Hồ chí minh với vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn - Pdf 30

ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CỦA NGƯỜI
VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
Ở HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bác Hồ Chí Minh – Người cha già của dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại của
Đảng và nhân dân ta, người chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, danh nhân văn
hoá thế giới. Trước khi qua đời, Người đã để lại cho Đảng và nhân dân ta di
sản lý luận vô cùng quý giá, thật sự là nguồn trí tuệ to lớn soi sáng công
cuộc đổi mới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta,
2
kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế được hình thành rất sớm - từ đầu
những năm 20 của thế kỷ XX. Mặc dù không có một tác phẩm riêng biệt

của dân tộc ta, và đó là sự cụ thể hóa, Việt Nam hóa quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về vấn đề nông nghiệp, nông thôn. Những quan điểm và
3
phương pháp tư duy của Người vẫn đúng, hoàn toàn có thể tiếp thu và vận
dụng vào phát triển nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta. Vì những
lẽ đó tôi chọn đề tài:“Hồ Chí Minh với vấn đề phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn và vận dụng tư tưởng của Người vào phát triển kinh
tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trong giai
đoạn 2000-2010” để làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ sau Đại hội VII của Đảng đến nay, đề tài về tư tưởng Hồ Chí
Minh đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các cơ quan, ban ngành
và các nhà khoa học trong và ngoài nước. Liên quan đến nội dung đề tài
nghiên cứu hiện nay đã có một số công trình chủ yếu được công bố như :
- “Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” của TS Phạm
Ngọc Anh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003.
- “Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh với xây dựng nền kinh tế định hướng
XHCN ở Việt Nam hiện nay” của TS Nguyễn Huy Oánh, Nxb CTQG, Hà
Nội năm 2004.
- “Phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá
và hiện đại hoá ở Việt Nam” Nguyễn Văn Bích - Chu Tiến Quang, Nxb
Nông nghiệp, năm 1999.
- “Nông nghiệp các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong những năm
đổi mới” của TS Trương Minh Dục, Nxb Đà Nẵng năm 2006.
-“Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa nông nghiệp với công
nghiệp” của Hà Lệ Hằng đăng trên Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 2, năm
2004.
→( Nội dung chủ yếu của các đề tài trên là: nghiên cứu một số nội
dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh

tầm quan trọng của sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong tư
tưởng Hồ Chí Minh.
- Trình bày và làm sáng tỏ những tư tưởng chủ đạo của Hồ Chí Minh về
phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật, thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, về phát triển kinh tế tập thể, xã
hội hoá nông nghiệp, xây dựng quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp.
- Phân tích, đánh giá quá trình vận dụng những tư tưởng chủ đạo của
Hồ Chí Minh về phát triển sản xuất nông nghiệp ở huyện Hương Sơn, tỉnh
Hà Tĩnh nói riêng, khẳng định những thành tựu đã đạt được, chỉ rõ hạn chế
và nguyên nhân của những tồn tại yếu kém trong việc vận dụng những tư
tưởng đó ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua.
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ yếu để tiếp tục quán
triệt sâu sắc và vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh vào thúc đẩy sản xuất
nông nghiệp của huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh phát triển, chuyển dịch
mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Triết
học, khóa luận tập trung nghiên cứu những tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về nông nghiệp và tình hình vận dụng những tư tưởng đó vào
thực tiễn sản xuất nông nghiệp ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trong thời
gian từ 2000 – 2010
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa vào phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, chủ yếu là sử dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học,
phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử, phân tích, tổng hợp và thống kê đối
chiếu thực tế và kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác.
Nguồn tài liệu chủ yếu được sử dụng trong khóa luận là các tác phẩm
kinh điển Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh, văn kiện của Đảng, các
tác phẩm tiêu biểu các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các tác phẩm

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế được hình thành rất sớm - từ đầu
những năm 20 của thế kỷ XX. Mặc dù không có một tác phẩm riêng biệt
nào tập trung nói về tư tưởng kinh tế, nhưng thông qua các bài viết, phát
biểu, nói chuyện của Người đã thể hiện nhiều luận điểm sâu sắc về kinh tế,
đặc biệt là về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
là sự cụ thể hóa, Việt Nam hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về
vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn.
Xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
khẵng định: Sản xuất nông nghiệp là cơ sở của xã hội và là tiền đề của lịch
sử. Vì thực tiễn đã chứng minh “nếu không có một năng suất nào đó của lao
động thì sẽ không có một thời gian nhàn rỗi như thế cho người lao động;
nếu không có một thời gian dôi ra như thế, thì cũng không có lao động
thặng dư, và do đó cũng không có nhà tư bản”[21;722]; “Năng suất lao động
nông nghiệp vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của mọi
xã hội”[22;409]; Năng suất lao động nông nghiệp là cái cơ sở tự nhiên
không phải chỉ riêng cho lao động thặng dư trong lĩnh vực của bản thân
ngành nông nghiệp mà còn là cái cơ sở tự nhiên để biến tất cả các ngành lao
động khác thành những ngành độc lập và do đó là cái cơ sở tự nhiên cho giá
trị thặng dư được tạo ra trong các ngành đó; Bất cứ giá trị thặng dư nào
cũng thế, cả tương đối lẫn tuyệt đối, đều dựa vào năng suất lao động nhất
định nào đó. Năng suất lao động ấy, mức năng suất ấy được dùng làm điểm
xuất phát phải có trước hết là trong lao động nông nghiệp [22;490 - 491].
Và khi bàn về vai trò của sản xuất của cải vật chất là cơ sở của sự tồn
tại và phát triển xã hội loài người, Ph.Ănghen đã khẳng định: “Trước hết
con người cần phải có ăn, uống, ở, mặc, trước khi lo đến chuyện làm chính
trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo…” [18;264]. Đúng vậy, xã hội ngày
7
càng phát triển thì nhu cầu của con người về sản phẩm thiết yếu được sản
xuất ra từ nông nghiệp ngày càng tăng và đa dạng, phong phú. Vì vậy, phải

sắc nhất và có những bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đồng thời đây cũng là
vấn đề được Người vận dụng phù hợp vào điều kiện cụ thể của Việt Nam,
đem lại nhiều thành công rực rỡ trong hoạt động thực tiễn lúc sinh thời,
8
trong cả hai giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã
hội chủ nghĩa.
Cũng chính trên vấn đề này, lịch sử từ thập kỷ 20 của thế kỷ XX cho
đến nay đã kiểm chứng và cho phép đánh giá sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí
Minh so với nhiều lãnh tụ cách mạng cùng thời.
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
bắt nguồn từ thực tiễn hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta. Các nhà khảo cổ, nông học đều nhất trí cho rằng Việt Nam là một
trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước. Các sưu tập trống đồng cho
ta nhiều họa tiết có liên quan về cây lúa trong đời sống dân cư cổ. Sách
“Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn đã thống kê: Riêng ở đồng bằng Bắc
Bộ có tới 32 giống lúa tẻ và 29 giống lúa nếp, vùng Thuận Quảng có 23
giống lúa tẻ và 5 giống lúa nếp… Trong thời kỳ phong kiến, nhất là triều đại
nhà Trần, nhà Lê đã rất quan tâm đến vấn đề phát triển nông nghiệp, đê
điều, thủy lợi… vì vậy trong dân gian ngày hội mùa hay lễ mừng cơm mới ở
đâu cũng là những ngày hội vui nhất trong năm. Nhưng dưới sự thống trị
của phong kiến, đế quốc cái đói vẫn thường xuyên đe dọa cuộc sống của số
đông dân cư là nông dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ “đồng bào nông thôn đóng góp nhiều nhất cho kháng chiến, hy sinh
nhiều nhất cho Tổ quốc. Thế mà đồng bào nông dân lại là những người
nghèo khổ nhất, vì họ thiếu ruộng” [25;587] . Cho nên khi trở thành vị đứng
đầu nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu chương trình hành động đầu
tiên của Chính phủ là cứu đói và tăng gia sản xuất; tấm bằng khen đầu tiên
được dành cho thành tích giữ đê chống lụt; những sắc lệnh đầu tiên là bãi bỏ

thành phần kinh tế nông thôn cũng bị tàn phá ghê gớm. Và còn ảnh hưởng,
kéo dài tới nền kinh tế nông thôn nước ta hiện nay. Phát triển nông nghiệp,
nông thôn được Đảng và Nhà nước đưa lên vị trí hàng đầu trong đường lối
chiến lược phát triển kinh tế đất nước vì hôm nay ở nước ta nông nghiệp vẫn
còn chiếm bộ phận lớn, trong nền kinh tế sản xuất nhỏ lại chiếm bộ phận lớn
trong nông nghiệp. Vì nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên
liệu đồng thời là nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu
thụ to lớn nhất hiện nay, cho nên cần cải tạo và phát triển nông nghiệp thì
mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác. Phải cải tạo và phát triển
nông thôn – nông nghiệp để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hoá nước
nhà. Phải có nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới có thể phát
triển mạnh.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2002 Đảng ta vẫn coi
phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở của tăng trưởng kinh tế ổn định
xã hội và nâng cao đời sống nhân dân, là điều kiện không thể thiếu được
trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Nông nghiệp, nông thôn là khu vực đặc biệt của nền kinh tế. Sự phát
triển của khu vực này có vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công
10
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Vậy nông nghiệp, nông thôn là gì? Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát:
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà
con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo
ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình như lương thực, thực phẩm…
Nông nghiệp theo nghĩa rộng cũng bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp.
Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất
nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, kinh tế nông thôn là một khu vực của nền
kinh tế gắn với địa bàn nông thôn. Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật, kinh tế
nông thôn bao gồm nhiều ngành kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… Xét về mặt kinh tế - xã hội, kinh tế nông

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nông nghiệp, nông dân,
nông thôn có một vị trí quan trọng trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội
của đất nước.
Nhận thức hoàn cảnh Việt Nam là nước thuộc địa lạc hậu, khoảng 90%
dân số là nông dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ “đặc điểm to nhất của nước ta trong
thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Từ đặc
điểm đó, nỗi bận tâm lớn nhất và xuyên suốt của Hồ Chí Minh là không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Theo Người,
“chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi, mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự
do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ”. Theo Người, trách nhiệm của Đảng và Chính
phủ rất lớn: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi”. Vì vậy, Đảng và
Chính phủ phải thực hiện ngay “ làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc.
Làm cho dân có chổ ở. Làm cho dân có học hành”.
Nói chuyện ở hội nghị sản xuất cứu đói, Hồ Chí Minh dẫn tục ngữ:
“Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là
không có trời. Lại có câu: “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có
ăn thì chẳng làm được việc gì cả. Đó là hai câu tục ngữ - một của Trung
Quốc, một của Việt Nam. Giải thích hai câu đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hai
câu tuy đơn giải nhưng rất đúng lẽ. Muốn nâng cao đời sống của nhân dân
thì trước hết phải giải quyết vấn đề ăn (rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề
khác). Muốn giải quyết vấn đề ăn thì phải làm thế nào cho có đầy đủ lương
thực. Mà lương thực là do nông nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, phát triển nông
nghiệp là cực kỳ quan trọng” [28;379].
Vấn đề nông nghiệp theo Hồ Chí Minh không chỉ là giải quyết vấn đề
lương thực, nâng cao đời sống vật chất, mà còn liên quan, tác động sâu sắc
tới đời sống tinh thần, là gốc rễ của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người viết:
“Phải rất chú ý tăng gia sản xuất. Các cô, các chú có khi vì công tác, vì điều
kiện, vì trình độ một phần nên chưa nghiên cứu được về chủ nghĩa Mác -

thôn mới.
Sau khi giành được thắng lợi trong thời kỳ khôi phục kinh tế (1955 -
1957), Đảng ta và Bác Hồ chủ trương cải tạo và phát triển nông nghiệp theo
hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là khâu chính để tạo điều kiện cho công
nghiệp hóa; đồng thời cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các ngành kinh tế
khác. Để thực hiện chủ trương đó trong lĩnh vực nông nghiệp, Hồ Chí Minh
quan tâm tới việc xây dựng nông thôn mới với một số biện pháp gắn bó chặt
chẽ với nhau.
13
Thứ nhất, “Điều quan trọng bậc nhất hiện nay để phát triển mạnh nông
nghiệp là chỉnh đốn các ban quản trị hợp tác xã cho thật tốt” [28;544]. Hồ
Chí Minh coi cái chìa khóa của việc phát triển nông nghiệp là chỉnh đốn tốt
ban quản trị hợp tác xã. Ban quản trị tốt thì hợp tác xã tốt. Hợp tác xã tốt thì
nông nghiệp nhất định phát triển tốt.
Chỉnh đốn ban quản trị là chỉnh đốn từ tư tưởng, tổ chức đến năng lực
chuyên môn và đạo đức cách mạng. Hoạt động của ban quản trị phải xác
định vì đời sống của nông dân. Cho nên phải công bằng, dân chủ, vô tư,
khéo tổ chức, khéo lãnh đạo. Mọi việc phải bàn với xã viên; sổ sách, tiền
của phải rõ ràng, minh bạch. Ban quản trị phải chống tham ô, lãng phí, quan
liêu, phải đoàn kết chặt chẽ trong hợp tác xã, làm tốt công tác cải tiến quản
lý, cải tiến kỷ thuật và không ngừng nâng cao trình độ chính trị và văn hóa
cho cán bộ và xã viên. Xây dựng hợp tác xã thì không được cưỡng ép; phải
làm cho mọi gia đình trong hợp tác xã đều có lợi; tổ đổi công hoặc hợp tác
xã thì phải có tổ trưởng hoặc phải có quản trị. Quản trị phải dân chủ. Việc
làm phải bàn bạc với nhau. Phải tổ chức thi đua để ích nước, lợi nhà.
Thứ hai, cần phải ra sức củng cố chi bộ ở nông thôn. Chi bộ, ban quản
trị, xã viên có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau. Chi bộ tốt
thì ban quản trị mới tốt. Ban quản trị tốt thì xã viên mới đoàn kết và hăng
hái sản xuất, hợp tác xã mới được củng cố và phát triển tốt.
Theo Hồ Chí Minh, việc gì cũng phải có lãnh đạo mới thành công.

nếu ban quản trị - những người do xã viên lựa chọn bầu ra – không làm tròn
nhiệm vụ, thì xã viên có quyền cách chức. Như vậy dân chủ ở nông thôn là
một động lực để phát triển nông nghiệp.
Thứ tư, để phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ, vững
chắc phải cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật. Việc làm này bao
gồm cả nội dung tư tưởng, tổ chức và kỹ thuật. Và để làm tốt, cần huy động
trí tuệ và lực lượng của mọi người, từ các cụ phụ lão, chị em phụ nữ đến
toàn thể cán bộ và xã viên hợp tác xã. Cán bộ kỹ thuật và các ngành phải
giúp đỡ. Các cấp ủy đảng phải lãnh đạo. Đảng viên, đoàn viên thanh niên
phải xung phong, gương mẫu. Đây là một việc làm cần thiết. Nhưng muốn
có hiệu quả thì phải đi sâu đi sát, điều tra nghiên cứu, vừa làm vừa rút kinh
nghiệm, làm đến đâu cần phải tốt và chắc chắn đến đó, tuyệt đối tránh làm
ẩu, nóng vội qua loa.
Tóm lại trên cơ sở nhận thức những vấn đề của một xã hội nông nghiệp
phương Đông, và từ kinh nghiệm giải quyết trong cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân, ngay khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, Hồ Chí Minh tập trung nhiều công sức, tâm huyết để giải quyết vấn đề
nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hồ Chí Minh có một tầm nhìn toàn diện
và sâu sắc vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Lý luận và thực tiễn về
vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã
đem lại thành quả quan trọng trong xây dựng hậu phương miền Bắc, góp
15
phần tạo sức mạnh to lớn trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất
Tổ quốc.
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành trung ương khóa X (5 - 8 - 2008) về
nông nghiệp, nông dân nông thôn coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn có
vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã
hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ
gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất

Thứ nhất, có ngành trồng trọt phát triển toàn diện, bao gồm cả trồng
cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lấy gỗ.
Về trồng cây lương thực, tập trung phát triển cây lương thực, vì nó giải
quyết nhu cầu cấp thiết về “cái ăn” cho đồng bào. Trong các cây lương thực,
Người nói nhiều đến việc trồng lúa, coi cây lúa là chính, song Người cũng rất
chú trọng các loại cây hoa màu khác để tạo điều kiện phát triển chăn nuôi.
Bởi vì hoa màu không những là cây lương thực quý của người, mà còn dùng
làm thức ăn cho gia súc, gia cầm; thiếu hoa màu chăn nuôi sẽ kém phát triển.
Người coi trọng cây hoa màu đến mức dành hẳn một số bài báo đăng trên
Báo Nhân Dân để cổ động, khuyến khích bà con nông dân trồng cây hoa
màu.
Về trồng cây công nghiệp, khi đi thăm và chỉ đạo phát triển sản xuất
nông nghiệp ở các tỉnh Tuyên Quang, Hưng Yên, Hà Đông, Nghệ An,
Thanh Hoá, Người yêu cầu cần phải chú ý phát triển cây công nghiệp, bởi
vì cây công nghiệp không đạt được kế hoạch thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
sản xuất công nghiệp. Trong các cây công nghiệp, Người rất quan tâm đến
cây bông, cây dâu tằm, vì đây là những cây nguyên liệu làm sợi cho ngành
dệt vải, giải quyết “cái mặc” cho đồng bào. Sau cây bông, cây dâu tằm
Người còn nói nhiều đến cây cà phê, cây lạc, cây vừng, cây mía, cây
chè, vì nước ta có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cho các loại cây
này phát triển, đồng thời đó là những cây vừa cho hiệu quả kinh tế cao, vừa
là nguồn hàng xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ và máy móc.
Về trồng cây ăn quả, Người rất chú ý đến đời sống nông dân, khi đến
những nơi có điều kiện, Người đều nhắc nhở trồng cây ăn quả. Người quan
tâm đến từng chi tiết đối với người lao động, Người còn nhắc đến cả việc
trồng ớt để ăn.
Về trồng cây lấy gỗ, đối với nông dân ở đồng bằng Người động viên
phải ra sức trồng cây, vì sau này không những sẽ có đủ gỗ làm nhà, đóng
giường, bàn ghế, làm nông cụ, mà còn góp phần làm cho nước ta phong
cảnh ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn. Đối với thanh niên Người

chấm dứt tình trạng khai thác rừng bừa bãi.
Thứ tư, có ngành thuỷ, hải sản phát triển. Nước ta có tiềm năng thế
mạnh về biển, do đó Người động viên nhân dân cần phải ra sức đẩy mạnh
nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển mạnh các
nguồn lợi hải sản. Nước ta người nông dân vốn sống chủ yếu bằng nghề
trồng cây lúa nước. Sự kết hợp giữa trồng lúa nước với nuôi các loại thuỷ,
hải sản trong vườn, ao, hồ, ruộng, sông suối, biển là rất phù hợp, vừa phát
triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa tạo điều kiện để cải thiện đời
sống nhân dân rất tốt. Khi đến những nơi có điều kiện thuận lợi, Người đều
nhắc cùng với việc trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi thì phải đẩy mạnh việc
nuôi trồng thuỷ, hải sản, đặc biệt là phải thả cá.
18
Thứ năm, đặc biệt quan tâm đến việc phát triển nghề phụ gia đình.
Theo Người, miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại nghề phụ là
nguồn lợi để tăng thu nhập, do đó Người yêu cầu cần phải phát triển thích
đáng kinh tế phụ gia đình của xã viên. Khai thác mảnh vườn, mở mang nghề
phụ là rất phù hợp và cần thiết để giải quyết công ăn việc làm nâng cao đời
sống cho bà con nông dân ở nông thôn, và đây cũng là một yêu cầu khách
quan bức thiết hiện nay để từng bước chuyển nền kinh tế nông nghiệp, nông
thôn đi trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thứ sáu, phát triển nền nông nghiệp theo mô hình sản xuất hàng hoá,
mạnh mẽ và vững chắc. Hồ Chí Minh quan niệm nền nông nghiệp toàn diện
không phải là nền sản xuất nhỏ, manh mún, tự sản tự tiêu, mà đó là một nền
sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển, có quy mô lớn, có quy hoạch, kế
hoạch phù hợp với yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế quốc
dân. Khi thăm và nói chuyện với đồng bào xã Đại Nghĩa (Hà Đông), Người
chỉ rõ: “Trong kế hoạch 5 năm còn nói đến việc bắt đầu khoanh vùng nông
nghiệp. Như nơi nào sản xuất lúa nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng sản
xuất lúa là chính, nơi nào sản xuất chè nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng
sản xuất chè là chính,v.v Làm như vậy thì sẽ sử dụng một cách hợp lý và

Tóm lại, theo tư tưởng Hồ Chí Minh nền nông nghiệp toàn diện là
nền nông nghiệp bao gồm cả: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, có cơ
cấu kinh tế nội bộ ngành hợp lý, cân đối, hài hoà, bổ sung cho nhau cùng
phát triển mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, hiệu quả kinh tế
cao và bền vững.
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, cải tiến
nông cụ, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, thực hiện công nghiệp
hoá để phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ nền sản xuất nhỏ, kinh tế nông
nghiệp là chủ yếu. Với tư tưởng “quan trọng nhất là nông nghiệp”, “coi
nông nghiệp làm gốc, làm chính”, trong quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế
của đất nước, Hồ Chí Minh rất chú ý đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn. Điều này xuất phát từ đặc điểm thực tiễn của nền
kinh tế nước ta, từ mối quan hệ biện chứng giữa sản xuất nông nghiệp và
sản xuất công nghiệp, từ yêu cầu của việc xây dựng nền sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa, từ đòi hỏi của việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ của
dân tộc.
Hồ Chí Minh cho rằng muốn đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn, trước
hết phải ra sức làm tốt công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai hạn hán, lụt
bão. Người đặc biệt quan tâm đến thuỷ lợi là vì, đối với nền nông nghiệp lúa
nước, dân ta đã có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Hồ Chí
Minh hiểu rõ nước là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất,
sản lượng cây trồng, vật nuôi và đời sống sinh hoạt của nhân dân ở nông
thôn. Người khẳng định, nói đến kinh tế nông thôn trước hết là nói đến vấn
đề nước. Ở nông thôn, nước ví như sông mà chủ nghĩa xã hội như thuyền,
20
nước sông lên nhiều thì thuyền đi lại dễ dàng. Cho nên, phải làm sao đẩy
mạnh công tác thuỷ lợi cho đều, cho tốt và chắc chắn. Hồ Chí Minh hiểu
làm thuỷ lợi trước mắt tuy rất nhiều khó khăn nhưng lợi ích của nó vô cùng
to lớn và lâu dài, vì vậy Người đã động viên nông dân phải gắng làm thuỷ

mới có thể phát triển được một nền nông nghiệp bền vững. Trong Bài nói
chuyện với cán bộ Hưng Yên về những việc cần làm để vụ mùa thắng lợi,
21
ngày 03 - 7 - 1958, Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống tốt thì lúa tốt, lúa tốt thì
được mùa. Điều đó rất dễ hiểu. “Lúa tốt vì giống, lúa sống vì phân” [27;194].
Trong điều kiện của những năm 1950 nền kinh tế ở nước ta còn hết sức khó
khăn, mà Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề chọn giống tốt, là một trong những
việc quan trọng cấp bách cần phải làm để phát triển kinh tế nông nghiệp.
Quan điểm ấy thật quý báu và càng đúng hơn trong điều kiện tiến bộ kỹ
thuật hiện nay.
Thứ ba, phải đẩy mạnh cải tiến nông cụ, ứng dụng khoa học kỹ thuật,
thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp. Hồ Chí Minh cho rằng cải tiến
nông cụ là một công việc rất quan trọng để phát triển sản xuất nông nghiệp.
Nói về ích lợi của việc cải tiến nông cụ, Người đã chỉ rõ nếu làm tốt phong
trào cải tiến nông cụ, thì sức lao động sẽ lợi gấp đôi, gấp ba, mà lúa và hoa
màu sẽ tốt gấp bội, tức là năng suất lao động sẽ tăng lên nhiều. Chúng ta đều
biết rằng, năng suất lao động chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, nhưng
trong đó nhân tố giữ vai trò quyết định năng suất cao hay thấp là do công cụ
lao động hiện đại hay thô sơ. Chính do nông cụ của chúng ta thô sơ, lạc hậu
mà người nông dân làm việc tốn nhiều công sức, vất vả nhưng năng suất,
chất lượng và hiệu quả kinh tế lại kém. Theo tư tưởng của Người, việc cải
tiến nông cụ cần phải thực hiện mạnh hơn nữa, toàn diện hơn nữa; phải chú
ý cải tiến từ cái cày, cái bừa, chiếc xe vận tải cho đến các dụng cụ làm cỏ,
tuốt lúa, thái rau, Đồng thời với việc gây dựng phong trào cải tiến nông cụ
rộng khắp, Người yêu cầu phải đẩy mạnh công nghiệp phục vụ sản xuất
nông nghiệp, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn. Trong Hội nghị lần thứ 7
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) bàn về phát triển công
nghiệp, Người nói: “Công nghiệp phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu
dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là nông dân; cung cấp máy bơm
nước, phân hoá học, thuốc trừ sâu để đẩy mạnh nông nghiệp; và cung cấp

phát triển các hợp tác xã trong nông nghiệp là tư tưởng lớn, có từ rất sớm
trong Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, xuất bản
năm 1927, Người đã dành hẳn một chương để nói khá kỹ về hợp tác xã, từ
căn cứ lý luận, lịch sử phát triển cho đến các loại hình và cách thức tổ chức
hợp tác xã. Sở dĩ, Hồ Chí Minh quan tâm nhiều đến hợp tác hoá, xây dựng
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, nông thôn là vì theo
Người, đây không chỉ là một biện pháp quan trọng để đẩy mạnh sản xuất,
thực hành tiết kiệm, nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống nông dân,
phát triển nền sản xuất nông nghiệp một cách vững chắc, mà còn là một tất
yếu khách quan trên con đường đấu tranh cách mạng, xoá bỏ áp bức bóc lột,
xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa.
Vấn đề đưa nông dân từng bước vào con đường làm ăn tập thể đã được
Ăng ghen nêu ra từ năm 1894. Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và
Đức” Ăng ghen đã dạy rằng khi nắm được chính quyền, chúng ta không
được suy nghĩ về việc cưỡng bức những người tiểu nông như chúng ta cần
phải làm với bọn địa chủ lớn, mà nhiệm vụ chính là ở chỗ phải chỉ rõ cho
23
nông dân thấy, chúng ta có thể cứu và giữ gìn đất đai, vườn tược cho họ chỉ
khi chuyển chúng thành sở hữu tập thể và sản xuất tập thể.
Sau này V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng đó trong tác phẩm “Bàn về
chế độ hợp tác xã” chỉ rõ tầm quan trọng của hợp tác xã trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin khẳng định: “Nếu chúng ta tổ chức
được toàn thể nông dân vào hợp tác xã thì chúng ta đứng vững được hai
chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa” [17;248] và đưa ra những chỉ dẫn có
tính nguyên tắc về hợp tác hoá trong thực tiễn, đó là: tự nguyện; nhà nước
phải giúp đỡ về vật chất; thực hiện từng bước đi dần từ thấp đến cao. Đồng
thời V.I.Lênin lưu ý cần phải quan tâm đến việc giáo dục thuyết phục, nâng
cao trình độ văn hoá cho nông dân và phải nêu gương bằng thực tiễn, tạo ra lợi
ích thiết thân cho họ.
Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn

+ Về bước đi và hình thức hợp tác hoá nông nghiệp: Rút kinh nghiệm
từ thực tiễn, Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định hợp tác hoá nông nghiệp ở
nước ta, cần phải trải qua hình thức tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp. Nhưng trước hết phải bắt đầu từ chỗ xây dựng và phát triển rộng
khắp tổ đổi công, với các hình thức như tổ đổi công từng vụ, từng việc, tổ
đổi công thường xuyên. Sau này tổ đổi công thường xuyên đã rộng khắp và
có nền nếp rồi, mới tiến lên xây dựng hợp tác xã nông nghiệp từ thấp đến
cao. Chớ vội tổ chức hợp tác xã ngay. Chúng ta phát triển từng bước vững
chắc tổ đổi công và hợp tác xã thì hợp tác hoá nông nghiệp nhất định sẽ
thành công.
+ Về nguyên tắc xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã, Hồ Chí Minh căn
dặn là không được cưỡng ép ai hết. Phải tuyên truyền, giải thích cho nông
dân thấy được lợi ích của tổ đổi công và hợp tác xã. Phải làm sao cho những
gia đình trong tổ đổi công và hợp tác xã đều có lợi. Có lợi thì người ta mới
vui lòng vào. Quản trị phải dân chủ. Việc làm phải bàn bạc với nhau, mọi
người đều hiểu mới vui lòng làm.
+ Về phương châm tiến hành: chắc chắn, thiết thực, từ nhỏ đến lớn.
Chớ ham làm mau, ham rầm rộ. Làm ít mà chắc chắn hơn làm nhiều, làm
rầm rộ mà không chắc chắn. Đi bước nào vững vàng, chắc chắn bước ấy, cứ
tiến tới dần dần. Đã tổ chức là phải làm việc thiết thực, chứ không phải tổ
chức cho có tên mà không có thực tế, có số lượng mà không có chất lượng.
Phải làm từ nhỏ đến lớn, không nên tổ chức quá to, vì quá to thì khó quản
lý, dễ thất bại.
+ Về củng cố và phát triển hợp tác xã, Hồ Chí Minh căn dặn cần phải
chú ý các điều kiện cần thiết sau:
- Đi đôi với việc tuyên truyền, giáo dục, vận động thuyết phục nông
dân cần phải tổ chức tốt các hợp tác xã kiểu mẫu.
25

Trích đoạn Phát triển nền nông nghiệp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới. Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển giao công Vấn đề phát triển nguồn lực con người. Tổ chức thực hiện tốt việc học tập, tuyên truyền phổ biến quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh , chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status