Nghiên cứu giải trình tự vùng gen trong hệ gen ty thể của loài sán lá ruột nhỏ haplorchis taichui phân lập tại việt nam - Pdf 30

1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN THỊ KHUÊ
NGHIÊN CỨU GIẢI TRÌNH TỰ VÙNG GEN
TRONG HỆ GEN TY THỂ CỦA LOÀI SÁN LÁ RUỘT NHỎ
HAPLORCHIS TAICHUI PHÂN LẬP TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội – 12/2013
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
nước.
Sán lá ruột nhỏ H. taichui có nhiều đặc điểm tương đồng về hình thái, cũng
như đặc tính gây bệnh các loài sán lá ruột nhỏ trong cùng giống Haplorchis và một
số loài sán lá gây bệnh khác. Đây là vấn đề gây nhiều khó khăn cho việc chẩn đoán,
giám định, phân biệt loài sán lá ruột nhỏ H. taichui với các loài sán lá ruột nhỏ, dựa
trên các phương pháp hình thái học và sinh lí học truyền thống. Do đó, việc nghiên
cứu phát hiện chỉ thị đặc trưng của loài sán lá ruột nhỏ H. taichui so sánh với các
loài sán lá, đặc biệt là sán lá ruột nhỏ, nhằm tìm ra nguồn gốc lây nhiễm, phục vụ
công tác giám định, phân loại, chẩn đoán, giúp cho việc áp dụng các biện pháp
phòng ngừa và điều trị hiệu quả là thực sự cần thiết hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu di truyền cho phép phân tích sự biến đổi gen ở mức
độ phân tử, qua đó đánh giá những biến đổi đặc tính di truyền, bổ sung các dữ liệu
có giá trị khắc phục nhược điểm của phương pháp truyền thống trong việc giám
định và phân loại sinh vật. Trong đó, dữ liệu di truyền hệ gen ty thể của sinh vật, là
một trong các cơ sở dữ liệu đang được sử dụng phổ biến cho việc phân tích quan hệ
họ hàng và phân loại tiến hóa sinh vật, bao gồm cả các loài ký sinh trùng.
Trên thế giới, việc sử dụng một phần hoặc toàn bộ hệ gen ty thể, làm chỉ thị
phân tử trong chẩn đoán, giám định nghiên cứu kí sinh trùng và sán lá ruột nhỏ đã
được nhiều nước áp dụng. Ở Việt Nam, một số tác giả đã áp dụng chỉ thị di truyền
trong chẩn đoán, giám định nhiều loài ký sinh trùng như: sán dây Taenia asiatica,
sán lá phổi Paragonimus heterotremus, sán lá gan lớn Fasciola gigantica. Đặc biệt,
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

đối với loài sán lá ruột nhỏ H. taichui lưu hành tại Việt Nam, một số công trình
bước đầu cũng đã nghiên cứu sinh học phân tử sử dụng chỉ thị gen cox1, ITS-2,
16S và 18S, so sánh với các gen tương ứng trong hệ gen ty thể của các chủng thu
nhận từ Ngân hàng gen (GenBank) để chẩn đoán phân loại và thẩm định loài. Tuy
nhiên, cho đến nay, chưa có những dữ liệu hệ gen ty thể hoàn chỉnh cho các loài sán
lá ruột nhỏ (heterophyid) lây truyền từ động vật sang người nói chung và H. taichui

thẳng) của gen mã hóa cho protein, cung cấp mô phỏng cấu trúc bậc hai của gen
RNA vận chuyển (tRNA), của loài sán lá ruột nhỏ H. taichui chủng HTAQT.
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. PHÂN LOẠI VÀ DỊCH TỄ SÁN LÁ RUỘT NHỎ H. TAICHUI
1.1.1. Sơ lƣợc phân loại và dịch tễ sán lá ruột nhỏ
Sán lá ruột nhỏ gồm nhiều họ khác nhau thuộc bộ Plagiorchiida (phân bộ
Opithorchiata), lớp Trematoda (lớp phụ Digenea), ngành Platyhelminthes, giới
Animalia, lưu hành phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong số 70 loài sán lá ruột nhỏ được biết là ký sinh ở người, có tới 69 loài
sán ruột nhỏ thuộc 11 họ sán lá ruột nhỏ khác nhau được phát hiện ký sinh ở người,
trong đó:
- Họ Heterophyidae có 31 loài;
- Họ Echinostomatidae có 21 loài;
- Họ Leicithodendriidae có 5 loài;
- Họ Plagiorchiidae có 4 loài;
- Ba họ: Diplostomidae, Nanophyetidae và Paramphistomatidae, mỗi họ có 2
loài;
- Bốn họ: Gastrodiscidae, Gymnophallidae, Microphllidae và Strigeidae, mỗi
họ chỉ có 1 loài được phát hiện kí sinh ở người.
Đáng chú ý là hai họ Heterophyidae và Echinostomatidae, có số loài được phát
hiện kí sinh ở người nhiều nhất và lây truyền chủ yếu qua cá (WHO/WR, 2002). Họ
Heterophyidae được Odhner phát hiện năm 1914, thường ký sinh ở chim, một số
loài động vật có vú và người (Chai et al., 2007). Trong họ này, các loài trong giống
Haplorchis được đặc biệt quan tâm. Hiện nay, đã có 5 loài thuộc giống Haplorchis
được thông báo gây bệnh trên người, bao gồm: H. taichui, H. pumilio, H.

nhiễm phối hợp O. viverrini và 6 loài sán lá ruột nhỏ khác. Trong tổng số 7.693 sán
trưởng thành được thu nhận, đa số là các loài H. taichui, H. pumilio, H. yokogawai,
Prosthodendrium molenkampi, Phaneropsolus bonnei, và Echinostoma spp (Chai et
al., 2007). Tại một nghiên cứu khác ở hai tỉnh của Lào cho thấy có 65,2% số người
được xét nghiệm bị nhiễm phối hợp giữa sán lá gan nhỏ O. viverrini với sán lá ruột
nhỏ bao gồm các loài H. taichui, H. pumilio, H. yokogawai, Centrocestus caninus,
P. molenkampi, P. bonnie. Tiếp đó, năm 2009, một nghiên cứu sử dụng phương
pháp xét nghiệm phân cho thấy 62,9% những người được xét nghiệm (97 người) đã
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

nhiễm các loại sán lá ruột nhỏ, sau khi được điều trị và tẩy đãi. Sán lá trưởng thành
thu thập bao gồm 76/97 (78,4%) H. taichui, trong khi tỷ lệ nhiễm với P. bonnie là
22.7%, P. molenkampi (14.4%), H. pumilio (5.2%), H. yokogawai (3.1%) và
Echinochasmus japonicus (3.1%) (Sayasone et al., 2009). Trong nghiên cứu của
Chai và cộng sự năm 2013 tại Lào, cho thấy người nhiễm sán lá ruột nhỏ H. taichui
rất phổ biến, với tỉ lệ nhiễm cao ở hai tỉnh Saravane và Champasak trung bình
l21.565 và 12.079 sán/người (Chai et al., 2013).
Tại Thái Lan có 14 loài sán lá đã được ghi nhận, trong khi đó tại Philippin là
12 loài, tại Indonesia là 8 loài và Malaysia là 4 loài (Waikagul, 1991). Một cuộc
điều trị tổng quát ở phía Nam Phillippin cho thấy 36% bệnh nhân có biểu hiện đau
vùng bụng do heterophyid, chủ yếu là do H. taichui (Liu, 2012).
Chính do sự phân bố rộng rãi đó mà bệnh sán lá ruột nhỏ đang ngày càng
chiếm lĩnh sự quan tâm của cộng đồng ở châu Á, châu Phi và Trung Nam Mỹ (Chai
et al., 2009; 2010; Dung et al., 2007). H. pumilio, H. taichui và H. yokogawai là ba
loài gây bệnh haplorchiasis được thường xuyên công bố tại các nước châu Á bao
gồm: Trung Quốc, Philippin, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam (Belizario et al.,
2004; Chai et al., 2009; 2010; Dung et al., 2007; Phan et al., 2010).
Tại Việt Nam, haplorchiasis được ghi nhận do nhiều loài sán lá ruột nhỏ. Do
tập quán ăn gỏi cá nên con người cũng bị nhiễm với tỷ lệ cao ở một số vùng đặc

(Mishra et al., 2007) (Hình 1.2B). Trong một nghiên cứu tại Nam Định, kích thước
của H. taichui là: (24,2-28) µm x (12,8-16) µm; của H. pumilio là (25,5-31,9) µm x
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

(12,8-17,9) µm (De Lellis et al., 2008). Trứng của các loài sán lá ruột nhỏ này có
hình thái và kích thước gần giống nhau, do đó bằng kĩ thuật xét nghiệm phân thông
thường như Kato hoặc Kato-Katz (Katz et al., 1972), không thể phân biệt được
trứng của loài sán lá ruột nhỏ này với trứng của loài sán lá khác (Nguyễn Văn Đề và
Lê Thanh Hòa, 2006).
A
B

Hình 1.2. Sán lá ruột nhỏ H. taichui trưởng thành (A) và trứng của H. taichui (B)
(Dung et al., 2007).

Ấu trùng (metaceraria) của H. taichui có hình elip có kích thước (0,19-0,22) x
(0,16-0,19) mm, giống như quả bóng chày (Hình 1.3A). Bộ phận sinh dục ở phần
bụng có 11-19 hạt kitin và một hệ bài tiết hình bầu dục, gọi là túi sinh dục – bụng
(ventrogenital). Bộ phận này chiếm một khoảng không gian lớn nằm ở phía đuôi
(Rim et al 1.3B).

Hình 1.3. Ấu trùng H. taichui (Rim et al., 2008). (A): Ấu trùng H. taichui phát hiện trong
cá nước ngọt ở Lào; (B): Hình phóng to các túi ventrogenital hình găng tay (mũi tên trong
hình A). Ghi chú: OS (oral sucker): giác miệng, EB (excretory bladder): bộ phận bài tiết.
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 1.2.2. Vật chủ và vòng đời của sán lá ruột nhỏ H. taichui

- Sán lá ruột nhỏ trưởng thành ký sinh trong ống tiêu hóa (tá tràng, ruột non)
của người và một số loài động vật trên cạn: chó, mèo, lợn, bò, dê và cả chim (vật
chủ tự nhiên). Tại đây, sán trưởng thành đẻ trứng và trứng theo phân ra ngoài môi
trường. Ở môi trường nước trứng sán lá ruột nhỏ phát triển hình thành các thể
miracidia.

Hình 1.4. Chu kỳ phát triển của sán lá ruột nhỏ
(

Miracidia bơi lội trong nước gặp ký chủ thích hợp là các loài ốc (vật trung
gian đầu tiên). Ốc Cerithidia và Pironella hai loài vật chủ quan trọng ở châu Á và
Trung Đông, ở các loài này miracidia phát triển thành thể sporocysts, sau đó lớn dần
phát triển thành redia, và cercariae (ấu trùng đuôi).
Ấu trùng đuôi xâm nhập vào cá nước ngọt (vật trung gian thứ hai), ở cá ấu
trùng rụng đuôi phát triển thành nang trùng (metacercariae) rồi ký sinh ở trong thịt
hoặc mang của cá. Các nang trùng sán khó được phát hiện thấy bằng mắt thường
(Chai et al.,2005; Keiser et al., 2009).
Người và một số loài động vật trên cạn nhiễm sán lá ruột nhỏ do thói quen, tập
quán ăn uống các thức ăn từ cá chưa được nấu chín hoặc ăn cá sống có chứa ấu
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

trùng metacercariae. Trong cơ thể, các metacercariae di chuyển đến ruột phát triển
thành sán trưởng thành và ký sinh tại đây, tạo nên một vòng truyền lây linh hoạt
giữa động vật và người (Keiser et al., 2009; Phan et al., 2010). Phần lớn các loài sán
lá ruột nhỏ lây truyền qua cá thường kí sinh ở tá tràng, gây ra bệnh lí tổn thương tại
chỗ hoặc toàn thân, ảnh hưởng đến sức khỏe của người và một số loài động vật trên
cạn (Sukontason et al., 1999; Chai et al., 2009; Watthanakulpanich et al., 2010).
1.2.3. Bệnh sán lá ruột nhỏ
Sán lá ruột nhỏ là nguyên nhân gây ra bệnh sán lá ruột nhỏ, một trong các bệnh

và phổi, hoặc cổ trướng, tổn thương các cơ quan: lách, gan …
Bệnh nhân có thể có tình trạng thiếu máu: hồng cầu giảm, huyết cầu tố giảm,
bạch cầu toan tính tăng 15-20 % (Saenphet et al., 2008).
* Chẩn đoán bệnh: dựa trên các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và dịch tễ
học.
Chẩn đoán lâm sàng: không đặc hiệu, một số triệu chứng đáng quan tâm: mệt
mỏi, rối loạn tiêu hóa, chướng bụng và bệnh nhân sống trong vùng dịch tễ hoặc ăn
thức ăn từ cá chưa được nấu chín (gỏi, lẩu cá) có nguồn gốc từ các vùng có sán lưu
hành.
Chẩn đoán cận lâm sàng: có tính chất đặc hiệu chủ yếu là xét nghiệm phân tìm
trứng sán lá ruột nhỏ bằng kỹ thuật Kato-Katz (Katz et al., 1972), cần lưu ý phân
biệt với trứng sán lá gan nhỏ và trứng giun đũa không thụ tinh. Tuy nhiên, do kích
thước sán nhỏ, hình dạng của trứng, ấu trùng (cercariae, metacercariae) và cả thể
trưởng thành rất giống với một số loài sán lá khác nên dễ chẩn đoán nhầm (Lê
Thanh Hòa, 2007). Dưới kính hiển vi thường hay gặp trứng sán nhiều hơn là sán
trưởng thành trong phân hoặc chất nôn (Dung et al., 2007).
Chẩn đoán bằng huyết thanh học: ELISA, Western blot…. sử dụng chủ yếu
trong nghiên cứu và ít được ứng dụng phổ biến.
Chẩn đoán bằng sinh học phân tử: Hiện nay kỹ thuật PCR được sử dụng dựa
trên chỉ thị di truyền phân tử (genetic markers) hệ gen ty thể (mitochondrial
genome), có độ tin cậy cao và được sử dụng phổ biến trong định loại các loài, kể cả
sán lá ruột nhỏ cũng như sán dây gây bệnh (Le et al., 2002; Blouin et al., 2002).
Thông thường, các gen cox1, nad1, cob và 16S/12S của hệ gen ty thể, được chọn
làm chỉ thị trong giám định và phân loại các loài kí sinh trùng (Lê Thanh Hòa,
2007).
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

* Điều trị:
Thuốc điều trị: trước đây dùng Bithionol song vì có nhiều độc tính trên người, nên


Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, ty thể có hình hạt đậu hoặc ovan, có kích
thước từ 0,5-1 m. Ty thể được bao bọc bởi hai lớp màng. Màng ngoài nhẵn, trên đó
có các protein có chức năng vận chuyển các chất vào và ra khỏi ty thể. Màng trong
cuộn lại thành các nếp gấp và là nơi diễn ra quá trình tổng hợp ATP (adenosine
triphosphate) của ty thể. Các protein của chuỗi chuyển điện tử và các enzyme tham
gia tổng hợp ATP được gắn ở các nếp gấp của màng trong (Hình 1.5). Hai màng ty
thể chia ty thể thành hai khoang khác biệt. Khoang chứa cơ bản (matrix) nằm bên
trong ty thể ằm giữa màng trong và màng ngoài.
ADN ty thể
Ribosome
Màng trong
Màng ngoài
Chất nền
Khoảng gian màng
Nếp gấp
Phức hệ
enzyme

Hình 1.5. Mô hình minh họa cấu trúc điển hình của ty thể.

Ty thể có chứa DNA hệ gen riêng, gọi là hệ gen ty thể (mitochondrial
genome) hay vật chất di truyền ngoài nhân, có cấu tạo dạng vòng, gồm các gen mã
hóa tổng hợp các protein enzyme tham gia quá trình ôxy hóa – khử xảy ra trong ty
thể, cùng với bộ máy phiên mã và dịch mã riêng. Các đặc điểm này của ty thể rất
giống với đặc điểm cấu tạo của vi khuẩn và do đó các nhà khoa học cho rằng, ty thể
là bào quan có nguồn gốc từ vi khuẩn cộng sinh nội bào (endosymbiotic) với các tế
bào nhân thật xuất hiện sớm nhất (Kuroiwa et al., 2006; Saccone et al., 1999).

* Đặc điểm hệ gen ty thể động vật:

atp6, atp8*
RNA ribosome tiểu phần lớn
LrRNA
rrnL
RNA ribosome tiểu phần nhỏ
SrRNA
rrnS
RNA vận chuyển chuyên biệt cho
mỗi amino acid (18 RNA)
Mỗi axít amin tương ứng
với một ký tự
trnV, trnH
RNA vận chuyển đặc hiệu cho
leucine (2 RNA)
Được phân biệt bởi codon
nhận biết L (CUN) và L
(UUR)
trnL1, trnL2

RN vận chuyển đặc hiệu cho
serine (2 RNA)
Được phân biệt bởi codon
nhận biết S (AGN) và S
(UCN)
trnS1, trnS2
Ghi chú: Dấu (*) biểu thị gen không có trong hệ gen ty thể của KST (Le et al., 2002).

Các gen mã hóa cho các protein ở hệ gen ty thể động vật bao gồm: 7 gen mã
hoá cho phức hợp nicotinamide dehydrogenase (nad) (nad1-6 và nad4L); 3 gen mã
hóa cho phức hợp cytochrome oxidase (cox) (cox1-3); 1 gen mã hoá cho

19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

dịch mã (Wolstenholme, 1992). Các mã kết thúc phổ biến là TAG hoặc TAA, trong
khi ở loài sán dẹt Dugesia japonica, TAA được ghi nhận là đặc hiệu cho Tyrosine
(Bessho et al., 1992). Trong một vài trường hợp, chỉ có ncucleotid T hoặc bộ đôi
TA được sử dụng làm bộ ba kết thúc một gen, như thường thấy ở hệ gen ty thể
nhiều loài giun tròn hoặc sinh vật nhân thật (metazoan) (Le et al., 2004). Việc gắn
thêm chuỗi adenyl (A) ở đầu 3‟ trong quá trình phiên mã sẽ bổ sung thêm A để hoàn
chỉnh mã kết thúc.
Một số mã di truyền chỉ đặc hiệu cho các amino acid của ty thể là: ATA,
AGA, AGG, AAA, TGA, GTG và TAA (khác với các mã trong hệ gen nhân). ATA
mã hoá cho Methionine ở hầu hết động vật đa bào, nhưng lại mã hóa cho Isoleucine
ở động vật da gai, sán lá và sán dây (Le et al., 2001). AGA và AGG mã hoá cho
Arginine trong bảng mã di truyền chung, nhưng là các mã kết thúc ở ty thể của động
vật có xương sống, hoặc mã hóa cho Serine ở động vật không xương và sán dẹt.
AAA đặc hiệu cho Lysine và TGA là mã kết thúc trong bảng mã di truyền chung,
nhưng ở nhiều ty thể của động vật đa bào bao gồm sán dẹt, thì AAA mã hoá cho
Asparagine và TGA mã hoá cho Tryptophan, TAA và TAG là các mã kết thúc ở sán
dẹt (Le et al., 2000; Telford et al., 2000).
* Chức năng và cấu trúc của RNA vận chuyển (tRNA):
* Chức năng của các tRNA:
Mỗi phân tử tRNA có hai chức năng chính là gắn và vận chuyển amino acid
đã được hoạt hóa đến phức hệ “ribosome-mRNA”, để tiến hành việc đọc - dịch mã
cho một codon cụ thể trên phân tử RNA thông tin (mRNA).
* Cấu trúc của các tRNA:
Hầu hết các tRNA hệ gen nhân có khoảng 75 - 80 nucleotide (các tRNA hệ
gen ty thể ngắn hơn, khoảng 55 - 72 nucleotide) và có cấu trúc bậc hai mở rộng, do
các tương tác giữa cặp base (A-U và G-C) ở một số đoạn của chúng, cũng như cấu
trúc bậc ba (không phải dạng siêu xoắn, mà nó có kiểu uốn gập thêm nữa trong


Bảng 1.2. Vị trí xác định từng gen (mã hóa protein, RNA vận chuyển và RNA ribosome) và các
vùng không mã hóa trong hệ gen ty thể H. taichui (một chủng của Hàn Quốc)
(
Gen và
trình tự
Chiều dài
(bp)
Vị trí
5' đến 3'
Bộ mã
bắt đầu
Bộ mã
kết thúc
Ghi chú
cox3
657
1–657
ATG
TAG
658-659 Vùng giao gen (2 bp)
tRNA-His
66
660-725
Gen lồng (42 bp)
nad4
1281
2067-3347
GTG
TAA
3348-3356 Vùng giao gen (9 bp)
tRNA-Gln
66
3357-3422 3423-3426 Vùng giao gen (4bp)
tRNA-Phe
62
3427-3488
Vùng giao gen (4 bp)
tRNA-Val
60
4968-5027 5028 Vùng giao gen (1 bp)
tRNA-Ala
63
5029-5091 5092-5093 Vùng giao gen (2 bp)
tRNA-Asp
67
5094-5160
Gen overlap (4 bp)
tRNA-Ile
65
6199-6263 6264-6266 Vùng giao gen (3 bp)
tRNA-Lys
65
6267-6331
nad3
360
6332-6691
Vùng giao gen (4 bp)
cox1
1542
6842-8383
ATG
TAG
8384 Vùng giao gen (1bp)
tRNA-Thr
61
8385-8445
16S rRNA
979
8446-9424 9425

ATG
TAG

tRNA-Tyr
67
11.306-11.372
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Gen lồng (3 bp)
tRNA-Leu(CUN)
66
11.370-11.435 Gen lồng (2 bp)
11.649 Vùng giao gen (1 bp)
nad5
1587
11.650-13.236
GTG
TAA
13.237-13.247 Vùng giao gen (11 bp)
tRNA-Glu
73
13.248-13.320 13.321-13.332 Vùng giao gen (2 bp)

ch ồng
nhau (gen overlap) (Hình 1.6).
- H. taichui
: cox3, cob, nad4L, nad4, atp6, nad2, nad1, nad3,
cox1, cox2, nad6, nad5
protein, có cấu trúc hoàn toàn đặc trưng có hình “lá sồi” (clover-leaf), ngoại trừ
tRNA của Serine (trnS1; trnS2), tRNA của Cysteine (trnC) trong đó cánh tay DHU
(DHU-arm) hoàn toàn bị khuyết ở tất cả hệ gen ty thể của sán dẹt (Le et al., 2004);
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2 gen RNA ribosome rrnL (ribosomeal ribonucleic acid loại lớn (L) hay 16S) và
rrnS (ribosomeal ribonucleic acid loại bé (S) hay 12S) và một vùng không gen
không mã hóa cho bất kỳ protein nào (non-coding), có độ dài thay đổi từ vài trăm
đến hàng nghìn nucleotide 1.2) (Hu và Gasser, 2006; Le et al., 2002).
Như vậy, trật tự và cấu trúc gen (gen mã hóa protein, gen rRNA và tRNA)
trong hệ gen ty thể của H. taichui, cũng giống như những chủng của một số loài sán
dẹt trước đây đã được giải mã, không có sự biến đổi đặc biệt đối với các bộ mã khởi
đầu hay kết thúc. Theo Le et al. (2004), bộ mã khởi đầu ATG/GTG và bộ mã kết
thúc TAA/TAG của các gen mã hóa protein trong hệ gen ty thể H. taichui, cũng là
các bộ mã được sử dụng thông dụng ở hệ gen ty thể của sán dẹt được biết đến nay.
1.4. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU GIẢI MÃ HỆ GEN TY
THỂ LOÀI SÁN LÁ RUỘT NHỎ H. TAICHUI
Ngày nay, các bệnh do các loài kí sinh trùng (giun, sán), đặc biệt loài sán lá
ruột nhỏ kí sinh trong đường tiêu hóa xuất hiện phổ biến ở người và số người mắc
các bệnh này không ngừng gia tăng hàng năm. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh sán
lá ruột nhỏ là do ăn cá sống, ăn thức ăn chưa nấu chín từ cá có chứa ấu trùng sán lá
ruột nhỏ. Bên cạnh đó, khả năng nhiễm các loài sán lá ruột nhỏ ở người còn phụ
thuộc vào các vùng địa lý dịch tễ khác nhau, thói quen, tập quán ăn uống và hiểu
biết về chăm sóc sức khỏe của cộng đồng dân cư trong vùng dịch tễ. Hơn nữa, phần

Trên cơ sở thu thập chính xác một số chủng H. taichui dựa trên phương pháp
hình thái và sinh học, do hợp tác với Viện Sốt rét - Ký sinh trùng – Côn trùng Trung
ương và Bộ môn Ký sinh trùng – trường Đại học Y Hà Nội, chúng tôi tiến hành giải
mã toàn bộ hệ gen và phân tích những đặc điểm biến đổi thành phần nucleotide và
amino acid của hệ gen ty thể loài H. taichui từ các chủng nói trên. Dựa trên hiểu
biết về đặc điểm và chức năng gen cox1 ở các loài sán lá ký sinh và gây bệnh trên
hệ tiêu hoá của ngườ o protein cox1 có vai trò quan trọng
trong việc vận chuyển điện tử thực hiện phản ứng oxy-hoá khử của hệ thống hô hấp
tế bào. Gen này đã được xác định về mặt cấu trúc bằng sinh học phân tử ở nhiều
quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam và đã được đăng
, gen cox1 có độ bảo tồn rất cao, sự sai khác về thành phần nucleotide
cũng như của amino acid cho phép kết luận được sự biến đổi về nội loài, ngoại loài,
cũng như kết luận phân loại về loài sán lá ruột nhỏ đó. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn
25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

gen cox1 làm chỉ thị phân tử cho việc giám định loài sán lá ruột nhỏ của Việt Nam
dựa trên gen cox1 là đủ cơ sở khoa học và chính xác.
Như vậ ột nhỏ
, ột nhỏ
loài sán lá ruột nhỏ đang nghiên cứu .

Trích đoạn CHUI THU NHẬN TẠI QUẢNG TRỊ Phân tích trật tự sắp xếp, độ dài các gen mã hóa protein và tRNA Kết quả truy cập Ngân hàng gen sử dụng trình tự nucleotide gen Phân tích mối quan hệ nguồn gốc phả hệ giữa chủng HTAQT của Việt Nam với các loài sán lá dựa trên một phần trình tự gen co
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status