KHẢO sát tỷ lệ tật KHÚC xạ và KIẾN THỨC, THÁI độ, HÀNH VI của học SINH, CHA mẹ học SINH và GIÁO VIÊN về tật KHÚC xạ tại TP HCM - Pdf 30


13

KHẢO SÁT TỶ LỆ TẬT KHÚC XẠ VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI
CỦA HỌC SINH, CHA MẸ HỌC SINH VÀ GIÁO VIÊN VỀ TẬT KHÚC XẠ
TẠI TP. HCM.
Lê Thị Thanh Xuyên*, Bùi Thị Thu Hương*, Phí Duy Tiến*, Nguyễn Hoàng Cẩn*,
Trần Huy Hoàng*, Huỳnh Chí Nguyễn*, Nguyễn Thị Diễm Uyên* và CS.
Mục đích: Khảo sát tỉ lệ tật khúc xạ của học sinh và các đặc điểm kiến thức, thái độ, hành vi về tật khúc
xạ của học sinh, cha mẹ học sinh và giáo viên tại TP. HCM.
Phương pháp: Phương pháp quan sát phân tích, cắt ngang. Từ 3/2005 – 12/2007. 2747 học sinh
(1332 nam, 1415 nữ) của 20 trường của 6 quận huyện đại diện cho 4 vùng dân cư tại TP HCM, có độ tuổi
7- 15 được điều tra về tật khúc xạ với khúc xạ tự động có liệt điều tiết và khảo sát kiến thức- thái độ - hành
vi về tật khúc xạ theo cấp lớp, giới tính, địa dư (trung tâm, cận TT, ven, ngoại thành)…. 1967 cha mẹ học
sinh và 752 giáo viên của 2407 học sinh trên đồng thời cũng được khảo sát kiến thức- thái độ - hành vi về
tật khúc xạ theo tuổi, giới, địa dư, mức thu nhập, trình độ…
Kết quả: Tỷ lệ tật khúc xạ: Tỷ lệ tật khúc xạ chung 39,35%, cận thị (SE ≤– 0,50D) - 38,88%, viễn thị
(SE ≥ + 2,0D) - 0,47%, loạn thị (cylinder > 0.75D) l 30,4%. Tỷ lệ bất đồng khúc xạ (SE 2 mắt chênh nhau >
1D) là 6%; SE 2 mắt chênh > 3D là 3,64%. Tỷ lệ cận thị theo cấp lớp là 29,86% (cấp 1), 46,11%(cấp 2),
43,63% (cấp 3) cho thấy tỷ lệ cận thị tăng dần theo cấp học. Ngược lại, tỷ lệ viễn thị theo cấp lớp: 0,74%
(cấp 1), 0,27% (cấp 2), 0,18% (cấp 3). Tỷ lệ cận thị theo giới là 36,04% (nam), 41,55% (nữ). Tỷ lệ cận thị
theo vùng là 56,67% (trung tâm), 36,93% (cận trung tâm), 38,88% (ven) và 15,48% (ngoại thành). Đặc
điểm kiến thức - thái độ - hành vi: HỌC SINH: 2052 HS Tỉ lệ chung về phân loại kiến thức:16,6% tốt,
35,9% khá, 34,3% trung bình, 13,3% yếu.Tỉ lệ chung phân loại thái độ- hành vi:tốt 0%, khá: 1,3%, trung
bình:64,4%, yếu: 34,4%. CHA MẸ HỌC SINH: khảo sát 1967 cha mẹ học sinh 10% có kiến thức tốt, 34,7%
khá, 44% trung bình, 11,4% yếu.Thái độ hành vi: tốt 2,6%, khá: 27%, trung bình: 62%, yếu: 8,3.%.
GIÁO VIÊN: khảo sát 752 giáo viên: 23,8% có kiến thức tốt, 43,6% khá, 27,4% trung bình, 5,2 % yếu. Thái
độ- hành vi: tốt 10,8%, khá: 34%, trung bình: 43,4%, yếu: 11,8%.
Kết luận: Tỉ lệ tật khúc xạ ở học sinh khá cao, đến 39,35%. Trong đó hầu hết là cận thị, chiếm 96,5%;
tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ TKX ở HS các nước chấu Á như Đài loan, Hồng kong, Singapore nhưng
cao hơn ở các tỉnh khác của Việt nam và một số nước như Chi le, Nepan, Ấn độ. Tỉ lệ cận thị gia tăng theo

of R.E among the school children were 16.6% (very good), 35.9% (good), 34.3% (fair), 11.4% (poor).
Attitudes and self care practices associated with R.E of them were lower. The results are the followings: very
good (0%), good (1.3%), fair (64.4%), poor (34.4%). About the parents: Knowledge of R.E was found to be
10% in very good, 34.7% in good, 44% in fair, 11.4% in poor. Attitudes and self care practices associated
with R.E of them were lower, too. Very good (2.6%), good (27%), fair (62%), poor (8.3%). About the
teachers: very good (23.8%%), good (43.6%%), fair (27.4%), poor (5.2%) were found in knowledge.
Attitudes and self care practices associated with R.E results were very good (10.8%), good (34%), fair
(43.4%), poor (11.8%). This shows that KAP of this group was better than that in the school children group
and their parents group.
Conclusion: In abstract, the prevalence of myopia (38.88%) in HCMC school children was similar to
those found in Asian countries like Taiwan, Singapore, Hong Kong but higher than those in other provinces
of Vietnam as well as in other countries as Chile, Nepal and India. KAP evaluation was very useful in social
education and heath service as well.

Kiến thức - thái độ - hành vi: Kiến thức
chung của học sinh về tật khúc xạ chưa được tốt,
hầu hết chỉ đạt khá và trung bình.Thái độ- hành
vi của học sinh về tật khúc xạ còn thấp hơn, Kiến
thức chung của giáo viên về tật khúc xạ đạt ở
mức độ khá, điểm trung bình kiến thức không
có sự khác biệt đáng kể giữa các yếu tố điạ lý,
dân cư, xã hội. Như vậy trong cả 3 nhóm
nghiên cứu, nhóm GV có điểm trung bình KT-
TĐ – HV tốt hơn nhóm CMHS và HS có ý
nghĩa thống kê. Nhóm CMHS có kết quả tốt
hơn nhóm HS. Vì vậy các đối tượng trực tiếp
liên quan đến TKX cần phải có các giải pháp
truyền thông thích hợp nhằm nâng cao nhận
thức và đồng thời giúp thay đổi thái độ- hành
vi có lợi cho sức khỏe, phòng chống TKX một

đưa TKX vào danh sách những bệnh trọng tâm
của chương trình thị giác 2020, và là bệnh gây
mù có thể chữa được.
Tại các nước có mạng lưới chăm sóc sức
khỏe ban đầu tốt, trẻ em thường được khám
mắt phát hiện bệnh, trong đó có TKX từ lứa
tuổi mầm non. Trẻ sẽ được khám định kỳ theo
dõi TKX, điều chỉnh kính đúng để phòng ngừa
những biến chứng như nhược thị, song thị, lé.
Ở các nước đang phát triển như Việt nam, hệ
thống y tế cơ sở còn mỏng, nhân sự còn chưa
đủ, trang thiết bị còn thiếu. Công tác thực hiện
và theo dõi khúc xạ chưa được đầu tư đúng
mức. Bên cạnh đó, mức độ nhận thức, mối
quan tâm, sự hiểu biết của mọi người về TKX
còn rất sơ sài, thậm chí còn có nhiều quan
niệm sai lầm, lệch lạc.
Để công tác tuyên truyền giáo dục sức
khoẻ, phòng chống cận thị có hiệu quả, phù
hợp với từng đối tượng, từng tuổi, từng giới
và nâng cao sự hiểu biết của người dân; Chúng
tôi thấy cần phải có nghiên cứu khảo sát về
mức độ hiểu biết, mối quan tâm của cộng đồng
về lãnh vực này. Đặc biệt là đối tượng học sinh
và cha mẹ học sinh (CMHS), giáo viên (GV): là
đối tượng liên quan trực tiếp đến vấn đề TKX.
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh tại
thành phố Hồ Chí Minh.
Mô tả các đặc điểm về mặt kiến thức, thái

kinh tế xã hội và tỷ lệ mật độ trường học và số
học sinh trong quận huyện. Kết quả các quận
được chọn vào nhóm nghiên cứu là: Q.5, Q.10
(Vùng nội thành trung tâm), Q.4, Gò Vấp
(vùng nội thành cận trung tâm), Q. Thủ Đức
(vùng ven), H. Bình Chánh (vùng ngoại
thành). Mẫu khảo sát HS được tính toán theo
bảng hướng dẫn của Hội nghị toàn quốc về
khúc xạ tại Ninh thuận 16 -18/12/2004. Lấy
mẫu theo kỹ thuật phân cụm PPS.
Học sinh sẽ được khám đo thị lực không
kính, có kính, đo khúc xạ trước và sau khi đã
liệt điều tiết bằng thuốc nhỏ mắt Cyclogyl và
ghi nhận kết quả. Tất cả các học sinh tham gia
khảo sát khúc xạ.

16

Đồng thời HS và CMHS, GV tại các trường
tham gia nghiên cứu được phát phiếu thăm dò
về KT – TĐ - HV về TKX.
Vật liệu nghiên cứu:
Bảng câu hỏi: Có ba bộ câu hỏi, mỗi bộ có
20 câu, chủ yếu là câu hỏi đóng. Các câu hỏi
được thiết kế dựa vào nội dung kiến thức, thái
độ, hành vi của các đối tượng về tật khúc xạ.
Bảng thang điểm đánh giá các dữ liệu thu
thập phù hợp với từng bảng câu hỏi, chia 4
mức độ: tốt, khá, trung bình, yếu.
- Bảng đo thị lực Snellen 4 m.

Đối với HS: tổ chức buổi điều tra khám
khúc xạ.
Qui trình tổ chức khám khúc xạ: tất cả HS
được thử thị lực, HS đang đeo kính và HS
không kính có TL ≤ 5/10, đo kính lỗ tăng sẽ
được đo KXTĐ trước và sau khi liệt điều tiết
30pht bằng Cyclogyl 1% 3 lần, mỗi lần 1 giọt.
Các qui ước thu thập dữ liệu
Độ cầu tương đương (SE – Spherical
equivalent)
SE = P(S) + ½ P(C).
P(S): SPHERICAL POWER = độ cầu
P(C): CYLINDER POWER = độ loạn
Cận thị nếu: SE < - 0,5D
Bất đồng khúc xạ nếu SE hai mắt chênh
lệch nhau > 1,0 D
Viễn thị nếu SE > +2,0 D.
Cận thị nặng nếu SE ≤ - 3,0 D
Cận thị nhẹ nếu SE > -3,0 D nhưng ≤ - 0,5 D.
Chính thị nếu SE > - 0,5 D và < + 2,0 D.
Trẻ được xem là cận thị nếu 1 hoặc 2 mắt
cận thị.
Trẻ được xem là viễn thị khi 2 mắt đều là
viễn thị, hoặc 1 mắt viễn và mắt kia chính thị.
Loạn thị được tính khi giá trị loạn thị ≥ 0,75D.
TL 20/25 được qui ước là 8/10. TL 20/30
được qui ước là 6/10.
Bộ câu hỏi không đạt chuẩn khi trả lời <
50% câu.
Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu

tâm
382 325 211 918 (33%)

Vùng ven 159 137 131 427 (16%)

Vùng ngoại th
ành
319 142 101 562 (20%)

TỔNG CỘNG 1077

(39,2%)

947
(34,5%)

723
(26,3%)

2747
(100%)
Bảng 2: Tình hình thị lực: Tỉ lệ giảm thị lực
không và có kính
Thị lực không kính
(2747 ca)
Thị lực có kính

(723 ca)

≤ 5/10 < 8/10 ≤ 5/10 < 8/10

Cấp III - 1,29 (SD=2,12)

- 1,32 (SD=2,11)

Tỉ lệ tật khúc xạ
Tỉ lệ tật khúc xạ chung: 39,35%
+ Cận thị chung: 38,88%
+ Cận thị nặng (có ít nhất 1 mắt SE ≤ - 3,00):
16,6%
+ Cận thị nhẹ (có 1 hoặc 2 mắt -3,00 < SE ≤ -
0,50 và không có mắt cận nặng): 22,28%
+ Viễn thị: 0,47%
Khảo sát theo cấp lớp
Bảng 4:
Cận thị
nặng
(SE ≤ - 3,00)

Cận thị nhẹ
(-3,00 < SE < -
0,50)
Cận thị chung

(SE ≤ - 0,50)
Cấp I 91 241 332 (29,86%)
Cấp II 194 227 421 (46,11%)
Cấp III 171 144 315 (43,63%)
Cận thị
nặng
(SE ≤ - 3,00)

456 612 1068
Tỉ lệ cận thị giữa 2 giới có sự khác biệt (χ
2
,
p<0,01).
Khảo sát theo vùng
Bảng 6
Cận thị
nặng (SE

- 3,00)
Cận thị nhẹ
(-3,00 < SE < -

0,50)
Cận thị chung

(SE ≤ - 0,50)
Trung tâm 246 230 476 (56,67%)
Cận trung
tâm
142 197 339 (36,93%)
Ven 51 115 166 (38,88%)
Ngoại thành

17 70 87 (15,48%)
+ Tỉ lệ cận thị vùng TT cao hơn so cận TT
(χ2, p<0,05).
+ Tỉ lệ cận thị vùng cận TT và vùng ven
tương đương nhau (χ

độ trụ ≥ 0,75D): 835 ca, tỷ lệ 30,39%.
+ Trong đó có 376 em loạn 1 mắt và 459 em
loạn 2 mắt.
+ Số HS có độ loạn từ 0,75-1,50D: 583 ca. Số
HS có độ loạn từ 1,75-2,50D: 137 ca. Số HS có
độ loạn từ 2,75-3,50D: 79 ca. Số HS có độ loạn
≥ 3,75D: 36 ca.
Đánh giá loạn thị theo giới
+ Có 382 HS nam có loạn thị: tỉ lệ loạn thị là
28,69%.
+ Có 453 HS nữ có loạn thị: tỉ lệ loạn thị là
32,01%.
Tỉ lệ loạn thị giữa 2 giới khác biệt không ý
nghĩa (χ2, p>0,05).
Đánh giá loạn thị theo tuổi
+ Trong 1112 HS cấp 1 có 298 HS loạn thị, tỉ
lệ: 26,8%.
+ Trong 913 HS cấp 2 có 308 HS loạn thị, tỉ
lệ: 33,73%.
+ Trong 722 HS cấp 3 có 229 HS loạn thị, tỉ
lệ: 31,72%.
Tỉ lệ loạn thị giữa 3 cấp khác biệt có ý
nghĩa (χ
2
, p<0,01). Tỉ lệ loạn thị cấp 2 và3 là
như nhau và cao hơn so cấp 1.
Kết quả kiến thức thái độ hành vi
Dân số khảo sát
Học sinh
2747 HS được phát phiếu thăm dò, 2052

Vùng trung tâm chiếm tỷ lệ là 26%, cận TT:
29,9%, Vùng ven: 27,2%, ngoại thành: 16,9%.
Trình độ học vấn: Mù chữ: 0,6%, cấp 1:
9,4%, cấp 2: 33%, cấp 3: 34,8%, trên cấp 3:
22,3%.
Nghề nghiệp: CB ngành y tế: 4,3%, CNV
văn phòng: 20,5%, buôn bán: 34,1%, nông dân:
6,5%, công nhân: 22%, LĐ phổ thông: 12,7%.
Tiền sử gia đình có TKX: 14,4% có, 75,4%
không, 10,2% không biết.
Thu nhập: ≤1M: 62,6%: bao gồm 6%
<250.000, 56,6% 250.000 – 1M); > 1M: 37,4%.

Kết quả kiến thức - thái độ - hành vi

19

Kết quả kiến thức - thái độ - hành vi của HS
Bảng 7: Kiến thức, Thái độ - Hành vi về TKX của
học sinh
Kiến thức học sinh

Thái ñộ -
hành vi
Tốt 341 (16.6%) 0 (0%)
Kiến thức học sinh

Thái ñộ -
hành vi
Khá 736 (35,9%) 26 (1,3%)

268 214
70 0 18
469 214
Cấp 3
21,3%
38,2% 30,5%
10% 0% 2,6%
66,9% 30,5%
Nhận xét:
Phân loại kiến thức của học
sinh cấp I khác so nhóm học sinh cấp II-III (p <
0,001) kiến thức tốt và khá ở học sinh cấp I
chiếm tỉ lệ thấp hơn, trong khi kiến thức trung
bình và kém nhiều hơn. Tỉ lệ các nhóm phân
loại kiến thức giữa 2 cấp II và III là như nhau
(p > 0,05).
Bảng 9: Đánh giá kiến thức học sinh theo vùng:
PHÂN LOẠI KIẾN THỨC

PHÂN LOẠI THÁI ĐỘ-

HÀNH VI
VÙNG

Tốt Khá

Trung
bình

Yếu Tốt

22,4%

33,4%

31,1%

13,1%

0%

1,5%

69,7%

28,8%

25 83 102 44 0 2 161 91 Ven

9,8%

32,7%

40,2%

17,3%

0%

0,8%


(ANOVA, p< 0,001).
+ Vùng cận TT có điểm trung bình cao
nhất.
+ 3 vùng còn lại có điểm TB tương đương
và thấp hơn so vùng cận TT
Kết quả kiến thức - thái độ - hành vi của
CMHS:
Khảo sát 1967 cha mẹ học sinh: 10% có kiến
thức tốt, 34,7% khá, 44% trung bình, 11,4% yếu.

Bảng 10:
Phân loại kiến thức CMHS
Phân loại kiến thức

Tốt Khá Trung bình

Yếu

trung tâm

10,4% 39,7% 40,9% 9%
Cận
trung tâm

11,7% 32,7% 46,1% 9%
Vung ven

11,4% 36,6% 42,2% 9,9%

Vùng

12,4% 35,1% 44,9% 7,6%

có 13,8% 47,3% 34,3% 4,6%

không 9,8% 33,4% 45,6% 11,2%

tiền sử
gia ñình

Không rõ

5,5% 26% 46,5% 22,5%

Nhận xét: Kết quả kiến thức của các vùng
dân cư cho thấy chỉ hầu hết đạt khá và trung
bình. Tỷ lệ đạt khá tốt còn thấp và khác biệt giữa
các vùng dân cư có ý nghĩa thống kê (p< 0,001).
Thu nhập và tiền sử gia đình có ảnh hưởng
đến kiến thức. Thu nhập > 1 triệu đồng/tháng
cho kết quả tốt và khá cao hơn có ý nghĩa
thống kê. Tuổi > 40 cho thấy kết quả thái độ –
hành vi tốt hơn < 40 tuổi. Người có TS gia đình

20

có kiến thức tốt hơn người không có, người
không rõ tiền sử có KT kém nhất. (p< 0,001).
Nam, nữ cho kết qua không có sự khác biệt
(p< 0,001).
Bảng 11:

nam
2,3% 26,9% 61,8% 9%
Giới

2,8% 27,2% 62,2% 7,8%
< 1 triệu

2,3% 25,5% 62,3% 10%
Thu
nhập
> 1 triệu

3,1% 29,7% 61,6% 5,6%
có 3,9% 30,4% 60,4% 5,3%
không 2,6% 27,4% 61,8% 8,2%
tiền sử
gia ñình

Không rõ

2,6% 27% 62% 8,3%
Nhận xét: Kết quả thái độ –hành vi của các
vùng dân cư cho thấy chỉ hầu hết đạt mức
trung bình. Tỷ lệ đạt khá tốt còn thấp và khác
biệt giữa các vùng dân cư có ý nghĩa thống kê
(p< 0,001).
Thu nhập gia đình có ảnh hưởng đến thái
độ – hành vi. Thu nhập > 1 triệu đồng/tháng
cho kết quả tốt và khá cao hơn có ý nghĩa
thống kê. Tuổi > 40 cho thấy kết quả thái độ –

Nguồn thông tin tiếp
nhận
HS CMHS

giáo viên

Chưa từng nghe nói 3,3% 6,9% 1,5%
Từ cán bộ Y tế 44,4% 33,7% 42,2%
Từ người xung quanh 60,1% 35,1% 45,3%
Từ phương tiện truyền
thông
55,7% 72,8% 80,1%
Từ câu lạc bộ khúc xạ 10,1% 8,4% 6,7%
Từ thầy cô giáo 55,1% 19,9% 6,7%
Từ tập huấn y tế học
ñường
47,1%
Bảng 13: Nguồn thông tin đề nghị khi muốn tìm
hiểu về tật khúc xạ
Nguồn thông tin ñề nghị

HS CMHS

Giáo viên

Từ cán bộ Y tế 48,7% 59,4% 59,4%
Từ người xung quanh 48,8% 19,9% 17,9%
Từ phương tiện truyền
thông
44,3% 53,7% 58,8%

Nhà văn hóa 4% 4,5% 8%
Trường học 67,7% 82,7% 89,8%
Nơi khác (TTYT, hotline,
internet)
1,9% 2,6% 2,3%
Các phương tiện truyền thông chọn lựa:
Báo chí: 33,5%
Tranh ảnh áp phích: 47,1%
Truyền hình: 67,2%
Bài học ngoại khóa: 13,9%
Đài phát thanh: 14,6%
Đề nghị khác: 2,4%
BÀN LUẬN
Tỷ lệ tật khúc xạ
Trong 2747 em HS khảo sát có 1081 em
mắc TKX: 1068 trường hợp cận thị (38,88%),
cận thị nặng l 456 em (16,6%), cận thị nhẹ l 612
(22,28%) và 13 em viễn thị (0,47%), tỷ lệ TKX
chung 39,35%.
Rõ ràng TKX đang chiếm một tỷ lệ rất cao
ở đối tượng HS, trong đó chủ yếu là tật cận thị
với 38,88%. Như vậy, cùng một vị trí địa lý và
cách nghiên cứu, tỷ lệ cận thị chung ở HS cũng
như ở các cấp học trong nghiên cứu của chúng
tôi cao gấp 4,5 lần so với kết quả của GS.
HOÀNG THỊ LŨY (1994) và gấp 1,5 kết quả
của BS. TRẦN HẢI YẾN (2002).
Bảng 16
Năm nghiên


18,4%

30,4%

36,2%

Lê Thị
Thanh
Xuyên

2005(n=2747)

39,35%

29,86%

46,11%

43,63%

Phải chăng trong những năm gần đây,
cường độ học tập căng thẳng của HS, thói
quen vui chơi, giải trí thay đổi, thời gian nhìn
gần của mắt nhiều hơn rất nhiều so với những
năm trước là một trong những yếu tố quan
trọng gia tăng tỷ lệ TKX, đặc biệt là cận thị
trong HS.
Chỉ số SE Trung bình của HS cấp 1 (-0,55D),
cấp 2 (-1,20D đến -1,24D), cấp 3(1,29D đến -
1,32D) cho thấy độ SE tăng dần theo tuổi, cấp

nội thành TT (56,67%) cao hơn rõ rệt so với các
vùng khác; Vùng nội thành TT có tỷ lệ cận thị
cao gần gấp 3 lần vùng ngoại thành (15,48%) và
gấp 1,5 lần vùng cận TT (36,93%) và vùng ven
(38,88%). Tương tự kết quả nghiên cứu của GS
Hoàng Thị Lũy và Nguyễn Thị Minh Hằng
trong so sánh dưới đây. Điều này khiến chúng ta
phải xem xét ảnh hưởng của yếu tố môi trường
sống, thói quen trong sinh hoạt và học tập có thể
tác động đến TKX ở HS không?

22

So sánh với kết quả nghiên cứu TKX ở trong
và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ TKX ở
HS tại TP. HCM cao tương đương với tỷ lệ TKX
của Trung quốc và Singapore, cao hơn so với các
nước trong khu vực khác như: Nepan (<5%), Ấn
độ, Chile (14,7% - 19,4%). Nước ta có chủng tộc
gần giống Trung quốc (79,3%) và Singapore,
Malays (65,0%). Câu hỏi đặt ra: có thể yếu tố
chủng tộc liên quan đến TKX? Tỷ lệ cận thị ở
nam là 36,04% và nữ 41,55%, sự khác biệt có ý
nghĩa là kết quả này phù hợp với nghiên cứu
của các nước Đài Loan, Trung quốc mà chúng ta
cần phải tìm thêm lý do? Phải chăng tính cẩn
thận, tỷ mỉ của nữ là yếu tố nguy cơ?
Người ta thấy rằng TKX ảnh hưởng không ít
đến đời sống sinh hoạt, học tập và vui chơi của
trẻ. Bên cạnh đó ảnh hưởng về mặt xã hội cũng

TP. HCM 2002-2004 3444 HS Viễn thị 8.1%, cận thị 17.2%.
TKX là 25.3%
Lê thị Thanh Xuyên và CS TP. HCM 2005-2007 2747HS TKX 39,35%, Cận thị 38,88%,
Viễn thị 0,47%.
Cận thị Nội thành TT:56,7%
Cận TT:36,9%, vùng ven: 38,8%
Ngoại thành:15,5%

23

Tỷ lệ học sinh có kính
Gerardo M.Villareal nghiên cứu năm 1999 tại thành phố Monterey – Mexico điều tra
1035 học sinh (454 nam, 581 nữ) từ 12 – 13 tuổi; 160 trường hợp chỉ định đeo kính, 64 không
dùng kính, 96 em (60%) dùng kính thì 57 em (95%) đeo kính không đúng độ.
Nghiên cứu của Bs. Ngô Thị Chức – Giám đốc Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội
tỉnh Hưng yên. Khám điều tra cho 9.952 em học sinh THCS và THPT phát hiện 806 em
bị TKX (tỷ lệ 8,06%) trong đó chỉ có 136 em (16,9%) đang đeo kính.
Trong một nghiên cứu “Đánh giá tình hình cận thị trong học sinh ở Hải phòng năm
2003 – 2004” của BS. Nguyễn Thị Minh Hằng, Trần Mạnh Đô và CS ở Trung tâm mắt
Hải Phòng. Trong số học sinh cận thị chỉ có 10.32% được chỉnh kính đúng, 24,78% đang
mang kính nhưng chưa đúng và số còn lại 64,9% chưa được mang kính.
Trong số 1081 em bị TKX chỉ có 726 em đeo kính, chiếm tỷ lệ 67,16%, dù tăng lên
nhiều so với nghiên cứu cách 4 năm của tác giả TRẦN HẢI YẾN tại TP. HCM là 28%. So
sánh với các tác giả trong nước và nước ngoài thấy tỷ lệ học sinh đeo kính cao hơn và có
thị lực với kính tốt hơn. Nhưng trong số 726 em đeo kính thì TL≤ 5/10 vẫn còn 46,9% ở ít
nhất 1 mắt và 26% với cả 2 mắt.
Tại TP. HCM, tình trạng các lớp học có sĩ số học sinh trên 40 em/lớp rất phổ biến, nhiều
lớp sĩ số HS lên tới 50 – 60 em, rất nhiều em ngồi xa bảng hơn 7 m. Vậy mà TL ≤ 5/10 vẫn
còn 46,9% ở ít nhất 1 mắt và 26% với cả 2 mắt thì các em ngồi học với TL như vậy sẽ ảnh
hưởng rất nhiều đến kết quả học tập và sinh hoạt của các em.

Thái độ- hành vi của 1967 CMHS về TKX đạt mức thấp, ở mức trung bình 44% và yếu
vẫn còn 11,4%. Trình độ học vấn, thu nhập gia đình, vùng dân cư có ảnh hưởng đến kiến
thức – thái độ – hành vi của học sinh, CMHS, giáo viên, người có tiền sử gia đình có người
thân mắc TKX cũng có KT – TĐ –HV tốt hơn nhóm còn lại. Thu nhập > 1 triệu đồng/tháng
cho kết quả tốt và khá cao hơn có ý nghĩa thống kê. Tuổi > 40 cho thấy kết quả thái độ –
hành vi tốt hơn < 40 tuổi. Người có TS gia đình có kiến thức tốt hơn người không có, người
không rõ tiền sử có KT kém nhất. Nam, nữ cho kết qua không có sự khác biệt.
Như vậy trong cả 3 nhóm nghiên cứu, nhóm GV có điểm trung bình KT-TĐ – HV tốt
hơn nhóm CMHS và HS có ý nghĩa thống kê. Nhóm CMHS có kết quả tốt hơn nhóm HS.
Như vậy các đối tượng trực tiếp liên quan đến TKX cần phải có các giải pháp truyền thông
thích hợp nhằm nâng cao nhận thức và đồng thời giúp thay đổi thái độ- hành vi có lợi cho
sức khỏe, phòng chống TKX một cách hiệu quả.
Các kiến thức và thái độ hành vi sai lầm thường gặp:
19,9% HS, 22,8% CMHS, 21,5% GV trong lô được thăm dò cho biết đeo kính điều chỉnh
cận thị sẽ làm tăng độ cận thị, 14,25 HS, 13% CMHS, 6,5% GV trả lời không biết TKX.
30,6% HS, 15,8% CMHS, 8,5% GV không biết tật khúc xạ có gây nhược thị và lé.
Trong số nhận là biêt TKX thì 75,8% HS, 72,6% CMHS, 75,2% GV không biết TKX có thể
là nguyên nhân gây lé.
38,9% HS, 30,5% CMHS, 24,7%GV không biết TKX có thể là nguyên nhân gây nhược
thị.
29% CMHS, 20,8%GV% không biết 6 tháng – 1 năm phải kiểm tra thị lực và mắt.
Chỉ có 67% HS có TKX đeo kính và tỷ lệ đeo kính chưa đạt TL >6/10 còn rất cao.
Những số liệu trên cho thấy còn tồn tại nhiều quan niệm lệch lạc, sai lầm về TKX,
kiến thức cũng như thái độ và hành vi về TKX còn chưa tốt.
Nhận xét về nguồn thông tin và đề xuất các giải pháp can thiệp thích hợp
Qua các nguồn thông tin thu thập và đề nghị của các đối tượng, ta thấy:
Nguồn thông tin mà các nhóm thu nhận có khác nhau tuỳ đối tượng; nguồn thông
tin tiếp nhận từ GV được HS ưu tiên chọn 55,1%, cao hơn rõ rệt so với CMHS (19,9%),
GV (6,7%) chọn. Do đó, trong kế hoạch truyền thông cho HS thì GV là đối tượng can
thiệp hỗ trơ ưu tiên. Chọn cách đưa thông tin về TKX và cách phòng tránh trên tập vở

đối tượng trực tiếp liên quan đến TKX cần phải có các giải pháp truyền thông thích hợp
nhằm nâng cao nhận thức và đồng thời giúp thay đổi thái độ- hành vi có lợi cho sức khỏe,
phòng chống TKX một cách hiệu quả.
Nguồn thông tin và các giải pháp đề nghị
Các hoạt động của CTMHĐ phải đạt được mục tiêu là nhắm đúng đối tượng đích, có
giải pháp phù hợp với tình trạng KT – TĐ – HV và các hình thức thăm dò truyền thông
nhằm nâng cao nhận thức đồng thời thay đổi các thái độ, hành vi không phù hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hà Huy Tài, Tình hình tật khúc xạ ở học sinh phổ thông, Nội san nhãn khoa 2000; 3, tr.90 – 93.
2. Hoàng Thị Luỹ và CS, Khảo sát tình hình thị lực và tật khúc xạ của học sinh, sinh viên trường phổ thông trung học và đại học chuyên
nghành. Nội san nhãn khoa 1999, 2, tr 74 – 83.
3. HỘI NHÃN KHOA MỸ, Quang học, khúc xạ, kính tiếp xúc. Giáo trình khoa học cơ sở và lâm sàng năm 2001-2002, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội trang 135-144.
4. Lê Anh Triết và Lê Thị Kim Châu, Quang học lâm sàng và khúc xạ Mắt. NXB TP. HCM 1997.
5. Morgan I, Rose K, How genetic is school myopia, Prog Retin Eye Res 2005 Jan; 24(1):1-38.
6. Ngô Thị Thuý Phượng, Khảo sát tật khúc xạ học sinh đầu cấp các trường phổ thông quận Tân Bình. Luận văn thạc sỹ y học TP.
HCM 2003.
7. Nguyễn Thanh Sơn và CS, Khảo sát tật khúc xạ trong học sinh phổ thông cơ sở và một số yếu tố dịch tễ của cận thị học đường ở TP.
Huế niên khóa 1988 – 1999. Nội san nhãn khoa 2002, 6, tr 109 – 115.
8. Nguyễn Xuân Hiêp, Tật khúc xạ: một nguyên nhân chính gây giảm thị lực tại Việt nam và các nước trong khu vực. Nội san nhãn
khoa 2000; 3, tr 94 – 96.
9. Nguyễn Xuân Trường, Kính đeo mắt và tật khúc xạ, NXB TP. HCM 1988.

26

10. Quek TP, Chua CG, Chong CS, Chong JH, Hey HW, Lee J, Lim YF, Sa SM, Prevalence of refractive errors in teenage high school
students in Singapore, Ophthalmic Physiol Opt. 2004 Jan;24(1):47-55.
11. Seang-Mei Saw, Ming-Zhi Zhang, Zhi-Fu Fu, Mei-Hua Pang, Donald T.H.Tan, Near-Work Activity, Night-lights and Myopia in
the Singapore –China study, Arch Ophthalmol Vol 120, May 2002, P.620-627.
12. Trần Hải Yến, Khảo sát tật khúc xạ học sinh đầu cấp tại TP. HCM, kỷ yếu Hội nghị Phòng chống mù lòa và KHKT ngành Nhãn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status