Quá trình xây dựng và phát triển KTTT ở Việt Nam dưới góc nhìn của quan điểm lịch sử cụ thể - Pdf 30

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề Cương:
A. Đặt vấn đề
B. Nội Dung
I. Cơ sở lý luận của quan điểm lịch sử cụ thể với phát triển kinh tế thị trường
(KTTT)
1. Quan điểm lịch sử cụ thể và cơ sở khách quan của quan ta điểm lịch sử cụ thể
1.1 Cơ sở khách quan của quan điểm lịch sử cụ thể
1.2 Nguyên tắc nhận thức của quan điểm lịch sử cụ thể
1.3 Ý nghĩa của phương pháp luận quan điểm lịch sử cụ thể
2. Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể vào quá trình xây dựng KTTT định
hướng XHCN ở Việt Nam
II. Những vấn đề cơ bản về KTTT định hướng XHCN ở nước ta
1. Sự cần thiết khách quan phát triển KTTT ở Việt Nam
1.1 Sự cần thiết khách quan
1.2 Khái niệm KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
1.3 Đặc trưng và bản chất của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
2. Vai trò của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
III. Quá trình xây dựng và phát triển KTTT ở Việt Nam dưới góc nhìn của quan
điểm lịch sử cụ thể
1. Những điều kiện cụ thể ảnh hưởng đến quá trình xây dựng KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam
1.1. Điều kiện trong nước
1.2. Những điều kiện thế giới và khu vực
2. Quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
Những thành tựu đạt được
Nguyên nhân
3. Những giải pháp để phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
C. Kết Luận
A. Đặt Vấn Đề
Bước vào thiên nhiên kỉ mới, loài người đã và đang có những bước tiến quang trong

XHCN
1. Quan điểm lịch sử cụ thể và cơ sở khách quan của quan điểm lịch sử cụ thể
1.1 Cơ sở khách quan của quan điểm lịch sử cụ thể
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là cơ sở hình thành
quan điểm lịch sử cụ thể. Mọi sự vật hiện tượng cua thế giới đều tồn tại, vận động và phát
triển trong những điều kiện không gian và thời gian có ảnh hưởng trực tiếp tới tính chất,
đặc điểm của sự vật. Cùng một sự vật nhưng nếu tồn tại trong những điều kiện không
gian và thời gian cụ thể khác nhau thì tính chất, đặc điểm của nó sẽ khác nhau, thậm trí
có thể thay đổi hoàn toàn bản chất của sự vật. .
1.2 Nguyên tắc nhận thức của quan điểm lịch sử cụ thể
Nguyên tắc lịch sử-cụ thể được V.I.Lênin nêu rõ : “xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm
sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó
đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát
triển đó để xét xem hiện nay nó đã trở thành như thế nào”
1
. Bản chất của nguyên tắc này
nằm ở chỗ, trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng, trong sự vận động, trong sự
chuyển hoá qua lại của nó, phải tái tạo lại được sự phát triển của sự vật hiện tượng ấy, sự
vận động của chính nó, đời sống của chính nó

. Nguyên tắc nhận thức của quan điểm lịch
sử cụ thể thể hiện:
Thứ nhất: Nguyên tắc lịch sử-cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổ
biến, là phương thức tồn tại của vật chất, nghĩa là phải nhận thức được sự vận động làm
cho sự vật, hiện tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật nhất định và hình thức
của vận động quyết định bản chất của nó:phải chỉ rõ được những giai đoạn cụ thể mà nó
trải qua trong quá trình phát triển của mình; phải biết phân tích mỗi tình hình cụ thể trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thì mới có thể hiểu, giải thích được những
thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu, những đặc trung chất và lượng vốn có của sự vật.
3

tiến hành cơ chế thị trường và vượt xa ta hàng trăm năm. Nhờ sử dụng triệt để KTTT, chủ
nghĩa tư bản đã đạt được những thành tựu về kinh tế-xã hội, phát triển lực lượng sản xuất,
nâng cao năng xuất lao động, quản lý xã hội đã đạt được về văn minh hành chính, văn
minh công cộng…tuy nhiên KTTT của chủ nghĩa tư bản, với bản chất tư hữu về tư liệu
sản xuất đã không tránh khỏi những tiêu cực và hạn chế như: cạnh tranh gay gắt dẫn đến
tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, tình trạng phân hoá giàu nghèo diễn ra phổ biến, ô nhiễm
môi trường, tệ nạn xã hội… Với nước ta, là một nước đi sau và phát triển theo con đường
XHCN chúng ta có cơ hội phát triển và kế thừa những thành tựu của nhân loại mà trước
hết đó là những văn minh của KTTT, loại bỏ những khuyết tật của nó để xây dựng
CNXH có hiệu quả hơn.
Chính vì lẽ đó chúng ta cần phải vận dụng quan điểm lịch sử-cụ thể vào việc nghiên
cứu trong quá trình xây dựng và phát triển KTTT định hướn XHCN ở Việt Nam.
II. Những vấn đề cơ bản về KTTT định hướng XHCN ở nước ta
1. Sự cần thiết khách quan phát triển KTTT ở Việt Nam
1.1 Sự cần thiết khách quan
Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế -xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất ra
để trao đổi, để bán trên thị trường. Mục đích của sản xuất trong kinh tế hàng hoá không
phải để thoả mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra sản phẩm mà nhằm để bán, tức
là để thoả mãn nhu cầu của người mua đáp ứng nhu cầu của xã hội.
KTTT là trình độ phát triển cao hơn của kinh tế hàng hoá, trong đó các yếu tố “đầu
vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường. Như vậy KTTT là trình độ phát
triển cao hơn của kinh tế hàng hoá, do đó điều kiện tồn tại, phát triển của kinh tế hàng
hoá c ũng là điều kiện tồn tại và phát triển của KTTT đó là hai điều kiện:
5
Thứ nhất: có sự phân công lao động xã hội
Thứ hai: có sự tách biệt về mặt kinh tế của người sản xuất
Trong thời kỳ quá độ, ở nước ta có đầy đủ hai điều kiện để tồn tại và phát triển của
kinh tế hàng hoá do đó nền KTTT tồn tại và phát triển ở nước ta đó là một tất yếu, khách
quan. Hai điều kiện đó là:
Thứ nhất: phân công lao động xã hội hiện nay trong nền kinh tế ở nước ta không những

phản ánh bản chất và mục đích của nền sản xuất xã hội, đó là nền kinh tế vận động dựa
trên cơ sở các quy luật khách quan, đặc biệt là các quy luật của thị trường, có sự quản lý
của Nhà nước, để xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiến bộ nhằm đạt mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
1.3 Đặc trưng và bản chất của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, một mặt vừa có những tính chất chung của
nền kinh tế thị trương: Một là, các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong
sản xuất, kinh doanh; Hai là, giá cả do thị trường quyết định , hệ thống thị trường được
phát triển đầy đủ và nó có tác dụng cơ sở cho việc phân phôi các nguồn lực kinh tế vào
các ngành , các lĩnh vực của nền kinh tế. Ba là, nền kinh tế vận động theo những quy luật
vốn có của KTTT như quy luật giá trị, quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh…sự tác
độgn cảu các quy luật đó hình thành nên cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế. Bốn là, nếu là
nền kinh tế hiện đại thì có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế
hoạch hoá, các chính sách kinh tế. mặt khác KTTT định hướng XHCN của Việt Nam còn
dựa trên cơ sở được dẫn dắt, chi phôi bởi nguyen tắc và bản chất của XHCN. Do đó,
KTTT định hướng XHCN có những đặc trung bản chất sau:
Hệ thống mục tiêu và động lực: Đảng ta đã nêu lên mục tiêu xây dựng một xã hội "dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Chính mục tiêu đó sẽ quy định
phương tiện, công cụ, động lực của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và con
7
đường đạt tới mục tiêu. Đó là sử dụng kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn.
Chế độ sở hữu và thành phần kinh tế: Các hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu xã
hội, sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân chỉ là những hình thức hay cấp độ
của sở hữu kinh tế. Bởi sở hữu như một phạm trù kinh tế luôn chứa các cực kinh tế đối
lập hay những mâu thuẫn xã hội hiện thực, bắt buộc phải thừa nhận lẫn nhau như những
chủ thể kinh tế riêng. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò
sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu xã hội sẽ có ý nghĩa ngày càng quan trọng để
đảm bảo tính kế hoạch và định hướng xã hội chủ nghĩa cho quá trình phát triển.
Cơ chế vận hành kinh tế: Đương nhiên cơ chế thị trường là cơ chế chủ yếu vận hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status