ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH TINH DẦU TỪ VỎ
QUẢ QUẤT, QUÝT (CITRUS) ĐỂ XỬ LÝ RÁC THẢI XỐP
TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đàm Xuân Vận
Thái Nguyên - Năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa
Môi Trường trong thời gian thực tập tốt nghiệp em đã tiến hành đề tài
“Nghiên cứu chiết tách tinh dầu từ vỏ quả quất, quýt (Citrus) để xử lý rác
thải xốp tại Thành phố Thái Nguyên”
Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được sự
giúp đỡ rất lớn từ các quý thầy cô trong nhà trường.
Đầu tiên cho em gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà
trường, các quý thầy cô trong khoa cũng như các quý thầy cô bộ môn trong
trường đã giúp em có được những kiến thức bổ ích về chuyên ngành Khoa
Học Môi Trường , cũng như đã tạo điều kiện cho em được tiếp cận môi
trường thực tế trong thời gian qua.
Đặc biệt cho em gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo: PGS. TS
Đàm Xuân Vận - Khoa Môi trường. Trong thời gian viết luận văn, em đã nhận
được sự hướng dẫn tận tình của thầy, thầy đã giúp em bổ sung và hoàn thiện
những kiến thức lý thuyết còn thiếu cũng như việc áp dụng các kiến thức đó vào
thực tế trong thời gian thực tập để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè đã hết
lòng động viên, giúp đỡ tạo điều kiện cả về mặt vật chất và tinh thần cho em
trong quá trình học tập và nghiên cứu.
1.2.3.2. Ở Việt Nam 27
1.2.4. Đánh giá hiện trạng rác thải tại Thành phố Thái Nguyên 29
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 33
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 33
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 33
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 33
2.3. Nội dung nghiên cứu 33
2.4. Phương pháp nghiên cứu 34
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 34
2.4.2. Phương pháp lấy mẫu 34
2.4.3. Phương pháp tách chiết tinh dầu 34
2.4.5. Phương pháp phân tích thí nghiệm 35
2.4.6. Phương pháp bố trí thí nghiệm 35
2.4.7. Phương pháp xử lý số liệu 36
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1. Chiết xuất tinh dầu từ vỏ quả thuộc họ quất, quýt (Citrus) 37
3.1.1. Thiết kế thiết bị chưng cất tinh dầu 37
3.1.2. Quy trình chưng cất tinh dầu 38
3.1.3. Kết quả khảo nghiệm 42
3.1.3.1. Kết quả chưng cất tinh dầu quất, quýt 42
3.1.3.2. Kết quả phân tích thành phần hóa học trong tinh dầu quất, quýt 44
3.2. Khả năng xử lý rác thải xốp bằng hợp chất có nguồn gốc thiên
nhiên được tách triết từ tinh dầu vỏ quả quất, quýt (Citrus) nhằm giảm
thiểu ô nhiễm môi trường 47
3.2.1. Đối với tinh dầu chiết tách từ vỏ quả quất 47
3.2.3. So sánh khả năng xử lý xốp giữa tinh dầu quất, quýt và acetone 52
CT
Công thức
ĐV
Đơn vị
WHO
World Health
Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
CTCP
Công ty cổ phần
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1. Tóm tắt một số công trình nghiên cứu tinh dầu vỏ quả họ Citrus 20
Bảng 2.1: Thể tích tinh dầu được chọn nghiên cứu để xử lý 5g xốp 36
Bảng 3.1. Xác định thể tích (ml) lượng tinh dầu thu hồi trong quá trình
chưng cất vỏ quả quất, quýt 42
Bảng 3.2. Kết quả phân tích thành phần hóa học chính trong tinh dầu quất 44
Bảng 3.3. Kết quả xử lý xốp của tinh dầu quất, quýt 48
Bảng 3.4. Diễn biến thời gian và khối lượng rác thải xốp được xử lý ở công
thức hiệu quả nhất 51
Bảng 3.5. So sánh kết quả xử lý xốp của tinh dầu quất, quýt và acetone 52
Bảng 3.6. Kết quả thí nghiệm chưng cất thu hồi tinh dầu quất sau xử lý xốp 54
Bảng 3.7. Chi phí chưng cất 10 mẻ nguyên liệu tinh dầu quất, quýt 56
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2. 1. Thiết bị chưng cất bằng nước 12
Hình 2.2. Thiết bị chưng cất hơi nước có nồi hơi riêng 13
Hình 3.1. Quy trình chưng cất tinh dầu 41
Hình 3.2: Công thức cấu tạo của Limonene 46
Hình 3.3: Công thức cấu tạo của Myrcene 46
(Polyvinyl Clorua) và PS (Poly Styrene), đây là 2 loại nhựa nguy hiểm trong số
những chất liệu nhựa đang lưu thông trên thị trường. Bên cạnh đó, các loại nhựa
tái chế cũng có thể được tận dụng để sản xuất đồ dùng bằng xốp. Hầu hết các đồ
bằng xốp này được sản xuất tại các cơ sở nhỏ lẻ, điều kiện vệ sinh và kỹ thuật
kém. Phần lớn chúng sau đó đều được thải ra môi trường. Để phân hủy rác thải
xốp trong công nghiệp, lâu nay người ta vẫn dùng hóa chất axenton và toluene,
hóa chất gây hại cho con người, sinh vật và chi phí cao.
2
Trong vỏ quả thuộc họ (Citrus): quất, quýt… có chứa nhiều loại tinh
dầu như: Flavonoids, Isoflavonoids, Phytoestrogens, Isothiocyanates… Trong
đó có hàm lượng chất limonene rất cao chiếm 92,02%, đây là chất có thể hòa
tan được xốp. Vì vậy vỏ quýt, quất,… có khả năng làm nhiên liệu cho công
nghiệp tái chế xốp rẻ tiền, vừa hiệu quả vừa bảo vệ môi trường. Việc sử dụng
vỏ quất, quýt không những làm giảm đi lượng rác thải hữu cơ mà đồng thời
làm quang cảnh trở nên xanh- sạch- đẹp hơn.
Miền núi phía Bắc có nguồn vỏ quả thuộc họ (Citrus): quất, quýt…
tương đối phong phú do điều kiện khí hậu thuận lợi. Thái Nguyên với lợi thế
là tỉnh thuộc khu vực trung tâm trung du miền núi phía Bắc, thuận lợi về vị trí
địa lý khi tiếp giáp với các vựa vàng trồng trái, giao thông thuận tiện với hệ
thống giao thông liên vùng phát triển…Từ đây, chúng ta có thể thu mua
những quả không đủ tiêu chuẩn để xuất, bán cho các thương lái như: quả nhỏ,
quả không đẹp… để làm nguồn nguyên liệu phục vụ cho đề tài. Khi quy trình
được nhân rộng có thể tận dụng nguồn phế thải là vỏ quất, quýt trong ngành
công nghiệp sản xuất nước ép trái cây.
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà
trường và Ban chủ nhiệm khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm thái
Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Đàm Xuân Vận, tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu chiết tách tinh dầu từ vỏ quả quất, quýt (Citrus)
để xử lý rác thải xốp tại Thành phố Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Góp phần giảm bớt được sự ô nhiễm của rác thải xốp với môi trường và
giải quyết được nguồn nghiên liệu thải bỏ là vỏ quả quất, quýt (Citrus) trong
nông nghiệp.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Nguồn gốc họ quất, quýt (Citrus)
Việc trồng trọt các cây giống họ quả quất, quýt (Citrus) có thể bắt
nguồn ít nhất 4000 năm trở lại đây ở khu vực các nước nhiệt đới và cận nhiệt
đới của lục địa Châu Á (đặc biệt là các nước Đông Nam Á) và quần đảo
Malaysia. Trong thời gian gần đây hơn, cây Citrus đến đầu tiên ở các nước
Địa Trung Hải, do vậy, vùng trồng cây Citrus mở rộng khắp thế giới. Giống
Citrus gồm khoảng trên dưới 20 loài phân bố tự nhiên từ Ấn Độ, miền Nam
Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaysia, Myanmar, Philippines,
Thái Lan, Indonesia cho đến miền Bắc Australia và New Caledonia. [1]
Hiện nay, với sự phát triển của kỹ thuật lai giống, giống Citrus đã
được lai ghép thành rất nhiều giống khác nhau và cho ra đời rất nhiều các
loài cây lai trên khắp thế giới. Tuy nhiên, chỉ một số ít loài cây được
nghiên cứu và được xác định tên khoa học một cách chính xác. Đa số các
cây lai từ các nhà vườn được lai một cách ngẫu nhiên sao cho phù hợp với
thời tiết, thổ nhưỡng và cho ra năng suất trái tốt.
1.1.2. Tổng quan về tinh dầu
1.1.2.1. Khái niệm về tinh dầu
Tinh dầu là những chất thơm hay chất mùi có trong một số bộ phận của
cây cỏ (hạt, rễ, củ, vỏ cây, hoa, lá, quả, dầu, nhựa cây…) hay động vật (túi
tinh dầu). Hệ thực vật có tinh dầu khoảng 3000 loài, trong đó có 150-200 loài
có ý nghĩa công nghiệp. Tinh dầu có trong các nguồn nguyên liệu trên với
nồng độ rất khác nhau, có thể thay đổi từ phần triệu đến phần trăm và tinh dầu
tương đối dễ bay hơi [8, 10, 11].
- Nhóm thành phần dễ bay hơi: chiếm tới 90 – 95% tổng lượng tinh dầu.
- Nhóm còn lại: gồm các hợp chất ít bay hơi chỉ chiếm 1 - 10% [5].
Phân loại theo bản chất hóa học
Các hợp chất trong tinh dầu được chia thành các nhóm:
- Monoterpen mạch hở (ví dụ: myrcen, ocimen).
- Monoterpen mạch vòng (ví dụ: p-cymen, pinen, sabinen) .
- Monoterpen mạch hở bị oxy hóa (như farnesol, linalool, neral).
- Monoterpen mạch vòng bị oxy hóa (như terpineol, geraniol).
- Sesquiterpen mạch hở (ví dụ: farnesen).
- Sesquiterpen mạch vòng (ví dụ: copaen, humulen).
- Sesquiterpen mạch hở bị oxy hóa (như nerolidol).
- Sesquiterpen mạch vòng bị oxy hóa (như nootkaton, spathulenol).
- Các hợp chất thơm (ví dụ: indol).
- Các hydrocarbon mạch dài (như tetradecanal, dodecanal) [6].
1.1.2.3. Tính chất của tinh dầu
Tính chất chung của tinh dầu
Tinh dầu là hợp chất hữu cơ hòa tan lẫn vào nhau, có mùi đặc trưng. Tại
nhiệt độ thường, tinh dầu thường ở thể lỏng, có khối lượng riêng bé hơn 1 (trừ
một vài loại như tinh dầu Quế, Đinh Hương có khối lượng riêng lớn hơn 1).
Để xác định tính chất vật lý của tinh dầu, thông thường người ta tiến
hành xác định các chỉ số như tỷ trọng, chiết suất, tỷ lệ hòa tan trong cồn 90
0
ở
25
0
C, nhiệt độ sôi, năng suất quay cực, màu sắc… Tinh dầu không tan hoặc
rất ít tan trong nước nhưng chúng hòa tan tốt trong đa số các dung môi hữu cơ
như ester, cồn
Về màu sắc, tinh dầu thường không màu hoặc có màu vàng nhạt. Một số
ít tinh dầu có màu (ví dụ: tinh dầu Ngải Cứu có màu xanh lơ, tinh dầu Quế có
- Thành phần chủ yếu của tinh dầu Chanh là Limonen, chiếm 90%
tổng thành phần có mặt trong tinh dầu. Giá trị của tinh dầu được đánh giá theo
thành phần chính
- Tùy theo loài Chanh, Cam, Quýt và điều kiện canh tác, vùng khí hậu
mà tinh dầu này có các thành phần hóa học và các chỉ số vật lý có sự thay đổi
khác nhau. Tinh dầu Citrus thường nằm trong khoảng chênh lệch sau:
8
Tỷ trọng: d
20
= 0,846 – 0,854.
Chiết suất n
20
= 10402 – 10406.
Độ quay cực D
20
= 56 – 660 .
Chỉ số Caconyl = 2,72 – 3,0.
- Thành phần chính của tinh dầu cũng thay đổi rất lớn theo loài, vùng
khí hậu, đất canh tác trồng trọt, phương pháp khai thác …
1.1.2.4. Các phương pháp sản xuất tinh dầu
Có rất nhiều phương pháp để chiết rút tinh dầu nhưng dù có sử
dụng phương pháp chiết nào thì quy trình sản xuất đều có những điểm chung
sau đây:
- Tinh dầu thu được phải có mùi thơm tự nhiên như nguyên liệu.
- Quy trình khai thác phải phù hợp với đặc tính của nguyên liệu.
- Tinh dầu phải được lấy triệt để khỏi nguyên liệu với chi phí thấp nhất.
Các phương pháp ly trích tinh dầu đều dựa vào các đặc tính sau của tinh dầu:
- Dễ bay hơi.
- Lôi cuốn theo hơi nước ở nhiệt độ dưới 100
o
dung môi, nhiệt độ sôi cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu. Điểm
sôi của dung môi nên thấp hơn điểm sôi của cấu phần dễ bay hơi nhất
trong tinh dầu. Ngoài ra, cần có thêm những yếu tố phụ khác như: giá
thành thấp, nguồn cung cấp dễ tìm, …
Thường thì không có dung môi nào thỏa mãn tất cả những điều kiện kể
trên. Người ta sử dụng cả dung môi không tan trong nước (như Dietyl ete, Ete
dầu hỏa, Hexan, Cloroform…) lẫn dung môi tan trong nước (như Etanol,
Axeton…). Trong một số trường hợp cụ thể, người ta còn dùng một hỗn hợp
dung môi.
c. Ưu và nhược điểm của phương pháp:
- Ưu điểm: Sản phẩm thu được theo phương pháp này thường có mùi thơm
tự nhiên. Hiệu suất sản phẩm thu được thường cao hơn các phương pháp khác.
10
- Khuyết điểm: Yêu cầu cao về thiết bị, thất thoát dung môi, quy trình
tương đối phức tạp.
Phương pháp ướp
Cơ sở của phương pháp dựa trên hiện tượng hấp phụ chất thơm bởi
các chất béo dạng lỏng hay rắn (vaselin, parafin, dầu oliu hoặc mỡ động
vật) đã tinh chế. Người ta dùng các khay sâu 8cm, rộng 60cm, dài 100cm
đáy là mặt kính có phủ lớp chất béo để hấp phụ chất thơm. Các khay có
thể xếp chồng lên nhau, trên mặt khay xếp đều nguyên liệu để trích hương
và để yên trong khoảng từ 12-72 giờ tùy từng loại nguyên liệu, sau đó
thay lớp nguyên liệu mới và để hấp phụ từ 10-15 lần cuối cùng thu được
chất béo có mùi thơm. Đem lắc chất béo với etanol cao độ để trích ly tinh
dầu, sau đó để lạnh -10
0
C để loại bỏ hết chất béo bị kéo theo rồi cô đuổi
etanol dưới áp suất thấp để thu tinh dầu. Kỹ thuật này thuờng được dùng
để chiết hương thơm của các loài hoa để thu sản phẩm dưới dạng tinh dầu
cô đặc (“essence concentrée”) dùng trong mỹ phẩm.
khuếch tán sẽ dễ dàng khi tế bào chứa tinh dầu trương phồng do nguyên
liệu tiếp xúc với hơi nước bão hòa trong một thời gian nhất định. Trường
hợp các mô thực vật có các hợp chất khó bay hơi (như sáp, nhựa, acid béo
dây dài mạch thẳng) thì quá trình chưng cất phải được thực hiện trong một
thời gian dài vì những hợp chất này làm giảm áp suất hơi chung của hệ
thống và làm cho sự khuếch tán trở nên khó khăn.
c. Các dạng chưng cất tinh dầu:
Trong công nghiệp, người ta chia các phương pháp chưng cất hơi nước
ra thành ba dạng chính: chưng cất bằng nước (water distillation), chưng cất
bằng nước và hơi nước (water and steam distillation) và chưng cấy bằng hơi
nước trực tiếp nước (direct steam distillation).
12
* Chưng cất bằng nước
Nguyên liệu và nước cùng cho vào một thiết bị. Khi đun sôi, hơi nước
bay ra sẽ cuốn theo tinh dầu, hơi ngưng tụ bay ra sẽ thu được hỗn hợp gồm
nước và tinh dầu, hai thành phần này không tan vào nhau nên dễ dàng tách ra
khỏi nhau.
Phương pháp này đơn giản, thiết bị rẻ tiền và dễ chế tạo, phù hợp với
những cơ sở sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ít. Tuy nhiên, phương pháp này có
nhược điểm như hiệu suất thấp, chất lượng tinh dầu không cao do nguyên liệu
tiếp xúc trực tiếp với thiết bị nên dễ bị cháy khét, khó điều chỉnh các thông số
kỹ thuật như tốc độ và nhiệt độ chưng cất.
Hình 2. 1. Thiết bị chưng cất bằng nước
* Chưng cất bằng hơi nước không có nồi hơi riêng (Water and Steam
Distilla- tion):
Nguyên liệu và nước cùng cho vào một thiết bị nhưng cách nhau
bởi một vỉ nồi. Khi đun sôi, hơi nước bốc lên qua khối nguyên liệu kéo
theo tinh dầu và đi ra thiết bị ngưng tụ. Để nguyên liệu khỏi rơi vào phần
có nước ta có thể lót trên vỉ một hay nhiều lớp bao tải tùy theo từng loại
nguyên liệu. Phương pháp nay phù hợp với những cơ sở sản xuất có qui
- Chất lượng tinh dầu có thể bị ảnh hưởng nếu trong tinh dầu có những
cấu phần dễ bị phân hủy.
- Không lấy được các loại nhựa và sáp có trong nguyên liệu (đó là
những chất định hương thiên nhiên rất có giá trị).
- Trong nước chưng luôn luôn còn một lượng tinh dầu tương đối lớn.
- Những tinh dầu có nhiệt độ sôi cao thường cho hiệu suất rất kém.
Ngoài ra, ngày nay người ta còn sử dụng các phương pháp mới trong
việc ly trích tinh dầu như phương pháp chưng cất hay chiết dưới sự hỗ trợ bởi
vi sóng, bởi siêu âm, kỹ thuật vi chiết pha rắn (SPME: Solid phase micro-
extraction), kỹ thuật chiết siêu tới hạn (SFE: Supercritical fluid extraction),
chiết kết hợp với chưng cất (SDE: Simultaneous distillation extraction),…Tuy
nhiên, các phương pháp trên chi phí đắt và thiết bị phức tạp hơn nên ít phổ
biến hơn trong thực tế.
So với các phương pháp trên thì phương pháp chưng cất lôi cuốn bằng
hơi nước dễ áp dụng trong điều kiện phòng thí nghiệm, chi phí đầu tư ít, dễ
dàng vận hành, cho hiệu quả chiết tương đối cao.
e. Những yếu tố chính ảnh hưởng hiệu suất chưng cất tinh dầu
* Sự khuếch tán
Ngay cả khi nguyên liệu được làm vỡ vụn thì chỉ có một số mô chứa
tinh dầu bị vỡ và cho tinh dầu thoát tự do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn đi.
15
Theo Von Rechenberg, ở nhiệt độ sôi của nước phần lớn tinh dầu còn lại
trong các mô thực vật sẽ được hòa tan vào trong nước có sẵn trong tế bào thực
vật. Dung dịch này sẽ thẩm thấu dần ra bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước
cuốn đi. Còn nước sẽ thẩm thấu vào nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh
dầu lại tiếp tục bị hòa tan vào lượng nước này. Quy trình này lặp đi lặp lại cho
đến khi tinh dầu trong các mô thoát ra ngoài hết. Như vậy, sự hiện diện của
nước rất cần thiết, cho nên trong trường hợp chưng cất sử dụng hơi nước quá
nhiệt, chú ý tránh đừng để nguyên liệu bị khô.
Tuy nhiên, nếu lượng nước sử dụng thừa quá thì cũng không có lợi,
ngay về cơ sở sản xuất [3].
- Bảo quản và sơ chế nguyên liệu
Nguyên liệu sau thu hoạch có thể bảo quản đông hoặc sấy khô để chủ
động nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Sau khi thu hoạch nếu chưa chế biến
ngay thì cần rải mỏng nguyên liệu, tránh chất đống để phòng ngừa hiện tượng
bốc nóng.
1.1.2.5. Ứng dụng của tinh dầu chiết xuất từ họ Citrus
Việc sản xuất trái cây giống Citrus trên thế giới tăng đáng kể trong vài
thập kỷ qua, trung bình từ 48 triệu tấn /năm trong khoảng thời gian 1970-1971
đến 1978-1979, đến giai đoạn năm 1999-2000 đã tăng đến 90 triệu tấn/năm. Các
quốc gia ở Bắc Bán Cầu (The Northern hemisphere, chủ yếu là Mỹ và các nước
Địa Trung Hải) đóng góp khoảng 75% tổng sản lượng. Trong khi đó Nam Bán
Cầu (The Southern hemisphere, chủ yếu là Brazil và Argentina) đóng góp phần
còn lại, 25%. Trái Citrus chiếm thị phần đáng kể, khoảng 30% của thị trường trái
cây tươi của thế giới và một lượng lớn được tiêu thụ tại nơi sản xuất. Ngoài ra,
có hơn 30% tổng sản lượng được dùng để sản xuất nước ép. [16]
Các loại lá Citrus bên cạnh việc ly trích lấy tinh dầu, còn được dùng
làm gia vị và thuốc trị bệnh trong dân gian. Các loài thuộc giống
Fortunella, Citrofortunella bên cạnh được sử dụng để làm thực phẩm hàng
ngày, sản xuất nước ép trái còn làm cây cảnh [17, 18]. Ngày nay, công
17
nghệ sản xuất nước ép trái Citrus, Fortunella, Citrofortunella kết hợp chặt
chẽ với việc sản xuất tinh dầu và limonen, thức ăn cho gia súc tạo thành
một qui trình khép kín và tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu sản xuất đã và
đang rất phát triển trên thế giới.
Tinh dầu và nước thơm: Trong suốt quá trình cô đặc nước ép trái
Citrus, một số hợp chất thơm tự nhiên cũng bị loại bỏ cùng với nước, bao
gồm lượng nhỏ tinh dầu vỏ trái trong nước ép. Các hợp chất dễ bay hơi
được thu hồi trong suốt quá trình sản xuất nước ép cô đặc được gọi là
phần nước thơm (essence). Tinh dầu các loài giống cây có múi này đặc