Làm thế nào để hướng dẫn học sinh giải một bài tốn có lời văn
A/.Thế nào là toán dơn , toán hợp ?
-Toán đơn : là loại bài toán mà khi giải ta chỉ dùng một phép tính.
-Toán hợp : là loại bài toán mà khi giải ta phải dùng từ hai phép tính trở
lên.
B/.Làm thế nào để hướng dẫn học sinh giải một bài toán có lời văn ?
Giải toán là một hoạt động trí truệ khó khăn, phức tạp, hình thành kỹ
năng giải toán khó hơn nhiều so với kỹ năng tính, vì các bài toán là sự kết hợp
đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Giải toán không chỉ là nhớ
mẫu rồi áp dụng, mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc
ý nghóa của phép tính, đòi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, đòi hỏi
làm tính thông thạo.
Để giúp học sinh thực hiện được hoạt động trên có kết quả, cần làm cho
các em nắm được một số bước của quy tắc chung, hướng dẫn các em có thói
quen khi giải toán như sau :
1/.Một bài toán có lời văn có các phần cơ bản nào ?
Ở tiểu học các bài toán gồm có :
-Đối với toán đơn : có hai phần cơ bản là : những dữ kiện và ẩn số
-Đối với toán hợp : có ba phần cơ bản là : những dữ kiện, ấn số và các
điều kiện.
Giáo viên dạy cũng cần tìm hiểu thêm cách giải bài toán hợp và cách để
tóm tắt bài toán (bằng lời, bằng sơ đồ đoạn thẳng, hình ảnh, . . . .nhằm nâng cao
hiểu biết về phương pháp dạy học toán, như sau :
Ba thành phần cơ bản của một bài toán
-Các dữ kiện
-Các ẩn số
-Các điều kiện
Từ ba phần cơ bản trên , ta thấy :
-Những dữ kiện là những cái đã cho, đã biết trong đầu bài.
-Những ẩn số là những cái chưa biết mà ta cần phải tìm.
-Những điều kiện là mối quan hệ ( toán học ) đã cho giữa các dữ kiện và
36 : 3 = 12 ( cây quýt ) ( I )
Số cây cam và quýt là :
12 + 36 = 48 ( cây ) ( II )
Đáp số : 48 cây cam và quýt.
-Các thành phần ( 36 và 3 ) trong phép tính giải ( I ) chính là dữ kiện của
bài toán. Do đó các dữ kiện của bài toán chi phối các thành phần của phép tính
( I ).
-Dấu chia ( : ) trong phép tính ( I ) biểu thò mối quan hệ gấp, kém nhau
một số lần trong đầu bài. Do đó các điều kiện của bài toán chi phối việc chọn
các (dấu) phép tính ( I ).
-Kết quả ( 12 cây ) của phép tính giải ( I ) vừa là cái phải tìm trung gian
trong bước giải ( I ) lại vừa là dữ kiện ( mới bổ sung ) của bước giải ( II ).
-Số 36 trong phép tính giải ( II ) là một dữ kiện của bài toán.
-Dấu “ + “ trong phép tính giải ( II ) tương ứng với quan hệ hơn kém nhau
một số đơn vò trong đầu bài.
-Kết quả của phép tính giải II ( tức là phép tính giải cuối cùng là phép
cộng ) là cái phải tìm cuối cùng ( hay ẩn số của bài toán ).
Do đó ta có thể nêu lên một cách tóm tắt là :
-Các dữ kiện của bài toán ( kể cả dữ kiện mới được bổ sung sau mỗi
phép tính giải ) của bài toán chi phối việc chọn dấu phép tính giải.
-Các điều kiện của bài toán chi phối việc chọn dấu phép tính giải.
-Những cái phải tìm chính là kết quả các phép tính giải ( tức là bao gồm
những cái phải tìm trung gian và cái phải tìm cuối cùng “ ẩn số “ ).
Như vậy việc thấu hiểu ba thành phần của bài toán sẽ giúp ta lựa chọn
các phép tính giải được thuận lợi hơn.
2/.Tìm hiểu kỹ đề toán
-Đầu tiên hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề toán, suy nghó về các điều đã cho
của đề toán, đặc biệt chú ý đến câu hỏi của bài toán. Chớ vội tính toán khi chưa
đọc kỹ đề.
-Ở bước này, giáo viên nên nêu hai câu hỏi để dẫn dắt học sinh :
250 kg
Tổ 1
235 kg ? kg giấy vụn
Tổ 2
+Đoạn thẳng thứ nhất chỉ số kg giấy vụn của tổ 1 nhặt : 250 kg
+Đoạn thẳng thứ nhất chỉ số kg giấy vụn của tổ 2 nhặt : 235 kg
+Để mô tả câu hỏi của bài toán, ta vẽ dấu ngoặc móc ôm lấy cả hai đoạn
thẳng “ Tổ 1 “ và “ Tổ 2 “ kèm theo dấu “ ? “ ngụ ý phải tìm xem cả hai tổ nhặt
được bao nhiêu kg giấy vụn ?
-Bước 3 . Lập kế hoạch giải toán :
Ta cho học sinh phân tích bài toán để tìm cách giải. Có thể làm theo 4
trình tự như sau :
1).Bài toán hỏi gì ? ( Số kg giấy vụn của hai tổ ).
2).Muốn biết kg giấy vụn của hai tổ nhặt được, ta làm thế nào ?
(lấy số kg giấy vụn của tổ 1 cộng với số kg giấy vụ của tổ 2)
3).Số kg giấy vụn của tổ 1 biết chưa ? ( biết rồi : 250kg giấy vụn )
4).Số kg giấy vụn của tổ 2 biết chưa ? ( biết rồi : 235kg giấy vụn )
Từ đó ta có thể diễn tả quá trình này bằng một sơ đồ, ví dụ :
Hai tổ
Tổ 1 + Tổ 2
-Bước 4 : Thực hiện các bước tính để viết lời giải :
Giải :
Số kg giấy vụn của hai tổ nhặt là :
250 + 235 = 485 (kg)
Đáp số : 485 kg giấy vụn
Khi làm xong mỗi phép tính ta có thể thử lại để xem đã chắc đúng chưa ?
Ví dụ :
Ta thử lại :
250 = 2 trăm + 5 chục + 0 đơn vò
235 = 2 trăm + 3 chục + 5 đơn vò