Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC...........................................................................................1
DANH MỤC BẢNG BIỂU.................................................................4
Lời mở đầu..........................................................................................5
Phần I
Lý luận chung về nghiệp vụ Bảo hiểm thân tàu thuỷ........................7
I. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm thân tàu.....................................7
1. Đặc điểm của phương thức vận chuyển đường biển..........................7
2. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thân tàu...................................8
3. Sự cần thiết khách quan và tác dụng của bảo hiểm thân tàu.............9
II. Một số khái niệm liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu...........12
1 Một số khái niệm cơ bản liên quan...................................................12
2. Rủi ro, tổn thất, và chi phí trong bảo hiểm thân tàu........................14
3. Các loại tổn thất..............................................................................18
4. Các loại chi phí................................................................................19
5. Nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu..........................21
III. Quy trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu.............................29
1. Công tác khai thác...........................................................................29
2. Công tác đề phòng hạn chế tổn thất. ..............................................31
3. Công tác giám định..........................................................................31
4. Công tác bồi thường........................................................................34
5. Công tác dịch vụ khách hàng...........................................................36
6. Các chi tiêu đánh giá kết quả kinh doanh của một nghiệp vụ bảo
hiểm.....................................................................................................38
Phần II
Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại Tổng công
ty Cổ phần Bảo hiểm Bảo Việt Hà Nội (BVHN) giai đoạn 2005 –
2009.................................................................................................... 40
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
1
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
III. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ bảo hiểm
thân tàu tại BVHN...................................................................................70
1. Một số Giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu...............70
1.2. Công tác giám định.............................................................72
2. Một vài kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại
BVHN..................................................................................................75
Lời kết...............................................................................................80
Danh mục tài liệu tham khảo...........................................................81
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tóm tắt 4 điều kiện bảo hiểm..........................................25
Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty Bảo Việt Hà Nội........................42
Bàng 2.1: Kết quả khai thác nghiệp vụ Bảo hiểm thân tàu tại
BVHN
2005 - 2009......................................................................................... 54
Bảng 2.3: Thị phần của Bảo Việt trên thị trường bảo hiểm hàng hải
2005 – 2009........................................................................................56
Bảng 2.4: Kết quả công tác giám định nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu
tại BVHN 2005 – 2009.......................................................................59
Bảng 2.5: Kết qủa bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại
BVHN
2005 - 2009......................................................................................... 62
Bảng 2.5: Tỷ lệ bồi thường trên trường bảo hiểm thân tàu 2005 –
2009.................................................................................................... 62
Bảng 2.6: Bảng kết quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu
tại BVHN 2005 – 2009.......................................................................63
Phần I : Cơ sở lý luận của nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu
Phần II :Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại công ty
cổ phần bảo hiểm Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 2005-2009
Phần III : Một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ bảo
hiểm thân tàu tại BVHN
Với thời gian thưc tập có hạn và vốn kiến thức hiểu biết về nghiệp vụ còn
hạn chế nên đề tài của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rất mong nhận được sự chỉ bảo của cac thầy cô giáo và các cán bộ của Bảo
Việt Hà Nội để đề tài của em được hoàn thiện hơn Với thời gian thực tập
có hạn cộng với vốn kiến thức tế về nghiệp vụ còn hạn chế của bản thân
em, chắc rằng đề tài của em sẽ còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được
sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và các cán bộ Bảo Việt Hà Nội để đề tài
của em được hoàn thiện hơn.
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần I
Lý luận chung về nghiệp vụ Bảo hiểm thân tàu thuỷ.
I. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm thân tàu.
1. Đặc điểm của phương thức vận chuyển đường biển.
Sự ra đời và phát triển của phương thức vận chuyển đường biển là
một bước ngoặt lớn trong lịch sử nhân loại. Nó mở mang sự giao lưu và
gắn kết giữa các quốc gia, các dân tộc, các châu lục trên thế giới. Từ đó
đem đến sự phát triển và thịnh vượng chung cho toàn nhân loại. Phương
thức vận chuyển này mang nhiều đặc điểm riêng có như sau:
* Ưu điểm:
- Chi phí đầu tư xây dựng ban đầu và bảo quản trong quá trình sử
2. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thân tàu.
2.1 Trên thế giới.
Bảo hiểm hàng hải xuất hiện tương đối sớm cùng với nỗi lo mỗi
chuyến đi biển của con người. Nó manh nha xuất hiện từ thế kỷ 14 tại
Genois, Folorens...Các hợp đồng bảo hiểm thời kỳ này chỉ bảo hiểm cho
các tài sản bị thiệt hại trong hành trình đi biển.
Thế kỷ 17, tiệm cà phê của Lloyd của một thuyền trưởng về hưu đã
trở thành nơi tụ họp của những người đi biển để rồi năm 1691 – 1692, bản
tin về ùang và tàu ra đời không chỉ lưu truyền trong nội bộ các thành viên
của Lloyd’s coffee house mà còn bành trướng ra toàn Châu Âu.
Năm 1779, hợp đồng Lloyd ra đời và được quốc hội Anh thông qua.
Các nguyên tắc bảo hiểm hang hải trong hợp đồng Lloyd còn được nhiều
nước áp dụng cho đến tận năm 1982.
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Và với sự ra đời của luật bảo hiểm hàng hải 1906, nước Anh trở
thành quê hương của bảo hiểm hàng hải.
2.2. Tại Việt Nam.
Vận tải biển ở Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng bảo hiểm hang hải
mới chỉ được biết tới vào năm 1986 cùng với quyết định số 179/ QĐ – BH
ngày 8/7/1986, bộ trưởng Bộ tài chính. Quyết định này cho phép tổng công
ty bảo hiểm Việt Nam tiến hành một số nghiệp vụ bảo hiểm hang hải như:
Thân tàu đánh cá ( gồm: vỏ máy, máy tàu thuyền, máy móc khai thác, chế
biến, nghiên cứu khoa học và trang thiết bị hang hải) ; Trách nhiệm dân sự
của chủ tàu đánh cá…theo nguyên tắc tự nguyện; tàu biển hoạt động trong
và ngoài nước đều áp dụng nguyên tắc ITC…
Năm 1990, Quyết định số 254/ TC/ QĐBH của bộ tài chính cho phép
Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam kinh doanh bảo hiểm thân tàu và thuyền
viên.
đường biển. Đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước giáp biển, vận
chuyển đường biển ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến ngoại thương mà còn
đe doạ đến sự thịnh vượng của nền kinh tế. Bảo hiểm thân tàu đã gián tiếp
giúp cho nền kinh tế ổn định và thịnh vượng.
Đối với Việt Nam, Bảo hiểm thân tàu càng có ý nghĩa quan trọng.
Nó trở thành đòi hỏi khách quan trong công cuộc xây dựng và đổi mới
nước ta hiện nay. Bởi lẽ, về số lượng, đội tàu thuỷ của Việt Nam không
lớn. Về chất lượng, tàu nước ta có trọng tải nhỏ, lạc hậu về kỹ thuật…khả
năng gặp tai nạn nhiều, tổn thất khi tai nạn xảy ra lớn. Hơn thế nữa, vận tải
biển ngày càng có ý nghĩa đối với nền kinh tế nước ta. Vì vậy bảo hiểm
thân tàu càng là nhu cầu khách quan không thể thiếu.
3.2. Tác dụng của bảo hiểm thân tàu.
Tác dụng của bảo hiểm thân tàu thể hiện ở ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa
xã hội to lớn của nó. Cụ thể:
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Ý nghĩa kinh tế:
- Đầu tiên bảo hiểm thân tàu giúp chủ tàu ổn định tài chính, duy trì
hoạt động kinh doanh liên tục không bị gián đoạn khi có tổn thất xảy ra.
Tai nạn trên biển là không thể lường trước, cho dù nhờ vào tiến bộ kỹ thuật
mà khả năng dự báo của con người ngày càng chuẩn xác hơn. Một khi tai
nạn đã xảy ra thì tổn thất thường là chắc chắn và rất lớn (Do công tác cứu
hộ trên biển gặp rất nhiều khó khăn và hiệu quả lại không cao). Điều này
gây khó khăn cho không chỉ các chủ tàu tư nhân mà cả các tập đoàn vận tải
danh tiếng. Bảo hiểm thân tàu chính là giải pháp cho những khó khăn
khủng lồ về tài chính này.
- Bảo hiểm thân tàu giúp tối thiểu hoá chi phí xã hội, nâng cao hiệu
quả kinh tế toàn xã hội: Với trách nhiệm của mình, các nhà bảo hiểm luôn
tìm cách hạn chế rủi ro, đề phòng tổn thất Họ đưa ra các yêu cầu về tình
hoá, hành khách hay thực hiện một số nhiệm vụ khác như đánh bắt cá, quân
sự…tuỳ theo đặc tính sử dụng của tàu.
Có nhiều cách phân loại tàu thuỷ theo các tiêu thức khác nhau như:
Theo đặc tính kỹ thuật có tàu đệm không khí, tàu cánh ngầm, tàu bình
thường
- Theo chức năng chuyên chở và đối tượng phục vụ có tàu hang, tàu
khách, tàu đánh bắt thuỷ sản, tàu quân sự, tàu nghiên cứu khoa học…
- Theo vùng hoạt động (cấp tàu) có tàu biển, tàu sông, tàu pha sông
biển.
Ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật, các phương tiện tàu,
thuyền được chia thành phương tiện thuỷ nội địa và tàu biển. Trong đó
phương tiện thuỷ nội địa bao gồm: Tàu, thuyền có động cơ hoặc không có
động cơ; Bè mảng; Các cấu trúc nổi được sử dụng vào mục đích giao thông
hoặc kinh doanh dịch vụ trên đường thuỷ nội địa.
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. Thân tàu và các trang thiết bị trên tàu.
Thân tàu: là vật thể có hình thon dài, bên ngoài được giới hạn bởi các
mặt cong ba chiều, có hình dáng thoát nước, nhằm giảm thiểu sức cản của
nước và không khí khi tàu chạy.
Trang thiết bị trên tàu: là thuật ngữ dung để chỉ các thiết bị được bố
trí bên trong tàu. Bao gồm: Thiết bị động lực giúp tàu chuyển động; Thiết
bị cung cấp năng lượng cho tàu; Thiết bị ngăn ngừa ô nhiễm dầu, khí độc,
chất độc…mà trong quá trình hoạt động tàu có thể gây ra; Thiết bị hàng
hải: la bàn, ra đa, máy đo độ sâu, máy định vị toàn cầu…; Thiết bị liên lạc
vô tuyến…
1.3. Trọng tải tàu (Deadweigh Tonnage – DWT).
Khái niệm này dung để chỉ sức chở của tàu. Trọng tài của tàu được
phân biệt thành:
2.1. Rủi ro Hàng hải.
Trong giai đoạn đầu mới triển khai bảo hiểm thân tàu, các công ty
bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm cho bốn rủi ro chính, đó là: chìm đắm, mắc
cạn, đâm va, cháy. Theo thời gian cùng với sự phát triển của hoạt động
hàng hải và yêu cầu cạnh tranh, các công ty bảo hiểm ngày càng mở rộng
phạm vi các rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm thân tàu như: mất tích,
mất cắp, cướp biển…Tuy nhiên, Các rủi ro nói trên có thể được tổng hợp
trong ba nhóm sau:
2.2. Nhóm rủi ro chính.
Đây là nhưng rủi ro cơ bản được bảo hiểm từ buổi ban đầu sơ khai
của hoạt động bảo hiểm hang hải. Các rủi ro này khi xảy ra thường gây ra
tổn thất rất lớn. Cụ thể:
* Mắc cạn:
Là hiện tượng đáy tàu nằm sát với đáy biển hoặc tàu nằm trên một
chướng ngại vật khác làm cho tàu không thể di chuyển được nữa. Một tàu
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bị mắc cạn chỉ có thể thoát khỏi tình trạng đó khi có sự tác động của ngoại
lực.
Nguyên nhân dẫn đến mắc cạn có thể là các rủi ro lường trước được
hoặc cũng có thể là ngẫu nhiên không thể dự đoán trước. Theo quy định
của bảo hiểm các trường hợp mắc cạn do thuỷ triều, do tàu đi qua kênh đào,
sông rạch là các rủi ro có thể lường trước được. Bị mắc cạn do giông bão,
bị địch đuổi khiến tàu buộc phải rời khỏi hành trình vốn có là rủi ro không
lường trước được. Nhiều trường hợp tàu có nguy cơ bị chìm đắm, thuyền
trưởng “cố tình” cho tàu chạy vào chỗ cạn dẫn đến bị mắc cạn. Tổn thất
xảy ra trong trường hợp mắc cạn “cố tình” nói trên vẫn được bảo hiểm cho
dù tổn thất xảy ra trước hoặc sau khi tàu bị mắc cạn.
* Chìm đắm:
lầm liên quan đến cách nhận định, cách xét đoán, cách giải quyết vấn đề
hay tính bất cẩn không được coi là hành vi phạm pháp nên không thuộc
trách nhiệm của nhà bảo hiểm. Trường hợp thuyền trưởng hay thuỷ thủ có
cổ phần trong con tàu thì hành động làm hại đến quyền lợi của các cổ đông
khác vẫn được coi là hành động phi pháp và vẫn thuộc trách nhiệm nhà bảo
hiểm. Nhà bảo hiểm vẫn chịu trách nhiệm khi hành vi phạm pháp chỉ là
một trong những nguyên nhân phối hợp dẫn tới tổn thất, điều này có nghĩa
là nhà bảo hiểm chịu trách nhiệm bất kể hành vi phạm pháp là nguyên nhân
trực tiếp hay gián tiếp dẫn tới tổn thất.
* Mất tích:
Một con tàu được coi là mất tích khi mà nó không đến cảng theo
đúng quy định và sau một thời gian hợp lý nào đó vẫn không nhận được tin
tức gì của nó. Thời gian hợp lý này khác nhau giữa các nước và được pháp
luật mỗi nước định dựa trên nhiều yếu tố: loại tau, loại hang, độ dài và tính
chất cuộc hành trình…Một tàu bị mất tích thì tổn thất được coi là tổn thất
toàn bộ thực tế và nhà bảo chịu trách nhiệm bồi thường trong mọi trường
hợp như đối với tổn thất toàn bộ do các rủi ro khác gây ra.
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Cướp biển:
Cướp biển trước đây được coi là một phần của rủi ro chiến tranh.
Ngày nay, do tính chất thường xuyên xảy ra cộng với tính nghiêm trọng
của tổn thất thì nó đã được tách thành một rủi ro riêng biệt.
* Mất cắp, giao thiếu hàng:
Mất cắp là hiện tượng cả kiện hàng bị mất hoặc hàng hoá trong kiện
bị mất có dấu viết cậy phá. Mất cắp là hiện tượng mang tính chất bí ẩn cao.
Giao thiếu hàng là hiện tượng toàn bộ kiện hàng không được gia tại
cảng và không hề có sự giải thích nào về nguyên nhân thiếu hụt. Hàng chỉ
được coi là giao thiếu khi có các giấy tờ chứng minh lượng hàng thiếu đã
phải sửa chữa hoặc thay thế một số bộ phận của thân tàu.
3.2. Tổn thất toàn bộ.
Tổn thất toàn bộ là việc tàu bị mất hoàn toàn giá trị, giá trị sử dụng
không thể sửa chữa phục hồi được nữa hay bị mất, bị tước quyền sở hữu.
Tổn thất toàn bộ được chia làm hai loại:
* Tổn thất toàn bộ thực tế:
Tổn thất toàn bộ thực tế xảy ra khi con tàu bị đắm, bị nổ tung, bị phá
huỷ hoàn toàn, bị tước quyền sở hữu do bị cướp, bị bắt do buôn lậu, chở
hang cấm. Tổn thất toàn bộ được nhà bảo hiểm bồi thường theo sô tiền bảo
hiểm và không tính đến mức miễn đền.
* Tổn thất toàn bộ ước tính:
Là hiện tượng con tàu gặp phải tổn thất tuy chưa ở mức hoàn toàn
nhưng tổn thất toàn bộ thực tế là điều khó tránh khỏi hoặc chi phí để khắc
phục tổn thất này còn lớn hơn số tiền bảo hiểm con tàu.
Tàu được coi là tổn thất toàn bộ ước tính khi: Tàu bị cháy, bị mắc
cạn, bị chìm đắm mà chi phí để trục vớt, sửa chữa tàu lớn hơn số tiền bảo
hiểm tàu; Tàu bị mất tích, bị cướp và không thể xác định được giá trị thực
tế…
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khi tổn thất được xác định là tổn thất toàn bộ ước tính thì người
được bảo hiểm phải tuyên bố từ bỏ tàu sau đó vẫn phải tiếp tục các công
việc nhằm hạn chế tổn thất xảy ra thêm còn nhà bảo hiểm sẽ bồi thường
toàn bộ.
3.3. Tổn thất riêng.
Tổn thất riêng là tổn thất chỉ xảy ra với một trong số rất nhiều chủ sở
hữu do những rủi ro được bảo hiểm gây ra. Khi tổn thất riêng xảy ra nhà
bảo hiểm không chỉ chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do tổn thất
gây ra mà bồi thường cả các chi phí hợp lý phát sinh. Các chi phí này được
hỏng mà chưa sửa chữa là do: có rất nhiều trường hợp tàu bị hư hỏng
nhưng không làm ảnh hưởng tới hành trình và khả năng kinh doanh của tàu
nên chưa cần sửa chữa ngay mà vẫn đảm bảo khả năng di biển của tàu.
Trong thời hạn bảo hiểm mà phát sinh chi phí hư hỏng chưa sửa
chữa thì người được bảo hiểm có quyền đòi bảo hiểm bồi thường chi phí
này sau khi thời hạn bảo hiểm kết thúc.
4.2. Chi phí tổn thất chung.
Trong thực tế có rất nhiều tranh cãi về chi phí tổn thất chung xem chi
phí đó có thực sự là chi phí tổn thất chung không. Để phân biệt chi phí tổn
thất chung với chi phí tổn thất riêng người ta căn cứ vào bốn nguyên tắc
xác định tổn thất chung (đã nói ở trên)
Chi phí được xác định là chi phí tổn thất chung sẽ được phân bổ một
cách hợp lý và thuộc trách nhiệm bồi thường của bảo hiểm.
4.3. Chi phí khác.
Đây là các chi phí khác có liên quan đến rủi ro và tổn thất được bảo
hiểm. Bao gồm: Chi phí chứng minh tổn thất; chi phí tố tụng, khiếu nại; chi
phí đề phòng hạn chế tổn thất; chi phí cứu hộ; chi phí giám định tổn thất…
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5. Nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu.
5.1. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm.
5.1.1. Đối tượng bảo hiểm.
Đối tượng bảo hiểm thân tàu là toàn bộ con tàu bao gồm: vỏ tàu, máy
móc, trang thiết bị trên tàu có liên quan đến hoạt động của tàu. Như vậy
thực chất bảo hiểm thân tàu là bảo hiểm giá trị con tàu đó, bao gồm giá trị
vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị.
Một con tàu muốn được bảo hiểm phải đáp ứng đầy đủ ba điều kiện
sau:
- Tàu đủ khả năng đi biển;
Phạm vi bảo hiểm thường gắn kết với chế độ bảo hiểm. Trong bảo
hiểm thân tàu người ta áp dụng hai chế độ bảo hiểm: Chế độ bảo hiểm theo
ruỉ ro đầu tiên và chết độ miễn thường chung, miễn thường tổn thất do rủi
ro phụ gây ra và miễn thường do tàu vi phạm qui định (không thông báo
tổn thất).
5.2. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm.
5.2.1 Giá trị bảo hiểm.
Giá trị bảo hiểm của tàu là tổng giá trị của tàu lúc bắt đầu được bảo
hiểm. Nó bao gồm cả giá trị của toàn bộ mấy móc thiết bị, phụ tùng, giá trị
của lương thực, thực phẩm dự trữ, các loại chi phí để chuẩn bị cho cuộc
hành trình: tiền lương ứng trước cho thuỷ thủ, toàn bộ phí bảo hiểm…
Giá trị bảo hiểm ghi trên bản hợp đồng bảo hiểm là giới hạn trách
nhiệm cao nhất của nhà bảo hiểm đối với một vụ tổn thất.
5.2.2. Số tiền bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hoặc một phần giá trị bảo hiểm mà người
tham gia bảo hiểm yêu cầu người bảo hiểm bảo hiểm cho mình. Số tiền bảo
hiểm là giới hạn trách nhiệm cao nhất của nhà bảo hiểm cho một vụ tổn
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thất. Số tiền bảo hiểm được ghi trên hợp đồng bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm
có thể nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn giá trị bảo hiểm. Thông thường người
tham gia bảo hiểm tham gia với số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm.
Bởi vì, nhà bảo hiểm luôn khuyến khích người tham gia bảo hiểm tham gia
với số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm. Điều này, về phía người
tham gia bảo hiểm là một yếu tố để giảm phí. Còn đối với nhà bảo hiểm,
như ta biết, số tiền bồi thường luôn nhỏ hơn hoặc bằng số tiền bảo hiểm,
mà tổn thất tàu biển thường rất lớn. Việc tham gia bảo hiểm dưới giá trị sẽ
giúp nhà bảo hiểm giới hạn được số tiền bảo hiểm. Từ đó góp phần ổn định
khả năng tài chính của nhà bảo hiểm.
chở trên tàu đó.
5.3.2. Điều kiện bảo hiểm loại trừ tổn thất bộ phận thân tàu (FOD_Free of
Damage).
Theo điều kiện này bảo hiểm chụi trách nhiệm bồi thường:
- Bảo hiểm mọi chi phí và tổn thất mà TLO gánh chịu (a + b + c).
- Bảo hiểm thêm các tổn thất và chi phí sau:
d, Chi phí tố tụng, đề phòng và hạn chế tổn thất với điều kiện chi phí
này phát sinh do rủi ro, tổn thất được bảo hiểm.
e, Chi phí trách nhiệm đâm va.
Đây là các chi phí phát sinh khi tàu được bảo hiểm đâm va với tàu,
tài sản của người khác và gây thiệt hại họ và tàu được bảo hiểm có lỗi.
f, Chi phí đóng góp vào tổn thất chung.
5.3.3. Điều kiện bảo hiểm loại trừ tổn thất riêng về thân tàu (FPA_Free
from Particular Average).
Người bảo hiểm chụi trách nhiệm với các tổn thất và chi phí sau:
- Mọi tổn thất và chi phí đã có trong điều kiện FOD.
- Ngoài ra còn đảm nhiệm thêm:
g, Tổn thất bộ phận của tàu do hành động tổn thất chung và chỉ hạn
chế trong một bộ phận nhất định của tàu. Thông thường bộ phận đó là bộ
Nguyễn hữu Thành Bảo hiểm thương mại48
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phận dễ hư hỏng do tổn thất chung gây ra như: hệ thống đèn điện, máy ướp
lạnh, buồm, neo…
h, Tổn thất riêng, tổn thất bộ phận của tàu do va chạm với tàu khác
trong khi cứu nạn hay do cứu hoả trên tàu.
5.3.4. Điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro (ITC_Institiute Time Clause).
Ngoài các rủi ro mà FPA đã bảo hiểm, ITC còn bảo hiểm thêm:
i, Tổn thất bộ phận của tàu do hành động tổn thất chung gây ra ngoài
những bộ phận đã kể ở điểm (g).