NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
CÁ TRA Ở HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
iv
MỤC LỤC
Trang
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
CN – TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
CP Cổ phần
CSSX Cơ sở sản xuất
DN Doanh nghiệp
DT Diện tích
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐVT Đơn vị tính
KH Kế hoạch
KTNH Kinh tế nông hộ
NN & PTNT Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
PCGD Phổ cập giáo dục
TĐTT Tốc độ tăng trưởng
TT – TTTH Thu thập – tính toán tổng hợp
UBND Uỷ Ban Nhân Dân
XNK Xuất nhập khẩu
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Hiện Trạng Sử Dụng Đất Đai của Huyện Năm 2007 5
Bảng 2.2. Tình Hình Dân Số của Địa Phương Năm 2007 7
Bảng 2.3. Cân Đối Lao Động ở Địa Phương Năm 2007 8
Bảng 4.23. So Sánh Đặc Điểm 2 Loại Hình Tín Dụng 53
Bảng 4.24. Mục Đích Sử Dụng Vốn Vay của Những Hộ Nuôi Cá 53
Bảng 4.25. Nguồn Giống Cá Thả Nuôi của Các Hộ Năm 2007 54
Bảng 4.26. Tình Hình Sử Dụng Thức Ăn Cho Cá của Các Hộ Nuôi 55
x
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Hình Dáng Bên Ngoài Của Cá Tra 20
Hình 4.1. Diện Tích Nuôi Cá Tra của Huyện qua Các Năm 30
Hình 4.2. Sản Lượng Cá qua Các Năm của Huyện Châu Thành 30
Hình 4.3. Năng Suất Cá qua Các Năm của Châu Thành 31
Hình 4.4. Tỷ Trọng Kim Ngạch Xuất Khẩu Cá Tra của Châu Thành Năm 2007 40
Hình 4.5. Hệ Thống Kênh Phân Phối Sản Phẩm Cá Tra ở Châu Thành 41
Hình 4.6. Tỷ Lệ Tiêu Thụ Cá Tra của Châu Thành Năm 2007 41
Hình 4.7. Hệ Thống Thu Gom Sản Phẩm Cá Tra Nguyên Liệu ở Châu Thành 47
Hình 4.8. Sơ Đồ Ma Trận SWOT 57
xi
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Danh Sách Hộ Điều Tra
Phụ lục 2. Phiếu Điều Tra Nông Hộ
xii
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam hiện nay được các chuyên gia kinh tế đánh giá như một thị trường
đang nổi lên với những tiềm năng lớn trong tiến trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế
giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế và các kết quả đạt được trong những năm gần đây đã
thuyết phục được mọi người, kể cả những chuyên gia kinh tế khó tính nhất. Và ngành
thủy sản đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với kim
ngạch xuất khẩu tăng nhanh. Hoạt động xuất khẩu thủy sản bắt đầu từ những năm 80
phát theo quy luật thị trường, thiếu quy hoạch hợp lý, trong khi thị trường tiêu thụ chủ
yếu cho con cá tra hiện nay là xuất khẩu và với những biến động khó lường của tình
hình giá cả trên thị trường thế giới thì người đầu tư đang gặp phải rất nhiều rủi ro và
thách thức.
Trước tình hình thực tế của địa phương, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm
Khoa Kinh Tế cùng thầy Mai Hoàng Giang, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
Cứu Thực Trạng Sản Xuất Và Tiêu Thụ Cá Tra Tại Huyện Châu Thành Tỉnh Bến
Tre”. Qua đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nghề nuôi,
góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống nông dân, và mong muốn nghề nuôi cá tra ở
địa phương hướng tới phát triển bền vững.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và tìm ra những tồn tại khó khăn trong việc
sản xuất và tiêu thụ cá tra của huyện Châu Thành.
Mục tiêu cụ thể:
2
Nhận định tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra tại huyện qua các năm. Bên cạnh
đó, tìm hiểu và phân tích nguyên nhân ảnh hưởng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm
phát triển nghề nuôi cá tra tại địa phương.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Tại địa bàn các xã của huyện Châu Thành.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2008.
1.4. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Đặt vấn đề: Chương này nêu sự cần thiết của đề tài và mục đích
nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan: Trình bày tình hình tổng quan của địa bàn nghiên
cứu như điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên đất đai cũng như các chỉ tiêu thông
tin liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
Chương này nêu lên các khái niệm, đặc điểm và các phương pháp nghiên cứu, nội
dung tham khảo từ những tài liệu liên quan. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo
luận: Nhận định tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra của huyện, phân tích và xác định
14’23” – 10
o
20’18” vĩ độ Bắc.
c) Tổ chức hành chính
Huyện Châu Thành bao gồm 1 thị trấn (Châu Thành) và 22 xã (Tân Thạch,
Quới Sơn, An Khánh, Giao Long, Giao Hoà, Phú Túc, Phú Đức, Phú An Hoà, An
Phước, Tam Phước, Thành Triệu, Tường Đa, Tân Phú, Quới Thành, Phước Thạnh, An
Hóa, Tiên Long, An Hiệp, Hữu Định, Tiên Thuỷ, Sơn Hoà, Mỹ Thành).
2.1.2. Địa hình thổ nhưỡng
a) Địa hình
Theo kết quả chương trình điều tra tổng hợp vùng Đồng bằng sông Cửu Long,
huyện Châu Thành nằm trong vùng tam giác sông Tiền, bao gồm 2 dạng địa mạo: đê
sông Tiền và đê sông Hàm Luông (kể cả các cù lao), đồng bằng châu thổ giữa 2 sông.
Cao trình đất đai biến động phổ biến trong khoảng 0,8 – 1,5 m, trong đó vùng
ven sông Tiền có cao trình 1,0 – 1,2 m và có khuynh hướng cao dần hướng về phía
Đông (1,8 mét); vùng ven sông Hàm Luông 1,3 – 1,5 m; vùng đồng bằng giữa 2 sông
0,8 – 1,3 m.
Về địa chất, địa bàn được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích
biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50 mét có 2 loại trầm tích:
Holocene (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ).
b) Thổ nhưỡng
Quỹ đất đai hiện đang quản lý và sử dụng của Châu Thành thống kê năm 2007
như sau:
Bảng 2.1. Hiện Trạng Sử Dụng Đất Đai của Huyện Năm 2007
Khoản mục Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Đất nông nghiệp 16.472,31 71,50
Đất phi nông nghiệp 6.565,19 28,50
Đất chưa sử dụng 0,06 0,00
Tổng số 23.037,56 100,00
Nguồn: Niên giám thống kê Châu Thành 2007
độ triều dao động trong khoảng 1,89 – 2,59 m. Phần lớn địa bàn phía Tây của huyện
khá thuận lợi về thuỷ văn (không bị ảnh hưởng lũ, không nhiễm mặn và biên độ triều
thích hợp cho việc tưới tiêu tự chảy); địa bàn phía Đông bị ảnh hưởng mặn 1 – 3 tháng
vào mùa khô. Nhìn chung, điều kiện thuỷ văn tại địa bàn tương đối thuận lợi cho việc
thâm canh cây trồng, phát triển các loại hình sản xuất khác và sinh hoạt dân cư; đây
cũng là yếu tố tích cực bù vào hạn chế lượng mưa hơi yếu.
Đường bờ sông Tiền và sông Hàm Luông tương đối ổn định, cục bộ có một khu
vực nhỏ bị sạt lở tại Phú Đức, Tiên Long. Trong khoảng 2 năm 2004 – 2005, các biến
động thuỷ văn sau khi hình thành cống đập Ba Lai đã dẫn đến tình trạng sạt lở khá
nghiêm trọng trên kênh Giao Hoà tại An Hoá.
6
Về địa chất thuỷ văn, nước ngầm tầng sâu bao gồm phức hệ chứa nước
pleiocene (290 – 350 m), trữ lượng tiềm năng 74.368 m
3
/ngày đêm, trữ lượng khai
thác công nghiệp 10.500 m
3
/ngày đêm; phức hệ chứa nước miocene (410 - 440 m), trữ
lượng tiềm năng là 26.507 m
3
/ngày đêm.
2.1.5. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Châu Thành không dồi dào, chỉ bao
gồm cát san lấp (Phú Đức, Phú Túc, Tân Phú) và một số sét có khả năng làm gạch
ngói (Sóc Sải).
2.1.6. Tài nguyên sinh vật
Về tài nguyên sinh vật, đáng chú ý nhất là tài nguyên thuỷ sinh vùng nước ngọt
và ngọt pha lợ trên các thuỷ vực sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai tương đối
đa dạng.
2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
đó số lao động có việc làm là 100.037 người, còn lại là đối tượng khác, chủ yếu là học
sinh sinh viên. Nhìn chung, nền kinh tế Châu Thành còn nặng về cơ cấu nông nghiệp.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động trong độ tuổi lao động tương đối thấp
(<50%), cho thấy nhân dân trong huyện đa số còn sống bằng nghề nông với cường độ
lao động thấp, phần lớn đi làm lao động giản đơn ở nơi khác. Nhờ vậy nạn thất nghiệp
trên địa bàn huyện được giải quyết khá tốt, trong năm 2007 địa phương đã giải quyết
việc làm cho 4.035 lao động. Trong khi đó, khu vực nông thôn của toàn huyện phát
triển nông nghiệp sinh thái đa dạng trên nền trái cây đặc sản, rau màu thực phẩm, chăn
nuôi, thủy sản cần phải gắn liền với bảo quản, sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Dân số địa phương khá dồi dào về số lượng, năng động, hiếu học, nhưng hiện nay
trình độ chuyên môn còn thấp (tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 35% trong tổng số lao
động), nếu được đào tạo liên tục trong những năm tới sẽ là nguồn nhân lực nòng cốt
cho chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2.2.2. Cơ sở hạ tầng
Giao thông: Xây dựng 95 km đường giao thông (trong đó nhựa – bê tông 27
km, đá dăm 68 km) và 58 cây cầu bê tông cốt thép với tổng chiều dài 872 m, với tổng
kinh phí 5,844 tỷ đồng, trong đó vốn trung ương 157 triệu đồng, vốn huyện 811 triệu
đồng, nhân dân đóng góp 4,093 tỷ đồng, vốn khác 783 tỷ đồng.
Điện sinh hoạt: Sửa chữa các trạm hạ thế 25 KVA tuyến Hữu Định - Phước
Thạnh; trạm 37,5 KVA nhánh rẽ Sơn Hoà; trạm 37,5 KVA An Hoá. Cải tạo nâng cấp
26 lưới điện hạ thế. Xử lý 16 trường hợp vi phạm hành lang an toàn lưới điện. Khảo
8
sát, xây dựng hoàn chỉnh dự án lưới điện phân phối nông thôn cho 12 xã trên địa bàn
huyện. Tổng số hộ sử dụng điện 39.156 hộ, đạt 95,1% so với tổng số hộ.
Nước sinh hoạt: Dự án nhà máy nước sạch nông thôn do ngân hàng WB đầu tư
ở Tiên Thủy xây dựng hoàn thành chờ nghiệm thu đưa vào sử dụng. Ban quản lý khai
thác và cung cấp nước sinh hoạt huyện xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng hệ
thống lọc ở trạm Thị Trấn, hoàn chỉnh hệ thống khai thác nước mặt trạm An Hiệp, lắp
đặt mới 21.900 m ống cấp nước, lắp mới 585 hộ sử dụng nước, luỹ kế 4.245 hộ sử
dụng. Tổng số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh toàn huyện là 27.165 hộ/40.641 hộ, chiếm
Văn hóa thông tin: Tổ chức tốt các hoạt động thông tin tuyên truyền, phục vụ
văn nghệ ca nhạc và ca nhạc tài tử Hội xuân 2007, chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn
trong năm. Tham dự 04 hội thi cấp tỉnh đạt 01 giải II toàn đoàn, 01 giải III đồng đội,
08 giải khuyến khích, 05 giải A và 03 giải B, tổ chức 06 hội thi cấp huyện đạt chỉ tiêu
kế hoạch đề ra. Duy trì hoạt động của các lớp năng khiếu, các câu lạc bộ. Tổ chức
thành công lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương lần thứ I; tuyên truyền phục vụ bầu cử đại biểu
Quốc hội khoá XII.
Y tế: Trên địa bàn huyện hiện có 02 bệnh viện và 29 trạm xá, ước đến cuối năm
khám chữa bệnh được 178.899 lượt người đạt 178,89% so chỉ tiêu năm; tiêm chủng
mở rộng đạt 81% so KH năm (do vaccin cung cấp từ trên chưa đáp ứng). Các chương
trình y tế quốc gia đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Kiểm tra vệ sinh môi trường và vệ sinh
thực phẩm 1.782 cuộc đạt 178,2% so KH, xử lý 684 trường hợp vi phạm. Kiểm tra liên
ngành, tháng hành động ATVSTP 34 cuộc, xử lý 30 trường hợp. Đảm bảo 23/23 xã,
thị trấn có bác sĩ đạt 100%. Có 19/23 xã có y tế ấp (trừ Tiên Long, An Khánh, Giao
Hoà và thị trấn Châu Thành) cuối năm đạt thêm 01 xã (Giao Hoà); số ấp có y tế ấp
58/114 đạt 50,87% so KH. Tình nguyện viên sức khỏe cộng đồng ở tổ NDTQ, so KH
đạt 68,96%.
Giáo dục – đào tạo:
Bảng 2.4. Tình Hình Giáo Dục của Địa Phương Năm 2007
Khoản mục ĐVT Mầm non Tiểu học THCS THPT
Số trường học trường 24 25 17 5
Số lớp học lớp 113 336 232 117
Số học sinh học sinh 3.430 9.518 8.609 4.783
Số giáo viên giáo viên 127 510 518 188
Nguồn: Niên giám thống kê Châu Thành 2007
10
Nhìn chung, hệ thống giáo dục và mạng lưới trường lớp tại địa phương tương
đối đầy đủ, thực hiện tốt chương trình nhiệm vụ năm học 2007 – 2008, giảm tỷ lệ học
sinh bỏ học ở tiểu học còn 0,05%, giảm được 0,75% so KH, học sinh cấp II là 1,98%
so với KH. 23/23 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ
tăng thu nhập trên đơn vị diện tích trồng dừa. Và lũy kế toàn huyện, cây ca cao được
trồng trên diện tích 1.864 ha, trong đó diện tích cho trái là 900 ha, sản lượng trái tươi
3.240 tấn; diện tích cây ăn quả là 9.398 ha, với sản lượng 101.798 tấn. Huyện đã xây
dựng được vùng chuyên canh cây ăn quả ở các xã Tân Phú, Tiên Long, Phú Đức, Quới
Thành, ngoài ra còn xây dựng được vùng chuyên canh cây mận An Phước tại xã Phú
Túc. Chăn nuôi chiếm 10,2% giá trị sản xuất nông nghiệp với 2 con chủ lực là heo và
gia cầm. Trong đó, đàn bò 6.154 con, đàn dê 8.700 con, đàn heo 24.659 con; đàn gia
cầm tổng đàn hiện có 409.518 con, tăng 38.235 con so với cùng kỳ.
Lâm nghiệp: Trên địa bàn huyện Châu Thành bao gồm rừng bần dọc các cồn
và bãi bồi, các cây phân tán được trồng trong các vườn tạp, dọc đường giao thông
chính, lộ đê, chung quanh nhà ở, khu vực đô thị, các công trường công cộng,… nhằm
bảo vệ cồn bãi, tạo bóng mát, cải tạo cảnh quan môi trường, hàng năm bình quân
khoảng 150.000 – 216.000 cây phân tán. Sản lượng khai thác ước khoảng 1.916 m
3
gỗ,
2.236 cm củi các loại và 2.594 tàu lá dừa nước.
Thủy sản: Trong năm 2007 tình hình sản xuất thủy sản của huyện đạt và vượt
chỉ tiêu kế hoạch do giá cả hàng thủy sản ổn định, một số nông dân mạnh dạn chuyển
đổi khu đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi thủy sản theo hình thức công
nghiệp (tập trung ở những vùng bãi bồi) và nuôi cá lồng bè khu vực xã Tân Thạch đã
góp phần tăng nhanh sản lượng thủy sản. Sản xuất giống tôm càng xanh và sản xuất cá
giống ổn định, sản lượng tăng do các trại sản xuất tích lũy kinh nghiệm và áp dụng
đúng các quy trình kỹ thuật; trại sản xuất tôm càng xanh tại vườn giống An Hiệp còn
là nơi tập huấn kỹ thuật cho các kỹ thuật viên của tỉnh.
- Nuôi thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Châu
Thành thực hiện đến cuối năm 2007 là 1.073 ha, đạt 102,19% so với kế hoạch. Trong
đó diện tích nuôi tôm càng xanh là 279,46 ha, đạt 79,84% so với kế hoạch; nuôi cá
794,37 ha, đạt 113,48% so với kế hoạch, còn lại là diện tích nuôi thủy sản khác. Diện
tích nuôi cá công nghiệp 115,91 ha, đạt 178,32% so kế hoạch; nuôi cá lồng bè 68 lồng
với thể tích 9.639 m3, đạt 183,72% so kế hoạch, tập trung tại xã Tân Thạch, Phú Túc,
phí thực hiện ước 540 triệu đồng. Công nhận chợ Phú Mỹ - Phú Túc, chợ Giao Long
đạt tiêu chí văn minh, đạt 66,6% so KH.
13
Du lịch: Toàn huyện có 26 điểm kinh doanh du lịch sinh thái (tăng 01 điểm so
cùng kỳ). Tổng doanh thu toàn ngành du lịch là 16,3 tỷ đồng, đạt 105,16% so KH,
tăng 16,43% so cùng kỳ. Có 385.000 lượt khách, đạt 100% so KH, tăng 23% so cùng
kỳ, trong đó có 260.000 lượt khách quốc tế, tăng 29,94% so cùng kỳ.
2.3.2. Định hướng phát triển đến năm 2020
Phương hướng nhiệm vụ: Từ nay đến năm 2020, nền kinh tế của huyện Châu
Thành phát triển với tốc độ nhanh, bền vững, có hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực
cạnh tranh của tỉnh trên thị trường trong nước và quốc tế; chuyển dịch nhanh cơ cấu
kinh tế theo hướng hoàn chỉnh nông nghiệp kỹ thuật cao – thương mại dịch vụ và công
nghiệp (2006 – 2015), và thương mại dịch vụ - công nghiệp và nông nghiệp kỹ thuật
cao (2016 – 2020), góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
toàn tỉnh Bến Tre.
Phân vùng vùng lãnh thổ: Với định hướng phát triển kinh tế xã hội tổng hợp
như trên, phân vùng vùng lãnh thổ từ nay đến năm 2020 như sau:
- Vùng I (vùng phía Tây): diện tích 12.680 ha, chiếm 55,1% diện tích tự nhiên
(không kể sông rạch), là vùng trọng điểm phát triển kinh tế vườn kết hợp kinh tế du
lịch sinh thái ven sông Tiền và sông Hàm Luông, khu du lịch Cồn Tiên, công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp phát triển theo hướng chế biến nông sản, hình thành cụm công
nghiệp Tân Phú; có các chợ vựa trung chuyển nông sản và phục vụ du lịch. Trung tâm
của vùng là Hàm Long (đô thị loại 5) và các đô thị vệ tinh Tân Phú (đô thị loại 5),
Thành Triệu.
- Vùng II (vùng phía Đông): diện tích 10.310 ha, chiếm 44,9% diện tích, là
vùng trọng điểm kinh tế công nghiệp – thương nghiệp và dịch vụ, hình thành khu công
nghiệp tập trung tại Giao Long, chợ vựa nông sản đầu mối tại Tân Thạch; kết hợp từng
bước kinh tế vườn và du lịch trên sông; đẩy mạnh phát triển du lịch tại Cồn Phụng,
Cồn Quy và các xã ven sông Tiền. Trung tâm của vùng là thị trấn Châu Thành và các
đô thị vệ tinh Tân Thạch (đô thị loại 5), thị tứ Giao Long, đô thị công nghiệp An
cao, cá tra nuôi trong ao đạt tới 200 – 300 tấn/ha, cá tra và ba sa nuôi trong bè có thể
đạt tới 100 – 300 kg/m
3
bè. Trong năm 2002, chỉ tính riêng 2 tỉnh An Giang và Đồng
Tháp, sản lượng cá tra, ba sa nuôi đã đạt 180.000 tấn.
2.4.2. Ở ĐBSCL
Từ nửa đầu thế kỷ 20, nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở ĐBSCL. Tài
liệu thống kê của tỉnh An Giang cho thấy năm 1985 có hơn 90% diện tích ao nuôi cá ở
15
nông thôn của tỉnh lúc bấy giờ là cá tra. Có lẽ do An Giang là một trong 2 tỉnh (cùng
Đồng Tháp) có nguồn cá tra giống phong phú vớt trên sông và nghề cá tra giống phát
triển nhất trong cả nước.
Tài liệu của Ủy hội sông Mê Kông cũng đề cập về hiện trạng nuôi cá tra ở miền
Nam Việt Nam những thập niên 50 – 70. Nuôi cá tra truyền thống và ghép với một số
loài cá khác, người dân thu hoạch cá thường vào cuối năm hoặc những tháng mùa khô.
Từ những năm 1970 về trước, khi còn hạn chế về kỹ thuật nuôi, về con giống và tập
quán nuôi, thì nghề nuôi cá còn mang tính chất đơn điệu với đối tượng nuôi chủ yếu là
cá tra, còn các đối tượng khác thì rất ít. Do đặc tính chịu đựng được môi trường khắc
nghiệt nên người nuôi cá tra không cần phải đào ao lớn mà nuôi vẫn có kết quả.
Trong khi đó, nghề nuôi cá bè có lẽ bắt nguồn từ Biển Hồ (Tonlesap) của
Campuchia được một số kiều dân Việt Nam hồi hương áp dụng khởi đầu từ vùng Châu
Đốc, Tân Châu thuộc tỉnh An Giang và Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp vào khoảng
cuối thập niên 50 thế kỷ trước. Dần dần nhờ cải tiến và bổ sung kinh nghiệm cũng như
kỹ thuật, nuôi cá bè đã trở thành một nghề hoàn chỉnh và vững chắc. ĐBSCL có hơn
một nửa số tỉnh nuôi cá bè, nhưng tập trung nhất vẫn ở hai tỉnh An Giang và Đồng
Tháp, với hơn 60% số bè nuôi và có năm đã chiếm tới 76% sản lượng nuôi cá bè của
toàn vùng.
Nguồn giống cá tra trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào việc vớt trong tự nhiên.
Hàng năm vào khoảng đầu tháng năm âm lịch, khi nước mưa từ thượng nguồn sông
Mê Kông bắt đầu đổ về thì ngư dân vùng Tân Châu (An Giang) và Hồng Ngự (Đồng
dịch bệnh.
Ngoài ra, ngành thủy sản còn tăng cường công tác tập huấn kỹ thuật cho người
dân nhằm nâng cao kiến thức về chăm sóc quản lý cá nuôi, mật độ thả nuôi phù hợp và
bảo vệ môi trường, thành lập liên hiệp sản xuất cá tra bền vững, tổ chức liên kết cung
ứng giống cá có chất lượng với các tỉnh An Giang, Đồng Tháp để chọn giống tốt về
thả nuôi tại Bến Tre.
Riêng ở Châu Thành, hàng năm, huyện khai thác khoảng 1.200 ha đất bãi bồi
và diện tích mặt nước ven sông để nuôi thủy sản. Nghề nuôi cá tra đã góp phần tận
dụng tiềm năng diện tích những vùng cồn xung yếu, đất bãi bồi, những nơi không thể
khai thác hiệu quả từ việc trồng cây ăn trái. Nếu như trước đây chỉ nuôi theo hình thức
bán công nghiệp và nuôi thử thì từ đầu năm 2007 đến nay, việc nuôi cá tra đã phát
17
triển theo hình thức công nghiệp. Từ đó, góp phần tăng sản lượng, giải quyết vấn đề
khan hiếm nguyên liệu cho thị trường tiêu dùng và xuất khẩu.
2.4.4. Những thuận lợi và khó khăn chủ yếu trong nghề nuôi cá tra ở Châu Thành
Thuận lợi: Nghề nuôi cá tra của địa phương đang có xu hướng phát triển mạnh;
nguồn nước nuôi có khả năng đáp ứng đầy đủ thông qua các hồ chứa, hệ thống kênh
mương thủy lợi; giao thông đường thủy, bộ thuận lợi; điều kiện tự nhiên phù hợp với
môi trường sống của cá; người nuôi có kinh nghiệm và dễ dàng áp dụng tiến bộ kỹ
thuật mới trong nuôi trồng thủy sản.
Khó khăn: Chưa chủ động về con giống do trên địa bàn huyện chưa có trung
tâm sản xuất giống, tỷ lệ hao hụt cao do chất lượng giống không đảm bảo; trình độ
thâm canh còn thấp nên năng suất chưa cao; chưa có vùng nuôi cá tập trung, diện tích
nuôi chưa được quy hoạch cụ thể, phong trào nuôi tự phát là chủ yếu nên dễ dẫn đến
nguồn nước bị ô nhiễm, dịch bệnh cho ao nuôi, gây ra thiệt hại cho người đầu tư.
Nguồn vốn còn hạn chế nên chưa được đầu tư đúng mức đối với các hộ nuôi cũng như
DN chế biến cá tra. Cạnh tranh thương mại và những rào cản kỹ thuật, thị trường thế
giới đang đặt ra các tiêu chuẩn rất cao cho cá tra xuất khẩu.
18