TỔ CHỨC THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Tư VẤN CHO CÁC TÌNH HUỐNG QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP - Pdf 30

1
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TỔ CHỨC THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Tư VẤN
CHO CÁC TÌNH HUỐNG QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
TS. ĐOÀN XUÂN TIÊN
THư KÝ KHOA HỌC:
TS.TRươNG THỊ THỦY
HÀ NỘI, THÁNG 8/2002
2
1. TS. Đoàn Xuân Tiên
2. TS. Trương Thị Thuỷ
3. Ths. Nguyễn Vũ Việt
4. Ths. Nguyễn Thị Hoà
5. TS.Trần Văn Dung
6. Ths.Dương Nhạc
7. Ths.Trần Thị Biết
8. Ths. Bùi Thị Thúy
9. TS Nguyễn Trọng Cơ
10.NCS.Lưu Đức Tuyên
ban đề tài
Trưởng Ban Quản lý Đào tạo
Trưởng BM KTDN
P. Trưởng BM
KTDN P. Trưởng
BM KTDN P.
Trưởng BM KTDN
GV Bộ môn KTDN

là kết quả, hệ quả cho các nhà quản trị kế thừa.
Các nhà quản trị doanh nghiệp thường phải đứng trước những lựa chọn
có tính chất trái ngược nhau. Mỗi phương án được xem xét là một tính huống
khác nhau với các thông tin về thu nhập, về chi phí. Về kết quả rất khác nhau.
Vì vậy khi lựa chọn quyết định kinh doanh, nhà quản trị phải xem xét đến
nhiều mục tiêu khác nhau như : cần đạt được sự cực đại về lợi nhuận, cực đại
về doanh số, giảm thiểu chi phí, tăng chất lượng phục vụ, sự tồn tại, ổn định
của doanh nghiệp
Tuy nhiên, xét về phương diện kinh tế, một phương án kinh doanh được
chọn phải tạo ra sự gia tăng lợi nhuận, hay tăng thu nhập, giảm thiểu chi phí.
Quyết định kinh doanh thường ảnh hưởng đến nhu cầu tài chính khác
nhau, ảnh hưởng đến các chu kỳ kinh doanh khác nhau. Nếu căn cứ vào thời
gian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi quyết định kinh doanh, chúng ta
có thể chia quyết định kinh doanh thành hai loại.
Quyết định kinh doanh ngắn hạn: là những quyết định kinh doanh mà
thời gian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi thường chỉ liên quan đến
một thời kỳ (kỳ kế toán) hoặc dưới một năm. Xét về mặt vốn đầu tư thì quyết
định kinh doanh ngắn hạn là các quyết định không đòi hỏi vốn đầu tư lớn.
Quyết định kinh doanh dài hạn : là những quyết định kinh doanh mà
thời hạn hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi dài vượt quá giới hạn một
kỳ kế toán hoặc một năm; Vốn đầu tư đòi hỏi một khối lượng lớn.
Việc sắp xếp các quyết định kinh doanh nào là quyết định kinh doanh
ngắn hạn, quyết định kinh doanh nào là quyết định kinh doanh dài hạn chỉ
mang tính chất tương đối. Bởi lẽ, để đo lường thời gian ảnh hưởng, thời gian
hiệu lực và thực thi của các quyết định kinh doanh là rất khó khăn và phức tạp
về đo lường thời gian, chúng ta thường xem xét đến điều kiện về nguồn vốn
tài trợ cho các quyết định kinh doanh. Một quyết định kinh doanh ngắn hạn
thường gắn liền với nguồn tài chính (vốn) tài trợ ngắn hạn, hoặc chúng ta có
thể sử dụng nguồn vốn hiện thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh để trang
trải cho quyết định này.

- Mở rộng và tăng thêm các cửa hàng giới thiệu, bán sản phẩm
Mô hình tổng quát lựa chọn phương án kinh doanh trong trường hợp
thay đổi định phí và doanh thu như sau :
- Xác định tỷ lệ tăng doanh thu hoặc sản lượng tiêu thụ do tăng định phí
Mức gia tăng lãi
trên
Doanh thu
phương
Tỷ lệ tăng Tỷ suất lãi trên
biến phí do tăng
sản
(X1) = án cũ
x doanh thu x
biến phí của
lượng tiêu thụ
phương án cũ
- Mức tăng định phí phương án mới là X0
- So sánh :
+ Nếu (X1- X0) > 0 : Nên tiến hành phương án mới, vì phương án mới
làm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Nếu (X1 - X0) ≤ 0 : Không nên tiến hành phương án mới, vì phương
án mới lợi nhuận không gia tăng mà giảm một khoản (X1 - X0).
b) Quyết định thay đổi biến phí và doanh thu.
Quyết định này được đưa ra để lựa chọn phương án kinh doanh khi thay
đổi biến phí làm thay đổi doanh thu, trong khi các yếu tố khác không có điều
kiện thay đổi.
Phương án kinh doanh này có thể thực hiện bằng một trong các trường
hợp sau :
- Tăng biến phí bằng cách tăng biến phí trực tiếp hoặc sử dụng nguyên
vật liệu thay thế với chất lượng cao hơn, làm tăng chất lượng sản phẩm, từ đó

- Lãi trên biến phí phương án cũ là X0
- So sánh :
+ Nếu (X1 - X0) > 0 : nên tiến hành vì phương án mới sẽ gia tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
+ Nếu (X1 - X0) ≤ 0 : không nên tiến hành vì phương án mới lợi nhuận
không gia tăng mà giảm một khoản là : (X1 - X0).
c- Quyết định thay đổi định phí , giá bán và doanh thu
Trong trường hợp cạnh tranh gay gắt, thị trường tiêu thụ sản phẩm có
khả năng bị thu hẹp; doanh nghiệp không có điều kiện để tăng biến phí, tăng
chất lượng sản phẩm. Để thu hút khách hàng các nhà quản trị doanh nghiệp có
thể lựa chọn phương án kết hợp tăng định phí băng cách tăng cường quảng
cáo, tiếp thị, đồng thời thực hiện giảm giá bán để tăng sản lượng tiêu thụ.
Mô hình tổng quát lựa chọn phương án kinh doanh khi thay đổi định
phí, sản lượng tiêu thụ, giá bán và các nhân tố khác không đổi như sau :
- Xác định tỷ lệ tăng sản lượng tiêu thụ do tăng định phí và giảm giá bán
Lãi trên biến phí
phương án mới (X1)
=
Sản lượng tiêu
thụ theo phương x
án cũ
Tỷ lệ tăng sản
lượng x
Lãi trên biến phí
đơn vị theo
phương án mới
- Lãi trên biến phí phương án cũ là X0
- Mức tăng định phí phương án mới là Đ.
- So sánh
+ Nếu (X1 - X0) - Đ) > 0 : nên tiến hành vì phương án mới gia tăng lợi

(X1)
=
Sản lượng
tiêu thụ theo
phương
án cũ x
Tỷ lệ
tăng sản
100% + lượng
tiêu thụ
Lãi trên
biến phí
đơn vị
x phương án
mới
- Lãi trên biến phí phương án cũ : X0
- Mức tăng (giảm) định phí Đ.
- So sánh
+ Nếu (X1 - X0) - Đ > 0 : Nên tiến hành phương án mới vì phương án
mới gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Nếu (X1 - X0) - Đ ≤ 0 : không tiến hành vì phương án mức không
gia tăng lợi nhuận mà giảm một khoản ( X1 - X2 - Đ).
1.1.3.2- Quyết định điều chỉnh kết cấu mặt hàng hoặc điều chỉnh cơ
cấu tổ chức kinh doanh để tối đa hoá lợi nhuận.
a- Quyết định loại bỏ hay kinh doanh một bộ phận hay một mặt hàng.
Quyết định về vấn đề có nên loại bỏ một dây chuyển sản xuất, một bộ
phận kinh doanh hay một mặt hàng là một trong những vấn đề phức tạp đối
với nhà quản trị. Quyết định này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau.
Tuy nhiên xét về phương diện kinh tế, công việc chọn lựa cuối cùng của nhà
quản trị là sự tồn tại hay huỷ bỏ một dây chuyền sản xuất, một bộ phận kinh

- Trường hợp 1 : Doanh nghiệp đã hoạt động hết công suất không có
mặt hàng khác thay thế.
- Trường hợp 2 : Doanh nghiệp đã hoạt động hết cống suất và có mặt
hàng thay thế.
- Trường hợp 3 : Doanh nghiệp chưa hoạt động hết công suất và không
có phương án kinh doanh thay thế.
- Trường hợp 4 : Doanh nghiệp chưa hoạt động hết công suất cơ sở
phương án kinh doạnh thay thế.
- Trường hợp 5 : Xem xét chi phí cơ hội khi lựa chọn phương án tự sản
xuất hay mua ngoài.
c- Quyết định nhận hay từ chối đơn đặt hàng mới.
Quyết định kinh doanh này được đưa ra để lựa chọn phương án kinh
doanh khi có đơn đặt hàng mới (hoặc đơn đặt hàng đặc biệt) với gía bán
thấp hơn giá bán thông thường, trong điều kiện doanh nghiệp chưa sử dụng
hết năng lực sản xuất sẵn có.
Trên phương diện kinh tế, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải xem
xét phương án nếu chấp nhận đơn đặt hàng mới thì sẽ ảnh hưởng như thế nào
đến lợi nhuận của doanh nghiệp để quyết định. Tuy nhiên cũng cần phải xem
xét đến các yếu tố định tính xung quanh hợp đồng này như khu vực thị trường,
phản ứng của các khách hàng khác.
d- Quyết định mở thêm mặt hàng kinh doanh.
Quyết định về vấn đề có nên mở thêm mặt hàng kinh doanh mới hay
không là một trong những vấn đề phức tạp dối với nhà quản trị. Quyết định
này chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác nhau, song tất nhiên được xem
xét trong điều kiện doanh nghiệp chưa sử dụng hết năng lực sản xuất sẵn có.
Xét về phương diện kinh tế, công việc chọn lựa cuối cùng của nhà quản trị là
việc mở thêm mặt hàng kinh doanh mới, ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận
của doanh nghiệp. Vì vậy tiêu chuẩn kinh tế để chọn lựa quyết định mở thêm
mặt hàng kinh doanh hay không là mức đóng góp lợi nhuận của phương án
đến mục tiêu chung của doanh nghiệp.

- Quyết định nên thay máy cũ ngay không?
Những quyết định liên quan đến thay đổi tài sản thường đòi hỏi một
lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm kéo dài nhiều năm vì vậy liên
quan đến quyết định thay đổi tài sản thường là quyết định dài hạn. Tuy nhiên
việc sắp xếp các quyết định kinh doanh nào là quyết định kinh doanh ngắn
hạn, quyết định kinh doanh nào là quyết định kinh doanh dài hạn chỉ mang
tính chất tương đối. Do đó trong một vài tình huống cụ thể về thay đổi tài sản
ví dụ: Quyết định có nên bán máy móc cũ để mua máy mới ngay hay không?
có thể coi là quyết định ngắn hạn vì khi xem xét để đưa ra quyết định trong
tình huống này một trong những vấn đề phải xem xét là chi phí hoạt động của
các phương án lựa chọn mà chi phí hoạt động phát sinh hàng năm khác nhau
giữa các phương án khác nhau. Mặt khác nếu xem xét về nguồn tài trợ thì
quyếtđịnh bán máy cũ để mua máy mới có thể sử dụng nguồn tài chính hiện
thời để trang trải vì trong đó có 1 phần nguồn tài chính là khoản thu do bán
máy cũ. Để đi đến quyết định có thay đổi tài sản hay không nói chung và
quyết định đổi mới tài sản trong tình huống cụ thể này, phương án được chọn
là phương án phải đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Mục tiêu của một
doanh nghiệp thường hướng tới một số vấn đề: cực đại về lợi nhuận ,cực tiểu
về chi phí, cực đại về chất lượng, cực đại về doanh thu, duy trì sự tồn tại của
doanh nghiệp.
Tình huống này xảy ra trong thực tế các doanh nghiệp, có thể có một số
máy móc thiết bị đang sử dụng nhưng hiệu quả không cao. Nhà quản trị doanh
nghiệp đang đứng trước sự lựa chọn là nên bán máy móc thiết bị đang sử dụng
để mua máy móc thiết bị mới hay không? Vì khi bán máy móc thiết bị đang
sử dụng thường doanh nghiệpbao giờ cũng bị lỗ trước mắt. Mặt khác tâm lý
của nhà QTDN là đã đầu tư thì phải cố gắng thu hồi đủ vốn tức là sẽ sử dụng
đến khi hư hỏng phải thanh lý. Nên không dễ gì nhà QTDN sẵn sàng chấp
nhận ngay bán máy cũ để mua máy mới mặc dù sử dụng máy mới hiêụ quả
hơn. Do đó trong tình huống này KTQT phải thu thập phân tích và cung cấp
các thông tin giúp cho nhà QTDN xem xét và nhận thấy cần phải lựa chọn

định điều chỉnh chi phí, giá cả, khối lượng tiêu thụ để tối đa hoá lợi nhuận.
Thì doanh nghiệp còn phải đưa ra các quyết định về xác định cơ cấu sản xuất
các loại sản phẩm như thế nào? Trong điều kiện năng lực sản xuất kinh doanh
bị giới hạn. Năng lực sản xuất kinh doanh có thể bị giới hạn bởi các nhân tố
bên trong doanh nghiệp: giờ máy chạy, giờ công lao động, VLĐ
Hoặc năng lực sản xuất kinh doanh bị giới hạn bởi các nhân tố bên
ngoài doanh nghiệp: số lượng sản phẩm tiêu thụ, nguồn cung cấp vật tư khan
hiếm, các chính sách của Nhà nước
Tuỳ theo từng doanh nghiệp, tuỳ theo từng thời kỳ mà doanh nghiệp có
thể chỉ bị giới hạn bởi một nhân tố hoặc có thể đồng thời bị giới hạn bởi nhiều
nhân tố. Mà mục tiêu doanh nghiệp theo đuổi cuối cùng vẫn là tối đa hoá tổng
lợi nhuận.
Để đưa ra được quyết định trong trường hợp này cần phân tích theo từng
trường hợp như sau:
* Trường hợp chỉ có một hoặc hai nhân tố giới hạn: Để đưa ra được
quyết định chọn cơ cấu sản xuất sản phẩm như thế nào để đạt được mục tiêu
thì cần phải phân tích các thông tin qua các bước.
B ư ớc 1: xác định nhân tố giới hạn chủ yếu.
B ư ớc 2: Tính lãi trên biến phí của một đơn vị nhân tố giới hạn chủ yếu.
B ư ớc 3: Sắp xếp thứ tự khả năng sinh lời của từng loại sản phẩm hàng
hoá ⇒ xác định thứ tự ưu tiên trên cơ sở khả năng sinh lời của từng loại sản
phẩm tính trên một đơn vị nhân tố chủ yếu có giới hạn).
B ư ớc 4: Xác định số đơn vị nhân tố chủ yếu có giới hạn cung ứng cho
từng loại sản phẩm.
B ư ớc 5: xác định khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ của từng
loại sản phẩm, hàng hoá.
* Trong trường hợp có nhiều nhân tố bị giới hạn cùng một lúc:
Có thể các nhân tố này là: số giờ máy chạy hạn chế, số giờ công lao
động hạn chế hoặc vật tư khan hiếm, mức sản lượng tiêu thụ hạn chế. Nhà
QTDN cần phải đưa ra quyết định nên sản xuất theo một cơ cấu như thế nào?

những điểm toạ độ giới hạn vùng sản xuất tối ưu đó chọn ra điểm tọa độ mà
tại đó hàm mục tiêu f(x) đạt kết quả lớn nhất.
+ Thu thập thông tin:
Để đưa ra được quyết định trong điều kiện năng lực sản xuất kinh
doanh bị giới hạn thì các thông tin được sử dụng là thông tin về chi phí được
phân loại theo biến phí, định phí để xác định lãi trên biến phí, thông tin về
định mức lao động, định mức vật tư, định mức giờ máy, nhu cầu về thị trường,
khả năng về vốn lưu động
* Ngoài ra doanh nghiệp cần phải đ ư a ra quyết định thúc đẩy :
Thực tế trong điều kiện DNSXKD nhiều mặt hàng khác nhau, ngoài
những hoạt động và kết quả về sản xuất và tiêu thụ theo kết cấu khối lượng
các mặt hàng bình thường mà doanh nghiệp đang thực hiện thì doanh nghiệp
còn có những nhân tố dư thừa có giới hạn: những nhân tố đó có thể là nhân tố
phát sinh trong doanh nghiệp hoặc phát sinh ngoài doanh nghiệp như đã nêu ở
trên. Trong trường hợp này doanh nghiệp phải đưa ra quyết định là sẽ thúc đẩy
vào sản xuất thêm sản phẩm nào để có lợi nhuận tăng thêm đạt được là cao
nhất. để đưa ra được quyết định thúc đẩy sản xuất thêm theo cơ cấu sản phẩm
như thế nào thì trình tự thu thập phân tích xử lý thông tin cũng tương tự như
trên, được chia làm hai trường hợp.
Trường hợp 1: Nếu chỉ có dư thừa từ 1 hoặc 2 nhân tố giới hạn.
Trường hợp 2: Có dư thừa nhiều nhân tố có giới hạn.
Các bước của quá trình xử lý thông tin hoàn toàn giống trường hợp trên.
Vì cuối cùng vẫn là xác định cơ cấu sản xuất sản phẩm. Nhưng chỉ khác là
trong trường hợp này quyết định thúc đẩy là xác định cơ cấu để sản xuất thêm
khi có các yêú tố dư thừa có giới hạn. Còn ở trường hợp trên là xác định cơ
cấu sản xuất sản phẩm ngay từ khi bắt đầu kế hoạch sản xuất trong điều kiện
các nhân tố có giới hạn.
1.1.3.5. Các quyết định khác phổ biến trong doanh nghiệp:
* Quyết định về giá bán.
Giá bán sản phẩm hàng hoá là nhân tố có ảnh hưởng lớn trực tiếp đến

nghiệp có thể đặt ra mức lợi nhuận mục tiêu và phải xác định gía bán để đạt
được lợi nhuận mục tiêu đó. Các tình huống này có thể là:
- doanh nghiệp đang có nhiều lợi thế trong chiếm lĩnh thị trường tiêu
thụ.
- Doanh nghiệp có những đơn đặt hàng phụ trội
- sản phẩm của doanh nghiệp là mới trên thị trường.
Để xác định giá bán sản phẩm trong trường hợp công thức xác định giá
vẫn tuân theo công thức xác định giá bán thông thường:
Giá bán = giá gốc + chi phí cộng thêm (3)
Để đạt được lợi nhuận mục tiêu đã dự kiến thì mô hình phân tích xử lý
thông tin được xác định như sau:
Giá bán (g) = bp +
DP
LN
SL
(4)
- Như vậy giá gốc là bp đơn vị
- CP cộng thêm phải đủ để bù đắp phần ĐP phân bổ cho một đơn vị
sản phẩm và đạt được mức lợi nhuận mong muốn cho 1 đơn vị sản phẩm.
Để xác định được giá bán sản phẩm hàng hoá trong trường hợp này
phải xác định được các thông tin.
- Biến phí đơn vị - Mức sản lượng dự kiến tiêu thụ
- Định phí - Mức LN mục tiêu
* Mục đích:
- Thông qua mô hình xác định giá bán ở công thức (4) giúp cho nhà
QTDN xác định được với sản lượng sản phẩm hàng hoá dự kiến tiêu thụ và với
mức chi phí thực tế đã xác định được thì doanh nghiệp cần phải bán với giá
nào để đạt được mức LN đã dự kiến. Từ đó có thể so sánh với giá trị thị trường
để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường cũng như để
điều chỉnh chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.

- Thông qua mô hình xác định giá bán để đạt được mục tiêu hoà vốn
theo công thức (5) giúp cho nhà quản trị doanh nghiệpxác định được với sản
lượng sản phẩm, hàng hoá dự kiến tiêu thụ và với chi phí thực tế đã xác định
thì doanh nghiệp cần phải bán với mức giá là bao nhiêu để đạt được mục tiêu
hoà vốn.
- Thông qua mô hình này để KTQT xác định các thông tin cần thu thập
để tính giá bán đạt mục tiêu hoà vốn.
* xác định giá bán với mục tiêu thu hồi chi phí trực tiếp.
Trong thực tế có những tình huống doanh nghiệp phải tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh để giải quyết những vật tư tồn đọng với mục đích
thu hồi lại vốn hoặc để khai thác hết công suất của máy móc thiết bị. Nên
trong trường hợp này doanh nghiệp xác định giá bán chỉ cần đủ để bù đắp chi
phí trực tiếp hoặc thậm chí có thể chỉ tính đến chi phí nguyên vật liệu để thu
hồi giá trị nguyên vật liệu mà không cần quan tâm đến các chi phí khác cũng
như lợi nhuận. Do đó giá bán được xác định theo công thức:
Giá bán = biến phí (chi phí trực tiếp) (6)
Như vậy giá bán được xác định chỉ phụ thuộc vào biến phí hoặc giá trị
nguyên vật liệu trực tiếp, nên giá bán nhỏ hơn chi phí thực tế, giá bán sẽ có
sức cạnh tranh cao, dễ dàng đạt được mục tiêu thu hồi lại vốn cho doanh
nghiệp.
- Với mô hình xác định giá như vậy giúp cho nhà QTDN dễ dàng xác
định được ngay giá bán để đạt được mục tiêu thu hồi vốn (chi phí trực tiếp) và
chỉ cần xác định được biến phí (CPNVL) là đã xác định được ngay giá bán.
* xác định giá bán với những đơn đặt hàng đặc biệt (phụ trội)
ở các doanh nghiệp ngoài các hợp đồng, các đơn đặt hàng với các
khách hàng thông thường thì có thể phát sinh các hợp đồng (đơn đặt hàng) đặc
biệt: thị trường tiêu thụ mới, khối lượng đơn đặt hàng nhiều, khách hàng nước
ngoài, hoặc gặp khó khăn trong chiếm lĩnh thị trường. Vấn đề đặt ra ở đây là
doanh nghiệp phải xác định giá bán sản phẩm hàng hoá như thế nào trong các
tình huống trên. Trong những trường hợp này giá bán được xác định rất linh

Kế hoạch
SXKD
Tổ chức
điều hành
Kiểm tra Ra quyết
định
Mục
tiêu
của
doanh
nghiệp
Thông tin
kế hoạch
Thông tin
thực tế
Sai sót và
nguyên nhân
Báo cáo
tóm tắt
Phân tích
chênh lệch
Đánh giá
trách nhiệm
Dự báo
dự đoán
Qua đó cho thấy trong quá trình thực hiện chức năng quản lý của doanh
nghiệp, Nhà quản lý cần rất nhiềuthông tin để có thể ra các quyếtđịnh đúng
đắn. Để phục vụ cho việc ra quyết định, thông tin kế toán quản trị đặt trọng
tâm trong tương lai, nhấn mạnh đến sự thích hợp và linh hoạt, cho nên thông
tin này thông thường không có sẵn. Trên cơ sở thông tin đã thu thập được, kế

- Những chi phí đi kèm với giải pháp được chọn sẽ như thế nào? (chi
phí biến đổi? chi phí cố định?)
- Có thể tác động tới chi phí bằng cách nào? (chi phí kiểm soát được,
chi phí không kiểm soát được).
Mỗi một tình huống cần quyết định khác nhau trong quá trình quản lý
của doanh nghiệp sẽ có những câu trả lời khác nhau cho các câu hỏi trên.
Thông tin phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn là rất phong phú, linh hoạt.
Mỗi tình huống trong quyết định ngắn hạn, cần thu thập được những thông tin
về dòng thu nhập, về chi phí được xem xét và lượng hoá cho các phương án
qua việc trả lời bốn câu hỏi ở trên. Thông qua những thông tin đã xác định cho
từng phương án đang xem xét và lựa chọn cho một tình huống quyết định
ngắn hạn mà kế toán quản trị cung cấp, nhà quản lý sẽ cân nhắc và lựa chọn
phương án tối ưu. Phương án được lựa chọn cho một quyết định ngắn hạn là
phương án có khả năng sinh lời nhiều nhất trong việc sử dụng năng lực sản
xuất hiện có, và tất nhiên phương án hành động đó cũng phải phù hợp với
chiến lược chung của doanh nghiệp.
1.2.2- Các loại thông tin kế toán quản trị và đặc điểm của chúng
1.2.2.1- Thông tin quá khứ và thông tin dự đoán tương lai
* Thông tin quá khứ :
Thông tin quá khứ là nguồn thông tin kế toán quản trị thu nhận được từ
những sự kiện kinh tế đã phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh
nghiệp. Thông tin này được thu nhận, xử lý và tổng hợp thông qua các phương
pháp theo từng khâu công việc của kế toán :
- Trước hết, các thông tin này thể hiện trên các chứng từ kế toán, qua hệ
thống hạch toán ban đầu kế toán quản trị thiết lập nên những mô hình, kết cấu
thông tin khác nhau theo yêu cầu của nhà quản lý.
- Vận dụng phương pháp tài khoản để xử lý thông tin : hiện nay có 2
quan điểm tổ chức hệ thống tài khoản phục vụ cho kế toán quản trị :
Quan điểm 1 : Trong trường hợp kế toán tài chính (kế toán pháp quy)
thuộc loại hình "kế toán tĩnh, tính thuế", các tài khoản chi phí giá thành được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status