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng, số
lượng khách hàng đến với ngân hàng sẽ ngày càng nhiều hơn.
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01

Khi tiêu dùng tăng thì hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
được mở rộng, điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mặt khác còn
tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giúp tăng thu nhập, tiết
kiệm của cá nhân, mở rộng khả năng huy động vốn của các TCTD. Từ đó
góp phần thúc đẩy thị trường tài chính phát triển, mở ra cơ hội tiếp cận nguồn
vốn cho người dân, tạo ra sự phát triển ổn định và bền vững cho nền kinh tế.
1.2.3. Phân loại cho vay tiêu dùng
1.2.3.1. Căn cứ vào phương thức bảo đảm tiền vay
 CVTD có đảm bảo bằng tài sản: đây là phương thức CVTD của
ngân hàng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo
đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay
của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
 CVTD tín chấp: đây là hình thức cho vay mà theo đó nghĩa vụ trả nợ
không phải được đảm bảo thực hiện bằng tài sản mà là bằng sự tín nhiệm của
ngân hàng đối với khách hàng.
1.2.3.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
 CVTD trả góp: đây là hình thức CVTD trong đó người đi vay trả nợ
gồm cả gốc và lãi (lãi tính trên dư nợ thực tế) cho ngân hàng nhiều lần theo
những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường áp
dụng cho những khoản vay có giá trị lớn, thời hạn dài hoặc thu nhập định kỳ
của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Đây là
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
13
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
hình thức cho vay chủ yếu của các NHTM, loại hình này giúp cho khách
hàng vay không bị áp lực trả nợ vào cuối kỳ cao.
Đối với loại cho vay tiêu dùng này, ngân hàng thường chú ý tới một số
vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc sau:
+ Loại tài sản được tài trợ
Ngân hàng thường chỉ muốn cho vay đối với những khoản mua sắm

Thông hường các khoản CVTD này có giá trị nhỏ, thời hạn vay không
dài (thường dưới 1 năm) như các khoản cho vay để trang trải viện phí, du
lịch, mua các vật dụng gia đình, sửa chữa xe cộ…
 CVTD tuần hoàn: đây là hình thức CVTD trong đó ngân hàng cho
phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc thấu chi dựa trên
tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời gian tín dụng được thoả
thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ,
khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ
một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
1.2.3.3. Căn cứ vào thời hạn cho vay
 CVTD ngắn hạn: thời hạn vay dưới 12 tháng
 CVTD trung hạn: thời hạn vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
15
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
 CVTD dài hạn: thời hạn vay trên 60 tháng
1.2.3.4. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
 CVTD gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua lại các
khoản nợ từ các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu
dùng và thu lại từ khách hàng. Với hình thức này ngân hàng cho vay thông
qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp
xúc với khách hàng. Theo hình thức này, doanh nghiệp và khách hàng sẽ ký
kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa, thông thường khách hàng phải trả trước
một phần giá trị của hàng hóa. Doanh nghiệp và ngân hàng sẽ ký kết hợp
đồng mua bán nợ.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
- Cho phép ngân hàng dễ dàng mở rộng và tăng doanh số cho vay
tiêu dùng.
- Giúp ngân hàng giảm được chi phí trong cho vay
- Tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng và

1.3. Hiệu quả cho vay tiêu dùng của NHTM.
1.3.1. Quan niệm về mở rộng CVTD và hiệu quả CVTD
Mở rộng CVTD là sự tăng lên về qui mô cho vay tiêu dùng, số lượng
khách hàng, doanh số cho vay, dư nợ cho vay.
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
17
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Hiệu quả CVTD là khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu về vốn của
khách hàng để phục vụ cho mục đích tiêu dùng, bên cạnh đó thu hồi được gốc
và lãi, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng phù hợp với sự
phát triển kinh tế xã hội.
1.3.2. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay tiêu dùng
 Doanh số CVTD
Doanh số cho vay là tổng số tiền ngân hàng cho vay đối với nền kinh
tế trong một khoảng thời gian nhất định, nó phụ thuộc vào qui mô, chính sách
cho vay của ngân hàng, chu kỳ kinh tế, môi trường pháp lý. Doanh số CVTD
cho biết qui mô CVTD của ngân hàng đối với từng khách hàng cụ thể và với
cả nền kinh tế trong một khoảng thời gian.
Mức tăng trưởng doanh số CVTD = Doanh số CVTD năm nay – Doanh số
CVTD năm trước
Mức tăng trưởng doanh số CVTD lớn hơn 0 phản ánh qui mô cấp tín
dụng tiêu dùng của ngân hàng năm nay cao hơn năm trước. Đây là dấu hiệu
tốt cho thấy hoạt động CVTD đang được mở rộng.
Doanh số CVTD năm n
Tốc độ tăng trưởng doanh số CVTD = ( -1)x100%
Doanh số CVTD năm n-1
 Dư nợ CVTD
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
18
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa

hồi được. Nợ qua hạn la điều không tránh khỏi nhưng quan trọng là làm sao
có thể giảm nợ quá hạn đến mức thấp nhất. Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn
càng cao thì rủi ro càng lớn vì những khoản nợ quá hạn sẽ ảnh hưởng đến quá
trình khai thác và sử dụng vốn của ngân hàng, phá vỡ niềm tin của ngân hàng
đối với khách hàng vay, phá vỡ kế hoạch kinh doanh và đặc biệt ảnh hưởng
đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu của CVTD
Nợ xấu bao gồm các khoản nợ thuộc nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi
ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
của ngân hàng.
Dư nợ xấu CVTD
Tỷ lệ nợ xấu CVTD = x 100%
Tổng dư nợ CVTD
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
20
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Khi ngân hàng có nợ xấu nghĩa là rủi ro không thu hồi được vốn của
ngân hàng là rất cao. Nợ xấu nhiều phản ánh chất lượng tín dụng của ngân
hàng không tốt, chứa đựng nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh và ngược
lại. Do đó ngân hàng cần phải chú trọng sự an toàn trong cho vay, giảm nợ
xấu đến mức thấp nhất có thể chấp nhận được.
 Thu lãi từ CVTD
Tỷ trọng thu lãi từ CVTD tăng hay giảm qua các năm phản ánh qui
mô, xu hướng mở rộng hay thu hẹp CVTD của ngân hàng. Tỷ trọng này là tín
hiệu tốt để tiếp tục mở rộng, phát triển CVTD.
Chỉ tiêu này được xác định:
Thu lãi từ CVTD
X 100%
Tổng thu lãi cho vay của ngân hàng
 Hệ số thu hồi nợ CVTD

tín dụng thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ, đồng thời giúp cho lãnh đạo
ngân hàng thuận lợi hơn trong việc quản lý hoạt động tín dụng, là cơ sở để
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
22
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
xây dựng danh mục cho vay của ngân hàng đem lại hiệu quả cao, tăng cường
khả năng sinh lời…
 Qui mô, mạng lưới hoạt động của ngân hàng
Một ngân hàng qui mô lớn sẽ có mạng lưới giao dịch rộng khắp. Đây
là điều kiện thuận lợi để người dân có thể tiếp cận các sản phẩm của ngân
hàng nói chung và sản phẩm CVTD nói riêng. Bên cạnh đó, ngân hàng có qui
mô lớn sẽ có chi phí huy động vốn thấp hơn, do đó lãi suất cho vay thấp, làm
tăng khả năng cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng.
 Chất lượng nguồn nhân lực
Đây là nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển tín dụng nói
chung và CVTD nói riêng. Dưới con mắt của khách hàng thì đội ngũ nhân
viên là hình ảnh của ngân hàng, là người trực tiếp đem lại cho khách hàng
những cảm nhận về ngân hàng và đưa sản phẩm của ngân hàng đến gần với
khách hàng hơn. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trên các khía
cạnh: số lượng, cơ cấu nhân sự, trình độ cán bộ, năng lực điều hành kinh
doanh, đạo đức nghề nghiệp…Đội ngũ cán bộ nhân viên có chất lượng cao,
phục vụ chuyên nghiệp sẽ đem lại niềm tin cho khách hàng, thu hút được
nhiều khách hàng đến với ngân hàng, hạn chế được rủi ro trong quá trình
cung cấp tín dụng.
 Cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ ngân hàng
Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng ảnh hưởng lớn đến việc thu hút khách
hàng. Việc trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp, đáp ứng được nhu
cầu của khách hàng sẽ giúp ngân hàng gia tăng khả năng cạnh tranh, thu hút
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
23

Khách hàng là nhân tố mang tính quyết định đến chất lượng tín dụng,
nó được xem xét trên các khía cạnh nhu cầu vay vốn, thu nhập, trình độ văn
hóa đạo đức, tâm lý, tập quán, thói quen tiêu dùng…của khách hàng.
Người dân chỉ có nhu cầu vay tiêu dùng khi họ hình thành nhu cầu tiêu
dùng và không đủ khả năng tài chính để đáp ứng nhu cầu. Nhưng sự thiếu hụt
về tài chính không phải lúc nào cũng giống nhau và ở mỗi người cũng khác
nhau, chính vì vậy ngân hàng cần xác định chính xác nhu cầu thực sự của
khách hàng để khoản vay tiêu dùng đạt hiệu quả nhất.
Thu nhập của khách hàng rất quan trọng, đây là nguồn trả nợ chủ yếu
cho khoản vay và khách hàng cũng chỉ có nhu cầu tiêu dùng khi triển vọng
thu nhập trong tương lai của họ sẽ tăng và có đủ khả năng thanh toán.
Trình độ văn hóa cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
CVTD. Người có trình độ văn hóa cao thường có nhu cầu chi tiêu nhiều hơn
để đạt được mức sống cao hơn. Mặt khác, người có trình độ văn hóa cao
thường ý thức được quyền và nghĩa vụ của họ trong quan hệ vay mượn, do đó
ngân hàng sẽ an tâm hơn đối với khả năng trả nợ của họ, giảm bớt rủi ro cho
ngân hàng.
Yếu tố tâm lý, tập quán, thói quen tiêu dùng cũng tác động đến CVTD.
Ngân hàng chỉ có thể mở rộng CVTD tại những khu vực dân cư có xu hướng
thích tiêu dùng, hưởng thụ, ít e ngại rủi ro khi giao dịch với ngân hàng.
 Môi trường kinh tế
SV: Nguyễn Kim Ngọc Lớp CQ 46/15.01
25

Trích đoạn Các hình thức cho vay tiêu dùng đang được áp dụng tại NHTM cổ Quy trình nghiệp vụ cho vay tiêu dùng Đảm nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh Kiến nghị đối với Chính phủ, các Bộ, ngành Kiến nghị với NHTM cổ phần bưu điện Liên Việt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status