BÔ
̣
GIA
́
O DU
̣
C VA
̀
ĐA
̀
O TA
̣
O
TRƯỜNG....................................
KHOA ......................................
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : ....................................
Sinh viên thực hiện : ....................................
Lớp : ....................................
Hà nội 2009
1
Phần 1
GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI GIA
ĐÌNH
I. KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH
1. Một số quan niệm chung về gia đình hiện nay
Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành từ khá sớm trong lịch
làm tấm gương cho con cái noi theo. Ngược lại, con cái phải luôn hiếu kính
với ông bà, cha mẹ, biết phụng dưỡng chăm sóc ông bà, cha mẹ, biết làm
cho ông bà, cha mẹ được rạng rỡ và không làm việc gì khiến cho ông bà, cha
mẹ phải tủi hổ với hàng xóm láng giềng. Một gia đình hoà thuận còn là một
gia đình mà anh em biết bảo ban nhau cùng tiến bộ, biết thương yêu đùm
bọc lẫn nhau, biết em ngã thì chị nâng.
Theo tác giả Levy Strauss: gia đình là một nhóm xã hội học được quy
định bởi 3 đặc điểm thường thấy:
+ Hôn nhân
+ Quan hệ hôn nhân
+ Các ràng buộc và trách nhiệm giữa các thành viên trong gia dinh.
Liên Hợp Quốc định nghĩa: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ
hàng cùng sống chung và có ngân sách chung.
2. Quan điểm của Chủ nghĩa Mac – Lê Nin về gia đình trong xã hội
Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biết, được hình thành,
duy trì và củng cố chủ yếu trên cơ sở hôn nhân và huyết thống. Đúng như
C.Mac đã từng nói: “ … Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình,
con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nãy nở – đó là quan hệ
giữa chồng, và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”.
Cho nên yếu tố huyết thống và tình cảm là nét bản chất của gia đình.
Nhưng xét rộng ra và đầy đủ hơn, gia đình không chỉ là một đơn vị tình cảm
– tâm lý, mà còn là một tổ chức kinh tế – tiêu dùng ( sở hữu, sản xuất, thu
nhập và chi tiêu…), một môi trường giáo dục – văn hóa ( văn hóa gia đình
và cộng đồng), một cơ cấu – thiết chế xã hội ( có cơ chế và cách thức vận
động riêng)…
Tóm lại: Gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong
đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa – xã hội đặc thù,
được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan
hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục… giữa các thành viên.
II. VỊ TRÍ CỦA GIA ĐÌNH
đồng nguyên thủy có gia đình cùng dòng máu ( huyết thống ), các tập đoàn
hôn nhân đều phân theo thế hệ. Đến giai đoạn giữa của xã hội cộng đồng
nguyên thuỷ xuất hiện gia đình punaluna ( bạn thân), trong đó quan hệ tỉnh
giao giữa anh ẹm trai với chị em gái đã bị hủy bỏ. và giai đoạn cuối cùng
4
của xã hội này đã hình thành gia đình cặp đôi ( đối ngẫu), trong đó kết hôn
từng cặp đã tồn tại ( tuy còn lõng lẻo); trong số vợ rất đông của mình, người
đàn ông có một người vợ chính, và trong số nhiều người chồng khác, anh ta
lại là người chồng chính của người đàn bà ấy. Những kiểu trên cúa gia đình
tập thể – quần hôn đều có đặc trưng là: tính giao tập thể, kinh tế cộng đồng
nguyên thủy, chế độ mẫu hệ, không có áp lực và bất bình đẳng giữa các
thành viên.
Bước sang chế độ nô lệ, trong xã hội nãy sinh hình thức gia đình cá
thể – một vợ một chồng. Đó là kết quả trực tiếp của việc hình thành chế độ
sở hữu tư nhân và sự phân hóa giai cấp. Gia đình cá thể là “ hình thức gia
đình đầu tiên không dựa trên những điều kiện tự nhiên, mà dựa trên những
điều kiện kinh tế – tức là trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đố với sở hữu
công cộng nguyên thủy và tự phát ( tất nhiên, kết quả vẫn do tác động của
quy luật đào thải tự nhiên, ngoài ra còn có thêm một nguyên nhân nữa là
nguyên nhân tình cảm, thể hiện ở người đàn ông nhất định).
Như vậy gia đình là sản phẩm của lịch sử. Nhưng với tư cách là tế bào của
xã hội, gia đình tác động tích cực đến tiến trình phát triển của xã hội. Ph.
Ăngghen nhận định: “ Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch
sử, quy đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng bản
thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt;
thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những
thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi
giống.”
Trong hệ thống cơ cấu xã hội có nhiều bộ phận khác nhau ( dân tộc, giai cấp,
giới…); nhiều thiết chế lớn nhỏ ( Nhà nước, ngành, đoàn thể…) với tính là
khung cảnh tôn vinh và làm mới những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc,
tiếp nhận một cách chủ động những giá trị văn hóa của gia đình hiện đại.
a. Những mặt tốt
Vào những năm đầu đổi mới, “mở cửa”, với sự tác động mạnh mẽ của
cơ chế thị trường và sự du nhập ồ ạt lối sống, phương thức sinh hoạt của xã
hội phương Tây vào nước ta, trên các phương tiện thông tin đại chúng và
diễn đàn khoa học, không ít người đã lên tiếng báo động về nguy cơ “khủng
hoảng” của gia đình Việt Nam. Sự lo ngại ở thời điểm ấy không phải không
6
có cơ sở. Tuy nhiên, cho đến nay, sau 20 năm đổi mới, gia đình Việt Nam
không những không bị khủng hoảng mà ngày càng được củng cố và phát
triển. Đó là một thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới do Đảng ta
lãnh đạo.
Vào thời điểm hiện nay, con người Việt Nam vẫn coi hôn nhân là sự kiện
trọng đại, thiêng liêng và gia đình là phương thức sinh sống quan trọng nhất
của hầu như tất cả mọi người. Gia đình là một thiết chế xã hội. Nó là sản
phẩm của lịch sử. Vì thế, gia đình bị quy định bởi điều kiện kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội và tôn giáo… của một xã hội nhất định. Qua gia đình,
chân dung của xã hội hiện ra một cách sinh động và toàn diện cả về kinh tế,
chính trị, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, lối sống, phong tục, tập
quán và tín ngưỡng… Gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt được hình thành
một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, mọi thành viên
cùng chung sống và có chung ngân sách.
Mặc dù chịu tác động nhiều chiều của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa,
nhưng hiện tại, gia đình Việt Nam vẫn là một giá trị bền vững và có sức
sống mạnh mẽ. Nó vẫn là nền tảng, là tế bào của xã hội. Với tư cách là đơn
vị kinh tế, đơn vị tiêu dùng của xã hội, một mặt, gia đình trực tiếp tham gia
thúc đẩy sự phát triển của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông của
đời sống kinh tế; mặt khác, là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, nương
tựa của mỗi con người trong suốt cuộc đời. Gia đình cũng là nơi lưu giữ,
Bình đẳng giới trong gia đình là một nét mới trong biến đổi của gia đình
Việt Nam và đã thu hút sự quan tâm, đồng tình thực hiện của cả xã hội. Đó
là người phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất, tái sản xuất,
tiếp cận các nguồn lực phát triển, các quyết định, các sinh hoạt cộng đồng và
thụ hưởng các lợi ích, phúc lợi gia đình; đồng thời, các thành viên gia đình
và các dịch vụ xã hội cũng từng bước chia sẻ gánh nặng công việc nội trợ
gia đình đối với người phụ nữ, góp phần thiết thực tạo điều kiện và cơ hội
giúp phụ nữ phát huy mọi tiềm năng của mình trong hội nhập và phát triển.
Trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa hiện nay, gia đình Việt Nam đã biến
đổi một cách toàn diện và ngày càng trở thành một thực thể hoàn thiện -
năng động phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội có nhiều biến động.
Sự biến đổi ấy chính là một quá trình liên tục bảo tồn, truyền thụ, phát huy
những giá trị của gia đình truyền thống; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc và
cải biến những giá trị tiên tiến, những tinh hóa của gia đình hiện đại. Có thể
nói, gia đình Việt Nam hiện nay chính là sản phẩm của sự hiện đại hóa các
giá trị cao quý của gia đình Việt Nam truyền thống và truyền thống hóa
những giá trị, tinh hoa gia đình của các xã hội hiện đại.
Những giá trị truyền thống quý báu của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn
được bảo tồn và phát huy như: tình yêu lứa đôi trong sáng; lòng chung thủy,
tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô tận của cha mẹ với con
cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ; con cháu kính trọng, biết ơn và quan tâm
tới ông bà, tổ tiên; tình yêu thương, chăm lo và đùm bọc anh em, họ hàng;
8
đề cao lợi ích chung của gia đình; tự hào truyền thống gia đình, dòng họ.
Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng tiếp thu nhiều tinh hoa, giá trị tiên tiến
của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự do cá nhân; tôn trọng quan niệm và
sự lựa chọn của mỗi người; tôn trọng lợi ích cá nhân; dân chủ trong mọi
quan hệ; bình đẳng nam nữ; bình đẳng trong nghĩa vụ và trách nhiệm; bình
đẳng trong thừa kế; không phân biệt đối xử đẳng cấp, thứ bậc giữa con trai
và con gái, giữa anh và em... Đó chính là cùng với những đặc trưng của gia
tuổi.
Năm 2008, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê,
Viện Gia đình và Giới, Quỹ nhi đồng LHQ cùng đứng tên công bố một bản
báo cáo kết quả điều tra Gia đình Việt Nam cho thấy những mặt còn tồn tại
của gia đình ở Việt nam:
Cha mẹ không có đủ thời gian cho con
Kết quả điều tra cho thấy, có tới 80% trẻ em trong độ tuổi 15-17 khi
được hỏi đã nói rằng cha mẹ cho phép chúng tự đưa ra quyết định về mọi
vấn đề liên quan tới cuộc sống của mình. Vì nhiều lý do, trong đó có việc
bận kiếm sống, 1/5 số ông bố và 7% số bà mẹ hoàn toàn không dành thời
gian cho việc chăm sóc, dạy dỗ con cái. Theo đánh giá của giới nghiên cứu,
sự thờ ơ của người lớn gây hậu quả xấu đối với sự phát triển về thể chất, trí
tuệ, tinh thần của trẻ em và không phải bao giờ, không phải ai cũng nhận
thấy ngay được hậu quả ấy.
Các cuộc điều tra dẫn đến sự nhìn nhận về vai trò của người phụ nữ đối với
vấn đề chăm sóc những đứa con dưới 15 tuổi: họ dành khoảng thời gian cho
con nhiều gấp 6 lần so với các ông bố. Nỗi lo thường xuyên của các ông bố,
bà mẹ hiện nay là việc trẻ hỗn láo, bỏ học, cờ bạc, sử dụng ma túy và đi chơi
qua đêm nhưng có đến 8,8% trong số họ làm ngơ trước lỗi lầm của con mình
và 0,5% cảm thấy hoàn toàn bất lực.
Tỷ lệ ly hôn và mâu thuẫn gia đình
Bản thông tin tóm lược về kết quả điều tra viết: “Hầu hết những người
trả lời phỏng vấn đã kết hôn và có con nhưng hiện tượng ly hôn đang tăng
lên. Tỷ lệ ly hôn theo kết quả điều tra là 2,6% số người trong độ tuổi 18-60,
và số phụ nữ đứng đơn ly hôn cao gấp 2 lần so với nam giới. Hầu hết trẻ em,
sau khi cha mẹ ly hôn, thường sống với mẹ”.
Mặc dù trong số đã ly hôn, 27,7% cho biết lý do dẫn đến ly hôn là “mâu
thuẫn về lối sống” và 25,9% đổ cho việc ngoại tình nhưng người ta nói rằng
nguyên nhân của việc ly hôn có nhiều hơn thế. Mối quan hệ vợ chồng ở Việt