ĐẶC điểm tổn THƯƠNG và kết QUẢ PHẪU THUẬT gãy kín CHỎM XƯƠNG QUAY DO CHẤN THƯƠNG tại BỆNH VIỆN 103 - Pdf 30

Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014
40
quyết vấn đề, lập luận lâm sàng; kỹ năng thực hiện
quy trình kỹ thuật; quản lý bệnh nhân; dự phòng; giao
tiếp hiệu quả; năng lực học tập; tính chuyên nghiệp.
Với xu hướng đó, Trường đại học Y Hà Nội cần điều
chỉnh chương trình đào tạo, phương pháp dạy và
kiểm tra, đánh giá để nâng cao mức độ đáp ứng của
các yếu tố tại bảng 3, phù hợp với yêu cầu của thực
tiễn. Tuy nhiên với nghiên cứu này, tỷ lệ các đối
tượng là bác sĩ có thâm niên và bác sĩ mới ra trường
tham gia còn hạn chế (8,96% và 13,06%). Vì vậy cần
mở rộng phạm vi đến các đối tượng này để kết quả
đánh giá có giá trị chính xác hơn
KẾT LUẬN
Thực hiện nhu cầu đào tạo dựa trên năng lực của
BSĐK là khả thi trong chương trình đào tạo hiện nay.
Xác định được các nhu cầu, kĩ năng, kiến thức và
thái độ cần thiết đối với một BSĐK là bước quan
trọng để định hướng, xây dựng các chuẩn đào tạo
cũng như năng lực mong muốn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2007), QUY ĐỊNH về
tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học,
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, chủ biên.
ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT GÃY KÍN CHỎM
XƯƠNG QUAY
DO CHẤN THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN 103

NGUYỄN MINH TÙNG - Học viện Quân y

TÓM TẮT
Hồi cứu kết hợp tiến cứu 47 BN gãy kín chỏm
xương quay do chấn thương chia 2 nhóm, nhóm điều
trị bằng phẫu thuật bảo tồn chỏm xương quay và
nhóm phải lấy bỏ chỏm xương quay tại Khoa Chấn
thương chỉnh hình Bệnh viện 103, từ tháng 1/2001-
2/2009 chúng tôi rút ra kết luận sau:
- Kết quả gần: 46/47 bệnh nhân (97,9%) vết mổ
liền kỳ đầu, 26/31 bệnh nhân (83,9%) sau phẫu thuật
được đánh giá là kết xương vững. Không có biến
chứng liệt nhánh vận động thần kinh quay.
- Kết quả xa (theo thang điểm Broberg và Morrey):
nhóm bảo tồn chỏm xương quay rất tốt 12/30 bệnh
nhân (40,0%), tốt 13/30 BN (43,3%), 5/30 bệnh nhân
(16,7%) trung bình và xấu. Điểm trung bình 88,6.
Nhóm lấy bỏ chỏm xương quay rất tốt 1/12 bệnh
nhân (8,3%), tốt 8/12 bệnh nhân (66,7%), 3/12 bệnh
nhân (25%) trung bình và xấu. Điểm trung bình 82,2.
Góc mang nhóm lấy bỏ chỏm (7,17

1,67º) lớn hơn
so với nhóm bảo tồn chỏm (5,43

Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014
41

điểm tổn thương, chỉ định và phương pháp điều trị,
luyện tập sau mổ.
Nhiều năm qua, Khoa Chấn thương chỉnh hình
Bệnh viện 103 đã điều trị phẫu thuật cho các BN gãy
CXQ có di lệch, bước đầu mang lại kết quả khả quan.
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm
hiểu một số đặc điểm tổn thương và hiệu quả điều trị
các BN gãy kín CXQ do chấn thương được điều trị
phẫu thuật tại Bệnh viện 103.
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Đối tượng nghiên cứu
47 BN gãy kín CXQ do chấn thương, điều trị phẫu
thuật tại Khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện
103, từ tháng 1/2001-2/2009.
2. Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu kết hợp tiến cứu.
2.1. Nội dung nghiên cứu:
- Hồi cứu 34 BN (điều trị từ tháng 1/2001-
11/2007), tiến cứu 13 BN (điều trị từ tháng 12/2007-
8/2009), gồm 2 nhóm: 34 BN được bảo tồn CXQ
(nhóm 1) và 13 BN phải lấy bỏ CXQ (nhóm 2).

tụ, làm sạch diện gãy, sắp xếp lại vị trí giải phẫu các
mảnh gãy và cố định ổ gãy bằng nẹp, vít nhỏ hoặc
xuyên đinh Kirschner. Áp dụng với gãy CXQ loại II-IV,
gãy đơn giản, gãy mảnh lớn (chiếm 2/3 CXQ).
+ Lấy mảnh gãy nhỏ: Mảnh gãy nhỏ không thể kết
hợp lại, có thể lấy bỏ và làm sạch ổ khớp. Áp dụng
với gãy bờ CXQ 1 mảnh nhỏ hơn 1/3 chỏm mà khi
lấy bỏ không ảnh hưởng đến khớp quay trụ trên.
+ Lấy bỏ CXQ: Mấy bỏ các mảnh gãy, làm sạch
máu tụ, cắt gọn sát đầu ngoại vi xương gãy và mài
nhẵn. Áp dụng với gãy CXQ nhiều mảnh nhỏ, không
còn khả năng kết xương, gãy cũ, liền lệch khó khăn
trong chỉnh trục, kết xương.
- Chăm sóc hậu phẫu: Bất động cánh bàn tay
bằng nẹp bột (khuỷu gấp gần 90º, cẳng tay nửa sấp
nửa ngửa). Dùng các thuốc kháng sinh, chống phù
nề, giảm đau Theo dõi BN, rút dẫn lưu sau 48 giờ,
thay băng vết mổ, chụp X quang sau mổ và hướng
dẫn BN tập vận động phù hợp. Hẹn BN kiểm tra định
kỳ sau mổ 3 tháng, 6 tháng và hằng năm.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Đặc điểm BN
1.1. Tuổi và giới

Tuổi Nhóm 1 Nhóm 2 Cộng
Dưới 16 10 (29,4%) 0 10 (21,3%)
Từ 16-50 24 (70,6%) 12 (92,3%) 36 (76,6%)
Trên 50 0 1 (7,7%) 1 (2,1%)
Cộng 34 (100%) 13 (100%) 47 (100%)


ộng

34 (100%)

13 (100%)

47 (100%)2. Đặc điểm phẫu thuật
2.1. Thời điểm phẫu thuật
- Trước 24 giờ: 8 BN (17,0%).
- Từ 2-7 ngày: 22 BN (46,8%).
- Từ 8-14 ngày: 7 BN (14,9%).
- Sau 14 ngày: 10 BN (21,3%).
2.2. Phương pháp xử trí CXQ
Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014
42
- Bảo tồn CXQ (nhóm 1): 34 BN (72,3%), trong đó:
+ Dùng đinh Kirschner: 23 BN (48,9%).
+ Dùng đinh Kirschner và nẹp vít: 3 BN (6,4%).
+ Dùng vít nhỏ: 5 BN (10,6%).
+ Lấy bỏ mảnh xương: 3 BN (6,4%).
- Lấy bỏ CXQ (nhóm 2): 13 BN (27,7%).

Diễn biến Nhóm 1 Nhóm 2 Cộng
Liền vết mổ kỳ đầu 34 (100%)

12 (92,3%)

46 (97,9%)

Liền vết mổ kỳ 2 0 1 (7,7%) 1 (2,1%)
Cộng 34 (100%)

13 (100%)

47 (100%)
- X quang sau mổ (n = 31):
+ Hết di lệch xương: 26/31 BN (83,9%).
+ Di lệch xương ít: 5/31 BN (16,1%).
- Tai biến, biến chứng sớm: không có BN tai biến
trong mổ. Sau mổ, 1 BN có biến chứng sớm nhiễm
trùng nông vết mổ (đã nêu trên).
3.2. Kết quả xa
Theo dõi 42/47 BN từ 6 tháng đến 8 năm. KQ:
- Tình trạng sẹo mổ: 42/42 BN (100%) liền sẹo,
trong đó 41 BN (97,6%) có sẹo nhỏ, mềm mại, di
động tốt; 1 BN (2,4%) sẹo lồi, xấu, kém mềm mại
nhưng không xơ dính (là BN liền vết mổ kỳ 2).
- Kết quả liền xương: 28 BN kết xương bên trong
được chụp X quang sau mổ ít nhất 3 tháng, thấy
25/28 BN (89,3%) can xương tốt (hình can xương
gọn, không còn đường gãy, góc cổ - thân xương
quay 162  5º, diện đài quay khớp với lồi cầu xương


1 (3,3%) 1 (8,3%)

2 (4,8%)
Sấp,
ngửa

cẳng tay

> 100º 18 (60,0%)

4 (33,3%)

22 (52,4%)

Từ 50-100º 12 (40,0%)

7 (58,3%)

19 (45,2%)

< 50º 0 1 (8,3%)

1 (2,4%)
Gấp,
duỗi
khuỷu
> 100º 26 (86,7%)

9 (75,0%)

C

ng

Rất tốt 12 (40,0%) 1 (8,3%) 13 (30,9%)
Tốt 13 (43,3%) 8 (66,7%) 21 (50,0%)
Trung bình 4 (13,3%) 2 (16,7%) 6 (14,3%)
Xấu 1 (3,4%) 1 (8,3%) 2 (4,8%)
Cộng 30 (100%) 12 (100%) 42 (100%)
BÀN LUẬN
1. Đặc điểm BN
- Tuổi và giới: Nhóm 1 có 70,6% BN từ 16-50 tuổi,
còn lại dưới 16 tuổi; nhóm 2 có 92,3% BN từ 16-50
tuổi, còn lại trên 50 tuổi. Như vậy, cả 10 BN dưới 16
tuổi được điều trị bảo tồn, 1 BN trên 50 tuổi được
điều trị lấy bỏ CXQ. Tỉ lệ BN nam (74,5%) nhiều hơn
nữ (25,5%), có thể do nam giới thường tham gia vào
nhiều hoạt động hơn nữ giới.
- Nguyên nhân tổn thương: BN gãy CXQ đều do
tai nạn, nhiều nhất là tai nạn sinh hoạt (51,1%). Phần
lớn cơ chế chấn thương trong nghiên cứu của chúng
tôi là do trực tiếp (68,1%). Điều này có thể do chúng
tôi chỉ chọn vào nghiên cứu các BN có chỉ định phẫu
thuật (gãy CXQ loại II trở lên).
- Tổn thương kết hợp: gãy CXQ hay kết hợp với
các gãy xương, sai khớp khác ở vùng khuỷu. Chẩn
đoán tổn thương kết hợp đôi khi không dễ, có thể
nhầm lẫn mảnh gãy của mỏm vẹt, lồi cầu với mảnh
gãy CXQ di lệch và ngược lại. Chúng tôi gặp 36,2%
có tổn thương kết hợp ở vùng khuỷu, trong đó nhiều

quá trình phục hồi chức năng sau mổ. Trong 8 BN
được kết xương trước 24 giờ, có 5 BN đạt kết quả tốt
và rất tốt. Chiếm tỉ lệ cao nhất là các BN được kết
xương trong 2-7 ngày (46,8%), đây là những BN khi
nhập viện có sưng nề nhiều vùng khuỷu nên cần có
thời gian để giảm nề (12/22 BN sau mổ có kết quả tốt
và rất tốt). Chúng tôi nhận thấy đây là thời điểm kết
xương thuận lợi nhất. Số được kết xương trong 8-14
ngày có 2 BN đạt kết quả tốt và rất tốt. 4/5 BN kết
xương sau 14 ngày có kết quả tốt và rất tốt. Mổ sau
14 ngày là các BN gãy phân loại II theo Mason, hình
thái gãy đơn giản, không có tổn thương kết hợp. Từ
đó chúng tôi cho rằng nếu gãy đơn giản, không có
tổn thương kết hợp thì vẫn có thể kết xương ở thời
điểm muộn nhằm giữ lại CXQ, tránh các biến chứng
do thiếu chỏm gây ra.
- Về chỉ định phẫu thuật: Gãy CXQ không di lệch
hoặc ít di lệch (loại I), chỉ định điều trị bảo tồn đã
được thống nhất [10]. Herbertsson P điều trị bảo tồn
với gãy CXQ không di lệch [6], và ít di lệch [5] với
thời gian theo dõi lần lượt là 21 và 19 năm cho kết
quả tốt. Mathur N và cộng sự (1984) báo cáo 49/50
BN điều trị bảo tồn bằng bó bột có kết quả tốt và rất
tốt [9]. Gãy CXQ loại II là thích hợp nhất cho điều trị
bằng phẫu thuật kết xương. Kết quả phục hồi chức
năng tốt và rất tốt của 18/20 BN (90%) gãy loại II
được kết xương trong nghiên cứu của chúng tôi và
kết quả tương tự (93,3% BN) của Ring D phù hợp với
nhận định này. Kết xương với gãy CXQ nhiều mảnh
và liên quan tới toàn bộ chỏm (loại III) cho kết quả

quay trụ dưới thì nên thay CXQ nhân tạo.
3. Kết quả điều trị
- Liền vết mổ kỳ đầu chiếm tỉ lệ cao (97,9%), trong
đó có 100% BN nhóm 1 (bảo tồn CXQ). 1 BN (2,1%)
liền vết mổ kỳ 2 do nhiễm khuẩn nông vết mổ (là
trường hợp gãy CXQ kết hợp gãy mỏm khuỷu phức
tạp, chúng tôi cắt chỉ sau mổ 5 ngày, giải thoát dịch ứ
đọng, thay băng hằng ngày, vết mổ tiến triển tốt, khâu
da kỳ 2). Không BN nào bị nhiễm khuẩn sâu, viêm
xương, rò mủ kéo dài. Theo Đặng Kim Châu thì tỉ lệ
nhiễm khuẩn trong mổ phiên tại bệnh viện Việt - Đức
(1993-1995) là 9% và nhiễm khuẩn sâu là 2,5%, như
vậy tỉ lệ nhiễm khuẩn sau mổ của chúng tôi (2,1%) là
chấp nhận được.
- Kết quả liền xương: Cả 28 BN kết xương trong
nghiên cứu được đánh giá kết quả xa và đều liền
xương, trong đó có 1 BN (3,6%) sau kết xương 3
tháng còn đau ở ổ gãy, chụp X quang thấy đường
gãy còn rõ, bóng can xương mờ, chúng tôi xếp vào
loại chậm liền xương. CXQ là phần xương xốp dễ
liền nên vấn đề không liền xương, khớp giả ở đây ít
được tài liệu đề cập mà khớp giả do gãy CXQ thấy
nhiều hơn. Năm 1985, Horne G và Sim P [7] thông
báo một BN gãy CXQ nhiều mảnh kết hợp khớp
khuỷu, theo dõi xa phát hiện thấy khớp giả CXQ, BN
vẫn sấp ngửa cẳng tay bình thường một phần nhờ
vào khớp giả. Năm 1999, Faraj A.A và cộng sự [3]
thông báo 3 BN gãy CXQ bị khớp giả. Khớp giả của
CXQ cũng hiếm khi biểu hiện triệu chứng và thường
không nhận ra. Faraj A.A đề nghị rằng khi theo dõi
44
thể giải phẫu, quan hệ giữa các diện khớp và kết hợp
xương bên trong vững chắc tạo điều kiện cho BN tập
vận động sớm là những yếu tố quan trọng nhất trong
quá trình liền xương và phục hồi tốt chức năng này.
Khả năng gấp duỗi của khớp khuỷu và sấp ngửa
cẳng tay còn phụ thuộc vào loại gãy. Gãy càng phức
tạp, kết hợp với gãy xương sai khớp khác vùng
khuỷu và có tổn thương hệ thống dây chằng bao
khớp thì khả năng phục hồi vận động càng kém. Sự
phục hồi vận động không đòi hỏi tuyệt đối mà theo
Morrey và cộng sự [10] thì trong sinh hoạt thường
ngày các động tác của khớp khuỷu chủ yếu ở biên độ
gấp duỗi 100º (30º đến 130º) và xoay cẳng tay 100º
(sấp 50º đến ngửa 50º) nên sẽ là chấp nhận được
kết quả phục hồi với tiêu chuẩn trên.
- Trong nghiên cứu chúng tôi thấy biên độ sấp
ngửa cẳng tay bị hạn chế nhiều hơn biên độ gấp duỗi.
Chỉ có 52,38% số BN được đánh giá kết quả xa có
biên độ sấp ngửa cẳng tay lớn hơn 100º. Trong đó bảo
tồn chỏm có trung bình góc sấp (36,7º) và trung bình
góc ngửa (63,57º) cao hơn nhóm lấy bỏ chỏm (29,58º
và 56,58º). Nhóm bảo tồn chỏm có 18/30 BN có biên
độ sấp ngửa cẳng tay lớn hơn 100º, trong khi đó nhóm
lấy bỏ chỏm chỉ có 4/12 BN có biên độ vận động S/N
cẳng tay lớn hơn 100º, mặc dù vậy trong sinh hoạt
hằng ngày nhờ sự phối hợp động tác xoay cánh tay
của khớp vai, mà các BN có biên độ S/N cẳng tay <

mất vững khớp khuỷu 41,66% cao hơn nhóm bảo tồn
16,66%. Thời gian theo dõi chưa đủ để đánh giá được
biến chứng vẹo khuỷu trong nhóm lấy bỏ chỏm tuy
nhiên cũng đã thấy góc mang trung bình của nhóm lấy
bỏ chỏm 7,17º cao hơn nhóm bảo tồn chỏm 5,43º có
ý nghĩa thống kê. Với 15 BN lấy bỏ chỏm và 13 BN
kết xương Ikeda M. cũng có kết quả góc mang tương
ứng là 8,2º và 1,5º không khác nhiều so với nghiên
cứu của chúng tôi. Chúng tôi không gặp trường hợp
nào trong nhóm lấy bỏ chỏm sai khớp quay trụ dưới
trong đánh giá kết quả xa.
KẾT LUẬN
- Kết quả gần:
+ Vết mổ liền kỳ đầu chiếm tỉ lệ cao (97,9%).
+ Có 26/31 BN (83,9%) sau phẫu thuật được
đánh giá là kết xương vững.
+ 1 BN (2,1%) nhiễm khuẩn nông vết mổ, liền vết
mổ kỳ 2. Không có biến chứng liệt nhánh vận động
thần kinh quay.
- Kết quả xa được đánh giá theo thang điểm
Broberg và Morrey:
+ Nhóm bảo tồn chỏm (n = 30): rất tốt 12 BN
(40,0%), tốt 13 BN (43,3%), trung bình 4 BN (13,3%),
xấu 1 BN (3,3%). Điểm trung bình 88,60.
+ Nhóm lấy bỏ chỏm (n = 12): rất tốt 1 BN (8,3%),
tốt 8 BN (66,7%), trung bình 2 BN (16,7%), xấu 1 BN
(8,3%). Điểm trung bình 82,2.
- Góc mang nhóm lấy bỏ chỏm (7,17  1,67º) lớn
hơn so với nhóm bảo tồn chỏm (5,43  0,41º) có ý
nghĩa thống kê (p < 0,05).

8. Ikeda M, Sugiyama K, Kang C et al (2006),
“Comminuted Fractures of the Radial Head: Comparison
of Resection and internal Fixation”, J Bone Joint Surg
Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014
45

am, 88, pp. 11-23.
9. Mathur N, Sharma C.S (1984), “Fracture of the
head of the radius treated by elbow cast”, Acta
orthopaedica, 55 (5), pp. 567-568.
10. Morrey B.F, Joaquin Sanchez - Sotelo (2008),
The elbow and its Disorders, 4th ed, elsevier.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status