CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ ĐỜI TRẦN - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
__________________
Doãn Thị Hồng
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể Thầy cô khoa Ngữ
văn trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, phòng Khoa học- Công
nghệ sau đại học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu.
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đoàn Thị Thu
Vân, người đã tận tâm, chu đáo hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
này.
Và tôi cũng xin cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã
khích lệ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt
quá trình học tập.
Xin trân trọng cảm ơn.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2009
Người thực hiện luận văn Doãn Thị Hồng
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong mỗi một tác phẩm văn học, người nghệ sĩ luôn thể hiện các
quan điểm về nghệ thuật, về cuộc sống qua hình tượng thời gian và không
gian. Thơ đời Trần cũng vậy. Đó là thơ của một triều đại đặc biệt với những
biến cố lịch sử lớn lao, với tầm vóc phi thường của những con người bìn

cùng một phương diện giá trị độc đáo của thơ ca thời đại này.

2. Mục đích nghiên cứu

Tuy chưa có một công trình riêng biệt nào nghiên cứu vấn đề thời gian
trong thơ đời Trần nhưng rải rác trong các bài nghiên cứu, các tác giả ít nhiều
đều đề cập đến vấn đề này. Do đó, mục đích nghiên cứu của công trình này
không phải là khai thác một vấn đề hoàn toàn xa lạ và mới mẻ, tất nhiên, càng
không phải là sự nhắc lại một cách máy móc và không cần thiết. Trên cơ sở
nghiên cứu và kế thừa những công trình nghiên cứu trước đây, chúng t
ôi
muốn tổng kết một cách có hệ thống những biểu hiện của thời gian nghệ thuật
trong thơ đời Trần. Từ đó đi đến phát hiện những nét độc đáo của cảm thức
thời gian trong thơ thời ấy nhằm thấy được những đóng góp của phương diện
nghệ thuật này cho thơ ca đời Trần nói riêng, thơ ca trung đại nói chung. Bên
cạnh đó cũng đồng thời đi đến hiểu sâu hơn về văn học của một thời đại huy
hoàng trong lịch sử dân tộc.

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

3.1. Đối tượng
Thơ ca đời Trần tuy không thật nhiều về số lượng nhưng cũng không
phải là ít. Ở luận văn này, chúng tôi muốn đi tìm một quan niệm cụ thể về
thời gian của các nhà thơ đời Trần thông qua các bài thơ có thể hiện trực tiếp
hoặc gián tiếp yếu tố thời gian. Thời gian qua cách nhìn, cách cảm nhận của
tác giả đối với thế giới chung quanh, từ quá khứ đến hiện tại, có tác dụng soi

tỏ cuộc sống trong quá khứ của cha ông không chỉ giúp ta hiểu hơn về cuộc
sống tâm hồn, tính cách của các bậc tiền bối mà còn giúp ta gạn đục khơi
trong cho cuộc sống mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn, nhân ái hơn.


4. Lịch sử vấn đề
Tuy chưa có một công trình chuyên biệt nào dành riêng để khảo sát,
nghiên cứu vấn đề cảm thức thời gian trong thơ đời Trần nhưng thời gian
nghệ thuật vốn được coi là một biểu hiện quan trọng của thi pháp nên trong quá trình nghiên cứu các vấn đề của văn học trung đại, các tác giả đều lưu tâm
xem xét, đề cập đến nó.
Đầu tiên phải kể đến công trình Thi pháp Văn học trung đại Việt Nam
của tác giả Trần Đình Sử. Trong công trình này, tác giả đã dành hơn bốn trang
viết để nói về thời gian trong thơ trung đại nói chung với các nội dung như
mô hình chung của thời gian, thời gian vũ trụ bất biến, thời gian con người.
Nội dung và các khái niệm m
à Trần Đình Sử xác lập tuy không phải dành
riêng cho thơ đời Trần nhưng nó đã bao quát được những biểu hiện dễ thấy
nhất của thời gian trong thơ trung đại, giúp người đọc nhận rõ những đặc
trưng cơ bản nhất của thơ ca trung đại, đồng thời có thể phân biệt dễ dàng với
thời gian trong thơ ca dân gian và thơ ca hiện đại. Tác giả nghiên cứu thời
gian trong thơ ca trung đại Việt Nam dựa trên việc so sánh và lí giải sự ảnh
hưởng về quan niệm, biểu hiện của thời gian trong t
hơ ca Trung Quốc.
Về thời gian trong thơ trung đại, tác giả đã xác lập được các khái niệm
như sau: Thời gian vũ trụ bất biến trong thơ từ thế kỉ X- XVII; Vô thời gian
trong thơ Thiền - loại thời gian “bất biến, thường trụ, bởi vì không sinh không
diệt” [58, tr.197]
; Thời gian lịch sử trong thơ tương quan với thời gian vũ trụ -
kiểu thời gian được không gian hóa với “tính bất biến của lịch sử hóa thân
vào dấu tích” [58, tr.204]; Và cuối cùng là thời gian con người với nỗi buồn
thương u uất cá nhân.

dẫn chứng. Vấn đề được đặt ra giúp người đọc có thể hình dung những nét
tiêu biểu nhất của văn học trung đại. Có thể xem những nội dung mà tác giả
đề cập, luận giải là cái “nền” để trên cơ sở đó, ta có thể đi tìm những nét đặc
trưng một cách sâu hơn, rõ hơn trong một triều đại văn học cụ thể.
Trong chuyên đề bài giảng cao học Thơ Thiền Việt Na
m thời Lý -
Trần, khảo sát từ góc độ nghệ thuật, tác giả Đoàn Thị Thu Vân cũng quan
tâm đề cập và lí giải khá rõ những biểu hiện của thời gian trong thơ Thiền Lý-
Trần như là một biểu hiện của thi pháp thơ Thiền. Với khoảng một trang viết,
tác giả chuyên đề cố gắng t
ruyền tải một cách cô đọng những đặc điểm về
thời gian nghệ thuật trong thơ Thiền Lý - Trần với những biểu hiện cơ bản sau: Một là thơ Thiền đề cập đến “Thời gian hiện thực của trần thế vô cùng
ngắn ngủi và chóng vánh” [87, tr.14].
Hai là tác giả thơ Thiền “đặc biệt đề cao thời gian hiện tại, chủ trương
sống cho trọn vẹn cái “giây phút này”” [87, tr.14]
Ba là “thời gian vĩnh hằng nằm trong thời gian chuyển động”[87, tr.15]
Bốn là “thời gian đóng vai trò cột mốc cho một bước ngoặt của tâm
thức, đánh dấu sự đổi khác giữa sau và trước” [87, tr.15]

Cuối cùng là thời gian trong thơ Thiền “thường là mùa thu, ban đêm
(với trăng sáng, gió trong và hơi đêm mát lạnh). Đó là thời điểm của sự hòa
điệu giữa con người và vạn vật, vũ trụ” [87, tr.15].
Như vậy, tiếp cận chuyên đề này, người đọc cũng phần nào nắm rõ
được những đặc trưng cơ bản của vấn đề thời gian trong thơ Thiền đời Trần.
Nhưng như tên chuyên đề đã xác định, trọng tâm của chuyên đề vẫn l
à sự
khảo sát tất cả các yếu tố nghệ thuật của thơ Thiền Lý - Trần nói chung. Cho

lặng lẽ, cái tiểu ngã hòa vào cái đại
ngã của vũ trụ, tìm thấy giây phút an
nhiên tư tại, đó là những khoảnh khắc bừng sáng của trí tuệ và tâm hồn, vượt
cả không gian và thời gian. Nó là thời gian, không gian của tâm linh huyền
diệu, siêu thoát của Thiền Tông”[95, tr.105]
Vì đây chỉ là một phần nhỏ của luận văn nên tác giả hầu như chỉ đề cập
đến mà chưa có sự đi sâu một cách cặn kẽ, thấu đáo. Sự điểm
qua ấy dù sao
cũng đã cho ta thấy những nét cơ bản của yếu tố thời gian trong thơ của các
Thiền sư đời Trần - một lực lượng cầm bút quan trọng đã tạo nên diện mạo
của văn học đời Trần.
Công trình thứ hai là Con người trong thơ Thiền Lý Trần dưới góc
nhìn thi pháp học hiện đại (2005) của tác giả Trần Hoàng Hùng. Trong công
trình này, tác giả cũng xem
xét thời gian, không gian như những yếu tố nghệ
thuật quan trọng trong việc thể hiện tâm hồn con người. Tác giả phân biệt sự
khác nhau trong quan niệm về thời gian của Nho gia, Đạo gia và Phật giáo, từ
đó nhấn mạnh những yếu tố đặc trưng trong thơ Thiền. Theo tác giả, thời gian
trong thơ Thiền Lý - Trần là thời gian thực tại vận động tuần hoàn gắn liền với quy luật “sinh, trụ, dị, diệt”; “sinh, lão, bệnh, tử” của đời người. Bên cạnh
đó, còn có “khoảnh khắc chợt tỉnh” khi con người ở giữa mốc giao điểm giữa
mê và ngộ [36, tr.18]. Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến một số thời điểm đặc
biệt trong thơ Thiền như mùa thu, ban đêm…. Mặc dù những ý kiến của tác
giả mới dừng lại ở mức độ mang tính kế thừa nhưng những đóng góp của nó
cũng không thể phủ nhận. Đó là sự khai thác sâu, cặn kẽ qua các dẫn chứng.
Tuy nhiên,
nhìn một cách tổng quát, vấn đề vẫn chưa được khai thác một cách
triệt để, ngõ hầu giúp người đọc có thể chứng kiến toàn bộ những biểu hiện

Băng Thanh, trong quá trình l
í giải những điểm mờ trong hành trạng vị sư nổi
tiếng này đồng thời với việc cắt nghĩa những vẫn thơ đầy hàm ý của ông,
cũng đã đề cập đến kiểu thời gian tồn tại trong tác phẩm Huyền Quang. Đó là
kiểu thời gian chất chứa nhiều tâm
sự trễ nãi, buồn chán. Tất nhiên thơ ông có
niềm vui những nỗi buồn vẫn là cái đọng lại sâu sắc hơn cả. Trong nỗi cô đơn
ngập tràn, nhà thơ đã “phó mặc cho ngày tháng cứ trôi đi chậm chạp còn con
người thì gần như trở nên vô cảm hoặc “lười biếng” ngay cả với công việc
hàng ngày của tăng chúng” [70, tr.78].
Ở một bài viết khác Trương Hán Siêu và tư tưởng nghệ thuật thời Lý
Trần (Đã đăng trên Tạp chí nghiên cứu Phật học số 2/1996,
đăng lại trong
công trình Trên hành trình văn học trung đại (sđd)), tác giả Nguyễn Phạm
Hùng cũng tìm thấy hai kiểu tư duy tiêu biểu trong thơ văn Trương Hán Siêu
nói riêng và thơ văn Lý - Trần nói chung, đó là kiểu tư duy hướng ngoại thời
thịnh Trần và tư duy hướng nội thời Vãn Trần. Ở kiểu tư duy thứ hai, t
ác giả
tìm thấy ‘cảm giác trông vắng, hiu quạnh, hẫng hụt của con người khi quá
khứ huy hoàng đã đi qua’ [34, tr.391]; là lời cảnh tỉnh con người trước sự suy
thoái của xã hội, nhắc nhở con người không được quên quá khứ huy hoàng
[34, tr.392]…
Trên đây là một số công trình, bài viết có liên quan đến vấn đề thời
gian thơ đời Trần. Sự điểm qua ấy có lẽ chưa thật đầy đủ. T
uy nhiên, chúng
tôi cũng cố gắng nêu lên những nhận xét có tính bao quát và điển hình đối với vấn đề cần khảo sát để giúp người đọc thấy được những mặt đã được khai
thác, những mặt chưa đi sâu và phần nào sẽ được tiếp tục trong luận văn này.


Phần mở đầu: Lí do chọn đề tài; Mục đích nghiên cứu; Đối tượng nghiên
cứu và phạm vi khảo sát; Lịch sử vấn đề; Phương pháp nghiên cứu; Cấu trúc
luận văn.
Phần nội dung: Gồm 4 chương:
- Chương 1: Thời đại và cảm thức thời gian trong thơ ca trung đại Việt Nam.
- Chương 2: Cảm thức thời gian trong thơ Thiền đời Trần .
- Chương 3: Cảm thức thời gian trong t
hơ thế tục đời Trần.
- Chương 4: Nghệ thuật thể hiện thời gian trong thơ đời Trần.
Phần kết luận. Chương 1:
THỜI ĐẠI VÀ CẢM THỨC THỜI GIAN
TRONG THƠ CA TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1.1. Thời đại của hào khí Đông A- một mốc son trong lịch sử dân tộc
Cho đến hôm nay, khi lịch sử dân tộc đã bước sang một trang mới thì
những dấu ấn vẻ vang của triều đại nhà Trần vẫn còn vang vọng những âm
hưởng hào hùng, sảng khoái.
Thời đại ấy đã bắt đầu bằng một sự chuyển giao tương đối êm thấm,
hợp tình hợp lý. Người đời đã quên những toan tí
nh, thủ đoạn của Trần Thủ
Độ khi tìm mọi cách lấy ngôi báu về cho nhà Trần. Vì thời đại ấy đã ba lần
chiến thắng quân Nguyên – Mông, một thế lực hung hãn, hiếu chiến từng
chiếm trọn châu Á và nửa châu Âu. Triều đại ấy đã biết tập hợp, kích thích
lòng dân để tinh thần yêu nước và đoàn kết dân tộc được phát huy một cách
cao độ: Từ trang thiếu niên Trần Quốc Toản từng bóp nát quả cam ở hội nghị

Tông, vị anh hùng dân tộc đồng thời là người khai sáng phái Trúc Lâm Yên
Tử. Pháp Loa, con người cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hoằng dương
chánh pháp. Và Huyền Quang, vị trạng nguyên bác học, nhà phật học uyên
thâm… Chính họ đã tạo nên những nét văn hóa đặc sắc chỉ có được ở đời
Trần. Tinh thần bao trùm lên thời đại này là tự do và phóng khoáng. Bởi thế,
nó đã thúc
đẩy sự trỗi dậy của bản sắc văn hóa dân tộc một cách tối ưu. Người
nắm vận mệnh đất nước có bản lĩnh, có sự mẫn cảm phi thường, có sự cởi mở
về quan điểm chính trị… Thế nên, thời Trần còn là thời cực thịnh của sự hòa
hợp tôn giáo. Triều đình cho dựng chùa đồng thời với lập các đạo cung đạo
quán, dựng Văn Miếu và Quốc Tử Giám, quan tâm
đến việc đặt giai phẩm
cho tăng đạo, lại sắc phong cho các vị Nho thần. Sự dung hợp Nho, Phật, Đạo
phải chăng cũng là biểu hiện cho tinh thần kêu gọi khối đoàn kết dân tộc, phát
huy sức mạnh của nó trong công cuộc chống ngoại xâm?
Bên cạnh đó, khi nói đến triều đại nhà Trần không thể không nói tới
tinh thần nhân văn rộng mở. Thời đại ấy không chỉ được ghi nhận bởi âm
hưởng hào hùng của công cuộc chống ngoại xâm vĩ đại. Nó còn là âm hưởng
của một thứ nhạc trầm, trầm của cái sâu thẳm
trong tâm hồn nhạy cảm tinh tế trước thiên nhiên và con người, trầm của giây phút riêng tư không vướng bận
bởi nghĩa vụ…
Khi nhà Trần đi vào bước suy vi, vẫn còn đó những trí thức phong kiến
nặng lòng với dân với nước. Và tuy âm hưởng hào hùng đã trở thành một thứ
âm hưởng chủ đạo của thời đại này nhưng những con người đầy tài năng và
tâm huyết mà bất lực trước thời cuộc cũng đã tạo nên một sắc thái độc đáo
riêng. Ấy l
à tiếng nói đầy trăn trở băn khoăn. Suy cho cùng, đó cũng chính là

của họ chứ không phải của một ai khác. Bởi thế, thời gian khách quan khi đi
vào tác phẩm nghệ thuật dường như đã không còn là chính nó. Người ta có
thể thấy thời gian nhanh như thoi đưa, hoặc chậm đến nỗi một ngày như nghìn
thu; Hoặc thời gian không còn là một khái niệm t
rừu tượng mà có khi tồn tại
ở dạng cụ thể như hương vị, như màu sắc, như vật thể hiện hữu. Thời gian
được cảm nhận không phải bằng các đại lượng vật lý thông thường như giây,
phút, giờ, tháng, năm… mà bằng chính cảm xúc mang rất rõ yếu tố chủ quan
của con người . Tâm lí trong cảnh li biệt có thể làm cho con người ta cảm thấy
thời gian trôi đi sao thật lâu. Thời gian đời n
gười, đối với mỗi cá nhân mà nói,
cũng khác nhau hoàn toàn. Có người thấy đời người dài dằng dặc mà con
người phải tồn tại để gánh chịu sự đày ải; Có người thấy cuộc đời sao ngắn
ngủi như một cái chớp mắt, ngắn ngủi như giấc mộng, thở ra chưa kịp hít vào
đã hết một đời …
Con người thông qua cách cảm nhận về thời gian để trì
nh bày quan
niệm, sự hiểu biết, đánh giá của mình về cuộc đời, về con người, về cái đã
qua, cái hiện tại, cái sắp tới… Thời gian là một đại lượng tồn tại khách quan.
Thế nhưng, đối với mỗi cá nhân, nó lại mang một màu sắc, một dấu ấn riêng
độc đáo. Bởi thế, thông qua cách con người nhìn nhận, đánh giá về thời gian,
ta có thể phần nào đọc được tâm hồn, tính cách của họ.
Thời gian không phải là một yếu tố duy nhất hé mở thế giới tâm
hồn
con người. Bên cạnh đó còn có cảm thức về không gian, về con người, về các
hiện tượng tự nhiên… Thế nhưng có một điều rất dễ nhận ra là không một ai
lại có thể đứng ngoài bước đi của thời gian, không một ai lại không một đôi
lúc thấy cuộc đời hoặc ngắn ngủi hoặc đằng đẵng. Có nghĩa là cảm t
hức về
thời gian là một hiện tượng mang tính phổ quát. Thế nên xem xét và đánh giá

vi của tâm hồn để chiêm nghiệm lại chính con người và cuộc sống của mình,
để tìm niềm vui và ý nghĩa cuộc sống ngay trong nỗi buồn, trong những mất
mát vì bài học tâm hồn là bài học luôn mới mẻ, ngay cả khi ta nhận được nó
từ những người cách ta hàng ngàn năm.
1.2.2. Cảm thức thời gian trong thơ ca trung đại Việt Nam

Kéo dài gần mười thế kỉ, văn học trung đại tuy vẫn được nhìn nhận như
một nền văn học tồn tại trong tính quy phạm chặt chẽ nhưng thật ra, ở mỗi
thời đại, mỗi cá nhân, ta vẫn nhận ra những nét cá tính độc đáo, tinh tế.
Phương diện thời gian nghệ thuật trong thơ ca trung đại tuy bị chi phối bởi
những quan niệm được kế thừa của văn học Trung Hoa nhưng không vì thế
mà không lưu lại dấu ấn cho mỗi thời đại.
Về cơ bản, theo giáo sư Trần Đình Sử, như đã đề cập trong phần lịch sử
vấn đề, thời gian trong văn học trung đại được nhìn nhận dưới hai khía cạnh.
Thứ n
hất, thời gian luôn gắn liền với cảm hứng lịch sử. Ở khía cạnh này, thời
gian biểu hiện qua những nghĩ suy về thời cuộc, về dân tộc, về lẽ thịnh suy
của thời đại. Thứ hai, con người trung đại nhận thức về thời gia
n dưới hai
bình diện đối lập: đó là thời gian vũ trụ trôi chảy vĩnh hằng và thời gian đời
người ngắn ngủi chóng vánh. Và cũng theo giáo sư Trần Đình Sử, dấu ấn về
thời gian trong thơ ca trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc quan niệm
thời gian trong thơ ca Trung Quốc. Tuy nhiên, đọc thơ ca trung đại Việt N
am,
ta vẫn nhận ra những nét hồn hậu, giản dị rất đặc trưng của con người phương
Nam vốn có một nền văn hiến riêng biệt. Thời gian vì thế cũng mang cái cốt
cách dân tộc ấy.

biến đổi lớn lao đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về thời gian của các tác
giả văn học trung đại. Họ không đứng ngoài thời gian lịch sử vốn gắn liền với
vận mệnh dân tộc. Và hôm nay nhìn lại những biểu hiện về thời gian trong
các trang viết của họ, ta đọc được niềm l
o lắng, sự thương yêu con người của
họ. Có lúc họ đành bất lực nhìn lịch sử xoay vần điên đảo. Nhưng một cái
Tâm sáng trong, vị tha là điều đã vượt qua thời gian để đến hôm nay những
thế hệ đi sau còn thấy ấm lòng và ngưỡng vọng.
Mặc dù thơ ca trung đại chủ yếu đề cập đến những vấn đề lớn lao của
thời đại và dân tộc nhưng bản chất của t
hơ bao giờ cũng là sự bộc lộ thế giới
nội tâm, nội cảm. Khi đối diện với thế giới khách quan, con người trung đại
thường cảm thấy mình bé nhỏ, hữu hạn trong cái bao la trường cửu của không
gian và thời gian vũ trụ. Thế nên, trong thơ, đặc biệt là thơ Thiền, ta cảm nhận được chiều dài vĩnh hằng của thời gian vũ trụ và thời khắc ngắn ngủi, chóng
vánh của kiếp người. Khác với kiểu thời gian lịch sử như đã trình bày ở phần
trên, thời gian ở phương diện này luôn hiện lên bằng một cặp phạm trù đối
lập: đó là cái vĩnh hằng, vô hạn, vô thủy, vô chung của thời gian khách quan
và cái ngắn ngủi, hữu hạn, vô nghĩa trong đời con người. Chúng hiện l
ên khi
là sự nuối tiếc thiết tha, khi là thái độ chấp nhận bình thản. Nuối tiếc vì con
người cảm thấy còn nặng nợ với đời, cảm thấy bất lực và nhỏ bé trước sự vận
động vĩnh hằng của thời gian vũ trụ. Bình thản khi con người đã đạt đến trạng
thái tự do tuyệt đối của tâm hồn, quên hết thảy nỗi ám ảnh về cái chóng lụi
tàn của kiếp người mà sống vui, sống khỏe, sống tự tại… Nỗi lo lắng thường
có trong c
on người thi sĩ – nhà Nho bởi lẽ, con người nhà Nho là con người
của trách nhiệm. Còn sự bình an tuyệt đối thường được cảm nhận bằng con

hồn và tính cách con người
thời đại nhà Trần.
Người cầm bút viết thơ Thiền cũng chính là người cầm vũ khí đánh
giặc. Người làm thơ Thiền có khi cũng là người nhập thế tích cực hơn ai
hết… Và thơ Thiền, qua những vần thơ đạm bạc, nhẹ nhàng đã biểu lộ tinh tế
những rung động sâ
u xa, những nghĩ suy, chiêm nghiệm trong cuộc sống của
thiền sư – thi sĩ. Thơ Thiền là mảnh đất bình yên nuôi dưỡng tâm hồn con
người sau những ồn ào triều chính, sau những được mất ở cuộc sống vốn rất
nhiều những lo toan và phiền lụy. Bởi vốn dĩ, tự trong sâu thẳm tâm hồn, con
người vẫn chuộng cõi riêng tư, tự do. Trải thân chốn xa trường, tham gia triều
chính là bổn phận, l
à nghĩa vụ của bậc chí nhân quân tử. Nhưng thẩm mĩ dân
tộc cũng hướng họ biết yêu và rung cảm trước những gì thanh nhã, tinh tế…
Cho nên, đọc tâm hồn của con người đời Trần, nhất là cái khoảng tâm hồn
trong những khoảnh khắc trống không, vắng lặng trước cuộc đời, không thể
không đọc thơ Thiền. Đạo trong Thiền vốn không phải là thứ đạo dạy con
người sợ hãi và trốn t
ránh cái chết, trốn tránh cuộc đời. Thơ Thiền hướng con
người trở về cái bản ngã đích thực, trở về cái gốc hồn nhiên trong sáng như
trẻ thơ. Bởi thế, thơ Thiền là thứ thơ của tình yêu người, yêu đời hơn hết. Và
khái niệm yêu đời và ham sống ở đây được hiểu là: Người theo Thiền không
bám riết lấy cuộc sống trần tục vốn rất nhi
êu khê, thậm chí, ngay cả ngai vàng điện ngọc, đối với họ cũng như chiếc giày rách, có thể dễ dàng từ bỏ mà
không nuối tiếc.
Thơ Thiền cho phép ta “ ngộ” ra rất nhiều phần tâm linh sâu kín của
các bậc tiền nhân. Nó ra đời từ thời Lý cùng với những thành tựu của Phật

khắc đặc biệt ấy bằng những vần thơ bình đạm, nhẹ nhàng và tinh tế. Kiểu
thời gian này được tìm thấy không ít trong thơ Trần Thái Tông, Tuệ Trung
thượng sĩ, Trần Thánh Tông, Trần Minh Tông, Huyền Quang… Mỗi người
đều tự tạo cho mình một phong cách riêng độc đáo. Tuy nhiên, lòng ham
sống, yêu mến từng khoảnh khắc của thực tại đã giúp họ gặp nhau trong sự
cảm nhận về thời gian.
Trước hết, ta hãy đọc thơ Trần Thái Tông. Người đến với thơ Thiền để
đi tìm
niềm thanh thản cho tâm hồn sau những bi kịch mà thời đại và sứ mệnh
lịch sử đã khoác lên số phận của mình. Trần Thái Tông làm vua, đánh giặc,
chống ngoại xâm, xây dựng một triều đại vừa thoát thai từ sự suy vi của nhà
Lý. Và Trần Thái Tông còn là một nhà thơ với những rung cảm tinh tế trước
thiên nhiên, với những trăn trở thao thức trước thế sự, cuộc đời. Thơ Trần
Thái Tông nổi bật với cảm hứng sám
hối. Tuy nhiên không vì thế mà thơ ông
thiếu vắng niềm vui trần thế. Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn là một
minh chứng điển hình:
Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình,
Tâm kì phong cảnh cộng thê thanh.
Cá trung tư vị vô nhân thức,
Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh.
(Gió đập cửa thông, t
răng sáng trước sân,
Lòng hẹn với phong cảnh cùng trong sạch lặng lẽ,
Bao nhiêu thú vị trong đó không ai hay,
Mặc cho nhà sư trong núi vui đến sáng.)
Bài thơ đã đề cập đến một thời khắc đặc biệt: đó là lúc con người và
cảnh vật hòa điệu trong một niềm an lạc bất tận. Và niềm vui đã nhẹ nhàng
lan tỏa vào cảnh và lòng người, không chút ồn áo, náo nhiệt. Niềm vui tràn
đầy được tìm thấy, không phải ở chốn nào xa lạ với con người. Đó là gió, là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status