Quản lí rủi ro tín dụng tại SACOMBANK chi nhánh Đống Đa - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Tín dụng là
một hoạt động cơ bản và chủ yếu của ngân hàng. Hoạt động tín dụng có vai
trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng.
Nói đến tín dụng có rất nhiều vấn đề như: cho vay, đầu tư...Có các quá
trình thẩm định các dự án để đưa ra quyết định tài trợ. Hoạt động tín dụng
đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng nhưng rủi ro tín dụng cũng rất cao, rủi ro
tín dụng là không thể tránh khỏi trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng
của mỗi ngân hàng, rủi ro tín dụng có tác đọng đến không chỉ bản thân ngân
hàng mà còn có tác động đến lĩnh vực tài chính tiền tệ từ đó tác động đến nền
kinh tế vĩ mô. Chỉ có thể phòng ngừa và hạn chế rủi ro bằng việc làm tốt công
tác quản lí rủi ro chứ chưa thể loại trừ rủi ro ra khỏi hoạt động tín dụng. Chính
vì vậy mà em đã chọn đề tài: “Quản lí rủi ro tín dụng tại SACOMBANK chi
nhánh Đống Đa ”.
Bằng phương pháp so sánh trong phân tích hoạt động tín dụng, em muốn
đưa ra để phân tích hoạt động tín dụng của ngân hàng với những rủi ro thường
gặp, rút ra được những mặt hạn chế, những nguyên nhân, bài học kinh
nghiệm. Để từ đó có biện pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hiện tại và tương
lai.
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 phần:
Chương I: Khái quát về hoạt động ngân hàng và quản lí rủi ro tín dụng
ngân hàng
Chương II: Thực trạng tín dụng tại Sacombank Đống Đa.
Chương III: Kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh
Sacombank Đống Đa
Nguyễn Trọng Hùng
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ

của ngân hàng cũng có những bước phát triển phù hợp như: NHTM cung ứng
cho nền kinh tế một số phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, uỷ nhiệm
thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, thẻ thanh toán.
1.1.2.3. Chức năng tạo tiền.
Giả sử ban đầu Tài sản có của ngân hàng A(dự trữ) là 100tr, với tỷ lệ dự
trữ bắt buộc là 10% ngân hàng sẽ cho vay 90tr. Một khách hàng đến vay 90tr
để thanh toán cho khách hàng của mình bằng chuyển khoản đến ngân hàng
Bơi cần thanh toán). Lúc này bên tài sản có (dự trữ) của ngân hàng B là 90tr.
Ngân hàng B cũng cho vay với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%. Cứ như vậy với
một lượng tiền ban đầu ứng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%, hệ thống NHTM
sẽ có thể tạo thêm cho nền kinh tế một lượng tiền gấp 10 lần lượng tiền ban
đầu.
Tổng bút tệ tạo ra = 100+90+81+72,9+....=1000 tr
1.1.3. Vai trò của NHTM.
NHTM là một trung gian tài chính do đó nó giữ vị trí quan trọng trong
hệ thống tài chính. Nó thực sự đem lại lợi ích trọn vẹn và đầy đủ cho cả người
Nguyễn Trọng Hùng
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có vốn, người cần vốn, cho cả nền kinh tế xã hội và bản thân các tổ chức tài
chính trung gian.
Do chuyên môn hoá và thành thạo trong nghề nghiệp, NHTM đáp ứng
đầy đủ, chính xác và kịp thời yêu cầu của người cần vốn và người có vốn. Sự
hoạt động ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng, với mức lãi suất huy
động hấp dẫn khách hàng- thường xuyên thay đổi lãi suất một cách hợp lý và
đa dạng hoá các dịch vụ đã thu hút được khối lượng vốn lớn trong nền kinh
tế. Chính vì vậy ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết
mọi nền kinh tế.
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Do đó ngân
hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để làm phương tiện thanh toán, tài

phí dịch vụ.
1.1.4.2. Nhận tiền gửi.
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Ngoài nguồn vốn
tự có của mình, ngân hàng còn phải huy động vốn từ nhiều tổ chức khác nhau
trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư sinh lời.
1.1.4.3. Cho vay.
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao. Ngay thời kỳ đầu các ngân
hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người
bán. Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với khách hàng là người mua,
giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
Với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu vốn của khách hàng ngày càng
tăng thì nghiệp vụ cho vay của ngân hàng cũng trở nên đa dạng hơn như: cho
vay tiêu dùng, cho vay ngắn hạn, tài trợ cho dự án trung và dài hạn...
Nguyễn Trọng Hùng
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.4.4. Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng
đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt. Việc thanh toán không dùng
tiền mặt đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho
khách hàng. Chính vì vậy đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng
để nhờ ngân hàng thanh toán hộ.
1.1.4.5. Bảo lãnh.
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do
ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong
bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của
mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn
của tổ chức tín dụng khác...
1.1.4.6. Các dịch vụ khác.

Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (trái chủ hoặc
người cho vay) chu cấp tiền, hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng khoán dựa vào lời
hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (thụ trái hoặc người đi vay).
Thông thường những giao dịch này còn bao gồm cả việc thanh toán lợi tức
cho người cho vay.
Tín dụng ngân hàng là sự cho vay hay ứng trước tiền do ngân hàng thực
hiện. Bản thân ngân hàng là người cho vay còn người đi vay là những khách
Nguyễn Trọng Hùng
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng khác nhau. Giá mà ngân hàng ấn định cho khách hàng khi đi vay là tiền
hoa hồng mà họ phải trả trong suốt thời gian tồn tại khoản ứng trước đó.
1.2.2. Ý nghĩa hoạt động tín dụng đối với ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ
bản của ngân hàng. Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao
nhất cho NHTM. Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường
chiếm tới hơn 1/2 tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm khoảng từ 1/2
đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng. Mặt khác, rủi ro trong kinh doanh ngân
hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Khi ngân hàng
rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường
phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến rủi ro về lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro
nguồn vốn. Do đó các ngân hàng phải có những biện pháp quản lý hoạt động
tín dụng một cách thích hợp để nâng cao chất lượng tín dụng. Nhằm mang lại
hiệu quả kinh doanh cao cho ngân hàng.
1.2.3. Các loại tín dụng ngân hàng.
Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách
hàng với những mục đích sử dụng khác nhau.
1.2.3.1. Căn cứ vào thời hạn cho vay.
Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn đến 1 năm. Thường

ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
Nguyễn Trọng Hùng
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cho thuê tài chính: Là việc ngân hàng mua các trang thiết bị, máy móc
và cho thuê lại chúng.
Tín dụng khác: bao gồm các khoản tín dụng như tín dụng kinh doanh
chứng khoán...
1.2.4. Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định
nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời.
1.2.4.1. Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian
xác định.
Các khoản tín dụng ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền
gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng phải có
trách nhiệm hoàn trả cả lãi và gốc như đã cam kết. Do vậy ngân hàng luôn
yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này. Đây là điều
kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển.
1.2.4.2. Việc sử dụng vốn vay.
Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả
thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy
định khác của ngân hàng cấp trên.
1.2.4.3. Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả.
Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất.
Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng
thu hồi được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ ngân hàng. Các khoản tài trợ của
ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay. Trong
trường hợp xét thấy kém an toàn, ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sản
đảm bảo khi vay.
Nguyễn Trọng Hùng

+ Rủi ro từ phía người cho vay (ngân hàng, các tổ chức tín dụng) gồm:
Rủi ro ở khâu chính sách, rủi ro ở khâu nghiên cứu, theo dõi, quản lý và xử lý
rủi ro, rủi ro ở khâu thông tin, rủi ro ở khâu cán bộ, rủi ro ở công tác kiểm tra,
kiểm soát.
+ Rủi ro từ phía người vay gồm: Rủi ro về đạo đức (chủ quan); Rủi ro do
khả năng tài chính yếu kém của người vay; Rủi ro do biến động khả năng
kinh doanh của người vay; Rủi ro từ phía người điều hành doanh nghiệp, mối
quan hệ của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác; Rủi ro bất khả kháng.
- Phân loại khác: Rủi ro từ khâu quản lý, kiểm tra của NHNN; Rủi ro
phát sinh từ chế độ chính sách của Nhà nước; Rủi ro quốc gia; Rủi ro môi
trường; Rủi ro khác như do sự đánh giá không khách quan, chính xác của cơ
quan công chứng đối với tài sản thế chấp, do việc cho vay bị áp đặt bởi cấp
trên...
1.3. QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.
1.3.1. Khái niệm
Là phương pháp nghiên cứu, so sánh trong phân tích hoạt động tín dụng,
từ đó đưa ra để phân tích hoạt động tín dụng của ngân hàng với những rủi ro
thường gặp, rút ra được những mặt hạn chế, những nguyên nhân, bài học kinh
nghiệm. Để từ đó có biện pháp nhằm quản lí rủi ro trong hiện tại và tương lai.
1.3.2. Mục đích
1.3.2.1.Đảm bảo tính thanh khoản
Rủi ro tín dụng có ảnh hưởng đến thu nhập và uy tín của ngân hàng bởi
vì: Nhiệm vụ đầu tiên của ngân hàng là nhằm bảo vệ tiền gửi của khách hàng.
Nếu một khoản cho vay nào đó bị thất thoát (không thu hồi được) thì trước
tiên làm cho ngân hàng không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền.
Nguyễn Trọng Hùng
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngân hàng cũng phải có trách nhiệm với các cổ đông, phải đảm bảo mức chia
lãi tức cổ phần hợp lý cũng như đảm bảo mức lương nhất định đối với nhân

1.3.2.2. Đảm bảo tính sinh lời
Khi có tổn thất xảy ra, trước hết thu nhập của ngân hàng giảm sút, dẫn
đến tỷ suất lợi tức và thị giá cổ phiếu của ngân hàng giảm. Việc cổ phiếu
giảm giá sẽ có thể kéo theo việc bán hàng loạt cổ phiếu trên thị trường, là
điểm mở đầu của quá trình mua lại, sát nhập, thay thế ban quản lý ngân hàng.
Rủi ro tín dụng có thể dẫn đến nhiều hậu quả, mọi người sẽ mất lòng tin ở
ngân hàng và việc huy động vốn của ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn. Rủi ro
tín dụng không chỉ có ảnh hưởng đến phạm vi của một ngân hàng nào đó mà
nó ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, đến thị trường tài chính, từ đó
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế.
Do đó việc quản lý để hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng là điều rất cần
thiết trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.3.2.3.Hạn chế rủi ro
Ngân hàng là một trung gian tài chính, hoạt động của mỗi ngân hàng có
sự tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống tài chính. Nếu có sự thất thoát
trong hoạt động tín dụng nào đó, dù chỉ một ngân hàng và ở một mức nhất
định nào đó cũng sẽ đe doạ đến tính an toàn và tính ổn định của toàn hệ thống
ngân hàng. Từ đó sẽ dẫn đến các chính sách tài chính cũng không còn phù
hợp và hệ thống tài chính tiền tệ không còn được vững mạnh. Giảm uy tín
trên thị trường tài chính thế giới. Vì lẽ đó mà các ngân hàng Trung ương đều
quy định mọi ngân hàng phải tuân thủ quy trình phân tích rủi ro trong cho
vay.
Nguyễn Trọng Hùng
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3.3.Nội dung quản lí rủi ro tín dụng
1.3.3.1.Xác định và hạn chế các khoản tín dụng có vấn đề
Những khoản tín dụng có vấn đề thường có các biểu hiện sau :
- Trả nợ vay không đúng hạn
- Thường xuyên sửa đổi thời hạn, xin gia hạn tín dụng

hình thành do việc tiêu thụ hàng hoá hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm
hơn dự tính, hoặc do việc chậm trễ không lường trước được trong việc vận
chuyển hàng từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ... thì vấn đề có thể là chưa
đến mức trầm trọng. Nếu vào ngày đáo hạn người vay đưa ra yêu cầu giãn nợ
hoặc xin vay tiếp mà không dự tính trước thì đây cũng có thể là một biểu hiện
của việc phá vỡ thoả thuận hoàn trả và điều đó cũng nghiêm trọng giống như
nợ quá hạn. Nếu Tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ dẫn đến chi phí tăng cao ngoài dự
kiến, thậm chí là thua lỗ. Mặt khác nếu tỷ lệ nợ quá hạn,nợ xấu cao, gấp 2-4
lần giới hạn an toàn của quốc tế không thực hiện đúng như các cam kết mở
L/C, uy tín của hệ thống NHTM trong nước và quốc tế sẽ giảm sút nghiêm
trọng. Hậu quả chung là các NHTM quốc doanh phải củng cố, cơ cấu lại, phải
thành lập các công ty khai thác tài sản thế chấp.
- Nợ khó đòi và tỉ lệ nợ khó đòi trên tổng tài sản
Nếu tỷ lệ nợ khó đòi chiểm tỷ trọng lớn trong các khoản nợ tín dụng thì
rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng cao.
Tuy nhiên một ngân hàng có thể có những cách định lượng các chỉ tiêu
trên nhằm phản ánh sai lệch rủi ro, ví dụ như: giãn nợ, đảo nợ...Do đó một số
Nguyễn Trọng Hùng
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngân hàng phản ánh rủi ro tín dụng không chỉ bằng các chỉ tiêu trên mà quan
trọng hơn bằng chỉ tiêu rủi ro tiềm năng: các khoản tín dụng có chất lượng
trung bình và xấu trên tổng tín dụng.
Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ
rủi ro tín dụng khác nhau. Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả đúng
hạn có liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản: Chi phí gia tăng để
tìm nguồn mới để chi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng.
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước nếu tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng
dư nợ của ngân hàng nào mà lớn hơn 5% thì ngân hàng đó được xem là có
chất lượng tín dụng kém. Tuy nhiên, có trường hợp tỷ lệ nợ quá hạn ở dưới

gây tình trạng lỗ vốn, đồng thời nó còn phản ánh tình hình sử dụng các tiềm
năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh
nghiệp. Các chỉ tiêu về tài chính của doanh nghiệp có thoả mãn điều kiện nhất
định thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó mới có thể đảm bảo rằng
việc vay vốn là đúng mục đích kinh doanh và sử dụng vốn có hiệu quả.
Nhằm đánh giá và dự báo mức độ rủi ro của khoản tín dụng,ngân hàng
có thể dựa vào các chỉ tiêu như :
- Nhóm chỉ tiêu thanh khoản :
+ Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu
động với nợ ngắn hạn.
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh toán trong kỳ, do đó doanh
nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để thanh toán bằng cách chuyển
đổi một bộ phận tài sản thành tiền. Trong tổng số tài sản mà hiện doanh
nghiệp đang quản lý, sử dụng và sở hữu, chỉ có tài sản lưu động (TSLĐ) trong
Nguyễn Trọng Hùng
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kỳ là có khả năng chuyển đổi thành tiền. Do đó hệ số thanh toán tạm thời
được xác định theo công thức:
Hệ số này phải lớn hơn 1, càng lớn thì càng tốt
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
TSLĐ trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyển đổi
thành tiền. Trong TSLĐ hiện có thì vật tư, hàng hoá chưa thể chuyển đổi
thành tiền ngay được, do đó nó có khả năng thanh toán kém nhất. Vì vậy hệ
số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không dựa
vào việc phải bán các loại vật tư hàng hoá và được xác định theo công thức:
Hệ số này càng lớn thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp càng cao.
+ Hệ số thanh toán nợ dài hạn:
-. Nhóm chỉ tiêu hoạt động.

Kỳ thu nợ bình quân =
+ Vòng quay tổng tài sản:
Chỉ tiêu này phản ánh năng lực của doanh nghiệp trong việc sử dụng
tổng tài sản để tạo doanh thu là như thế nào. Chỉ tiêu này càng cao thì tình
hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó được coi là tốt. Chỉ tiêu này
được tính bằng công thức:

Vòng quay tổng tài sản =
Tổng tài sản (6)
Doanh thu hàng năm
- Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy:
Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy phản ánh quy mô nợ so với vốn cổ phần của
doanh nghiệp, đồng thời là bằng chứng về khả năng hoàn trả các khoản nợ
của doanh nghiệp trong dài hạn.
Nguyễn Trọng Hùng
Tài khoản phải thu bình quân (5)
Doanh số bán chịu hàng ngày bình quân
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tỷ số nợ trên tổng tài sản: (Hệ số đòn bẩy)
Tỷ số nợ =
Tỷ số nợ càng cao phản ánh hoạt động của doanh nghiệp dựa vào
nguồn vốn vay càng lớn. Chính vì vậy, khi cho vay ngân hàng cần phải xem
xét thận trọng những doanh nghiệp có hệ số đòn bẩy quá cao so với mức bình
quân ngành.
+ Khả năng trả lãi tiền vay:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc thanh toán
lãi tiền vay là như thế nào, và được tính theo công thức:
Khả năng trả lãi tiền vay =


Lợi nhuận sau thuế (11)
Tổng tài sản
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để đảm bảo an toàn trong cho vay, ngân hàng xem xét 3 yếu tố chính
của khách hàng: Uy tín của khách hàng, hiệu quả dự án và tài sản đảm bảo.
Trong hoạt động của ngân hàng, tài trợ hoàn toàn dựa trên uy tín của
khách hàng được gọi là tài trợ không có đảm bảo bằng tài sản. mặc dù uy tín
được coi là tài sản rất lớn của khách hàng song nếu người vay mất khả năng
chi trả thì uy tín cũng bị giảm sút và ngân hàng thì cũng không thể bán uy tín
đó để thu nợ.
Hiệu quả dự án được các nhà ngân hàng đặc biệt quan tâm. Thông qua
thẩm định dự án, ngân hàng dự tính các yếu tố tác động tới quá trình kinh
doanh của khách hàng trong tương lai, mối liên hệ giữa sức mạnh tài chính
của khách hàng hiện tại và kết quả dự án trong tương lai.
Tài trợ dựa trên tài sản đảm bảo tức là ngân hàng yêu cầu khách hàng
phải có nguồn trả nợ thứ hai bên cạnh nguồn trả nợ thứ nhất là thu nhập từ
hoạt động của khách hàng. Khi cần thiết ngân hàng có thể bán tài sản đảm bảo
để thu nợ. Tài sản đảm bảo, về bản chất tạo nguồn thu thứ hai, khi nguồn thu
thứ nhất không đủ, không kịp thời bù đắp thiệt hại cho ngân hàng. Do vậy, giá
trị tài sản đảm bảo mà ngân hàng yêu cầu không phải phụ thuộc hoàn toàn vào
quy mô tài trợ mà chủ yếu phụ thuộc vào rủi ro dự kiến. Với các khách hàng
mức độ rủi ro là khác nhau, ngân hàng có thể yêu cầu giá trị đảm bảo khác
nhau so với số tiền cho vay. Đảm bảo có thể lớn hơn giá trị khoản cho vay,
hoặc chỉ chiếm một phần như đảm bảo bằng số dư phần bù, bằng sổ lương,
kết hợp đảm bảo loại 1 và loại 2...Do đó định giá tài sản đảm bảo, thế chấp là
một yếu tố quan trọng trong việc đưa ra quyết định cho vay. Việc dự tính rủi
ro để xác định giá trị tài sản đảm bảo, loại đảm bảo, hình thức đảm bảo là giải
pháp mở rộng tài trợ của ngân hàng, tăng sinh lợi và an toàn trong hoạt động
của ngân hàng hiện nay.

tín dụng tại các NHTM hiện nay đang là vấn đề cấp thiết được các nhà quản
trị ngân hàng cũng như các cán bộ ngân hàng quan tâm và tìm ra giải pháp
thực hiện thành công trong tương lai.
1.3.3.4.Nâng cao chất lượng tín dụng
Các ngân hàng luôn luôn phải đặt vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng ở
một vị trí quan trọng. Tăng trưởng tín dụng phải phù hợp với khả năng huy
động vốn và kiểm soát rủi ro,bảo đảm an toàn hệ thống.
Bên cạnh đó các ngân hàng phải thường xuyên làm lành mạnh hóa tình
hình tín dụng,Hoàn thiện hóa qui trình cho vay, qui chế hóa các hoạt động
trong ngân hàng,đảm bảo quản lí rủi ro trong mọi khâu của hoạt động tín
dụng. Thường xuyên xem xét các qui trình tín dụng một cách định kì,đảm bảo
mọi công việc và phát sinh được xử lí kịp thời, chính xác và đúng thẩm
quyền.
Thực hiện minh bạch và công khai hóa các thông tin tín dụng ( ngoài các
thông tin tuyệt mất có thể ảnh hưởng đến ngân hàng ). Việc minh bạch và
công khai này phải được thực hiệ giữa NHTM và NHNN, giữa NHTM và
NHTM, giữa NHTM và các nhà đầu tư và với công luận.
1.3.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lí rủi ro tín dụng
- Nhân tố khách quan
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mất
khả năng thanh toán với ngân hàng như: thiên tai, chiến tranh, thị trường bị
Nguyễn Trọng Hùng
25

Trích đoạn Giải phỏp chung để thực hiện Nõng cao chất lượng cỏc bảo đảm tớn dụng Tăng cường kiểm tra giỏm sỏt vốn vay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status