ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG THỊ MẬN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ TƯỚI NƯỚC ĐẾN
GIỐNG LÚA KHANG DÂN VỤ XUÂN NĂM 2014
TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Liên thông
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Khóa học : 2013 – 2015
Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
thuyết vận dụng vào trong thực tiễn sản xuất. Đồng thời, đây cũng là thời
gian sinh viên củng cố lại những kiến thức đã học để khi ra trường thành một
kỹ sư có chuyên môn, có đầy đủ năng lực góp phần vào sự nghiệp phát triển
nông thôn nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của nhà trường,
ban chủ nhiệm khoa Nông Học, tôi đã tiến hành thực tập tại Huyện Đồng Hỷ
tỉnh Thái Nguyên tên đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến giống lúa khang
dân vụ xuân năm 2014 tại huyện Đồng hỷ Thái Nguyên”
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này tôi xin chân thành cảm ơn Ban
giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa
Nông học. Đặc biệt sự hướng dẫn tận tình của cô giáo: TS.Đỗ Thị Ngọc Oanh.
Cảm ơn các bạn lớp K9-LT Trồng trọt đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Do thời gian hạn hẹp đề tài tốt nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong sự đóng góp ý của các thầy cô giáo
trong khoa và các bạn để bản báo cáo của tôi được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Lương THị Mận
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CV : Hệ số biến động
LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
M
1000
hạt : Khối lượng 1000 hạt
SRI : Biện pháp canh tác lúa cải tiến
DANH MỤC CÁC BẢNG
kỹ sư có chuyên môn, có đầy đủ năng lực góp phần vào sự nghiệp phát triển
nông thôn nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của nhà trường,
ban chủ nhiệm khoa Nông Học, tôi đã tiến hành thực tập tại Huyện Đồng Hỷ
tỉnh Thái Nguyên tên đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến giống lúa khang
dân vụ xuân năm 2014 tại huyện Đồng hỷ Thái Nguyên”
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này tôi xin chân thành cảm ơn Ban
giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa
Nông học. Đặc biệt sự hướng dẫn tận tình của cô giáo: TS.Đỗ Thị Ngọc Oanh.
Cảm ơn các bạn lớp K9-LT Trồng trọt đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Do thời gian hạn hẹp đề tài tốt nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong sự đóng góp ý của các thầy cô giáo
trong khoa và các bạn để bản báo cáo của tôi được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Lương THị Mận
3.4.2.1. Các chỉ tiêu số nhánh 14
3.4.2.2. Các chỉ tiêu về chiều cao cây 15
3.4.2.3. Chỉ tiêu về sự phát triển của bộ rễ 15
3.4.2.4. Chỉ tiêu về khả năng chống chịu sâu bệnh 15
3.4.2.5. Chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất 16
3.5. Phương pháp xử lý số liệu 17
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
4.1. Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa
Khang dân 18
4.2. Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến chiều cao cây của giống lúa Khang
dân. 20
4.3. Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sự phát triển bộ rễ của giống lúa
Khang dân 21
cứu kĩ hơn, để từ đó đưa ra những công thức ứng dụng thích hợp cho từng
vùng khí hậu khác nhau.
Trong sản xuất lúa, tưới là một khâu quan trọng trong công tác điều tiết
mặt ruộng. Việc tưới nước là để tạo cho cây trồng một chế độ nước thích hợp.
Tuy cây lúa thích nước nhưng nó không đòi hỏi giữ nước liên tục trong suốt
quá trình sinh trưởng. Không phải ruộng luôn luôn ngập nước thì sẽ tốt cho
lúa. Như thế là trái với đặc điểm sinh lý của lúa sẽ dẫn đến không phát huy
hết tiềm năng suất của lúa (Hoàng Văn Phụ, 2012) [4].
Ở Thái Nguyên lúa được trồng ở tất cả các huyện trong tỉnh, giống
khang dân vẫn được người dân trồng nhiều nhưng còn áp dụng biện pháp kĩ
thuật không khoa học. Điển hình là biện pháp kĩ thuật tưới nước cho lúa, dù
cây lúa thích nước, nhưng không muốn ngập nước suốt chu kì sống. Phải có
2
lúc cần tháo cạn, đặc biệt giai đoạn đẻ nhánh. Trên thực tế người dân luôn để
nước trong ruộng liên tục, như vậy là không phù hợp với yêu cầu của cây.
Trong những năm gần đây, kĩ thuật tưới nước theo SRI cho thấy năng
suất lúa tăng và giảm được lượng nước tưới. Đấy là cách tưới theo nhu cầu
của cây lúa là xen kẽ tưới ngập và tháo cạn cho ruộng lúa. Nghiên cứu SRI
thực hiện trên 2 năm trên giống lúa thuần và lúa lai. Kết quả cho thấy: Giảm
giống 56 – 57 %, tiết kiệm nước tưới 62 %, giảm công cấy và thuốc trừ sâu,
năng suất tăng 12 – 17 % so với đối chứng giống Khang dân 18 và từ 16 - 23
% so với đối chứng Nhị ưu 838 (Hoàng Văn Phụ, 2012) [4].
Nguyên tắc của SRI là tưới nước tưới nước theo nhu cầu của cây lúa
nhằm khai thác tiềm năng di truyền của cây lúa về sự đẻ nhánh nhiều và sự
hoạt động mạnh của bộ rễ, làm cho cây lúa sinh trưởng phát triển mạnh, đạt
năng suất cao. Cách làm này giúp đất thông khí, không úng nước, làm thay
đổi PH đất, giải thoát khí độc CH
4
và H
củng cố kiến thức và vận dụng một cách sáng tạo vào thực tế. Mặt khác,
thông qua thời gian thực ập sinh viên có điều kiện học hỏi và tích lũy thêm
vốn kiến thức của bản thân, biết cách thực hiện và hoàn chỉnh một khóa luận
tốt nghiệp.
- Đối với nghiên cứu khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở
xác định chế độ tưới nước phù hợp cho giống lúa khang dân tại huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu biện pháp kĩ
thuật canh tác đối với các giống lúa khác.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được chế độ tưới nước hợp lý nhất cho giống lúa khang dân.
- Nâng cao năng suất và mang hiệu quả kinh tế cao nhất cho người dân,
góp phần thúc đẩy sản xuất lúa huyện phát triển.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lúa
Quá trình sinh trưởng và phát triển của lúa gồm hai thời kỳ sinh trưởng
chính kế tiếp nhau: Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng và thời kỳ sinh trưởng
sinh thực (Nguyễn Thị Lẫm, 1999) [3].
Thứ nhất thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: Tính từ lúc gieo đến lúc lúa
làm đòng. Trung tâm hoạt động của thời kỳ này là hình thành các bộ phận
chính của cây như thân, lá, rễ, nhánh…Thời gian tính từ lúc nảy mầm đến khi
bắt đầu phân hóa đòng gồm các quá trình gieo mạ, cấy lúa, bén rễ, hồi xanh
đẻ nhánh hữu hieuj và đẻ nhánh vô hiệu.
Thời gian này dài hay ngắn thay đổi giữa các giống, mùa vụ và biện
hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng hạt thông qua sự phát triển của đòng lúa.
Lúa sinh trưởng phát triển mạnh hay ít phụ thuộc nhiều vào điều kiện
ngoại cảnh và kĩ thuật canh tác.
2.1.2. Nhu cầu nước của lúa
Lúa yêu cầu nhiều nước hơn các cây trồng khác. Để tạo ra được một
gam chất kho cây lúa cần 628g nước.
Sự thiếu hụt nước có ảnh hưởng đến sinh trưởng của lúa. Thiếu nước ở
bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào cũng gây giảm năng suất lúa. Triệu chứng
chung nhất là lá cuộn tròn lại, lá bị cháy kìm hãm lúa đẻ nhánh, thân cây bị thấp
chậm ra hoa, trỗ bị nghẹn đòng, hạt lép và lửng (Nguyễn Thị Lẫm, 1999) [3].
6
Từ giai đoạn phân bào giảm nhiễm đến trỗ bông cây lúa rất nhạy cảm
với việc thiếu nước. Vào thời gian 11 ngày và 3 ngày trước trỗ, chỉ cần bị hạn
3 ngày đã làm giảm năng suất rất nghiêm trọng và làm tỉ lệ hạt lép cao. Khi
hạt bị lép thì không có cách nào bù lại được năng suất. Mặt khác thiếu nước
trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng có thể làm giảm chiều cao cây, giảm
số nhánh và giảm diện tích lá nhưng năng suất sẽ không bị ảnh hưởng nhiều,
nếu nước được cung cấp kịp thời trong thời kỳ bị thiếu để cây hồi phục trước
lúc trỗ ra hoa (Nguyễn Thị Lẫm, 1999) [3].
Thiếu nước làm giảm năng suất nhưng thừa nước cũng có hại. Tùy theo
địa hình và lượng mưa, các vùng đất thấp có thể chịu mực nước khác nhau và
thời gian ngập nước khác nhau. Có thể chia làm 3 mức:
- Vùng nước sâu: 150 – 400cm, trồng lúa nổi.
- Vùng ngập lụt: Sâu dưới 150cm, tồn tại trong 1 – 2 tháng có thể gieo
cấy các giống chịu ngập úng hoặc giống lúa tiên cao cây.
- Vùng bị úng: Bị ngập thường xuyên, hoặc có khi mưa bão, mưa rào
nhiều ngày thì chọn giống lúa thân có khả năng vươn cao. Khi cây lúa bị ngập
ở các thời kỳ khác nhau, mực nước sâu và thời gian ngập khác nhau sẽ ảnh
hương khác nhau đến năng suất. Ngập sâu sẽ ảnh hưởng đến khả năng quang
Tuy cây lúa thích nước nhưng nó không đòi hỏi giữ nước liên tục trong suốt
quá trình sinh trưởng. Như thế là trái với đặc điểm sinh lý của lúa sẽ dẫn đến
không phát huy hết tiềm năng suất của lúa.
Với phương pháp tưới nước cho lúa của người dân nơi đây là không
phù hợp. Cần phải có nhiều mô hình trình diễn thực tế hay các kết quả nghiên
cứu tại chính địa phương để cho người dân tận mắt nhìn thấy những hiệu quả
của việc tưới nước theo nhu cầu của cây trong từng giai đoạn sinh trưởng.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CV : Hệ số biến động
LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
M
1000
hạt : Khối lượng 1000 hạt
SRI : Biện pháp canh tác lúa cải tiến 9
Một trong những kĩ thuật của SRI là tưới nước theo nhu cầu của cây
lúa, cách làm này giúp đất thông khí, không úng nước, làm thay đổi PH đất,
giải thoát khí độc CH
4
và H
2
S gây ngộ độc rễ lúa. Đồng thời giúp vi sinh vật
hiếm khí hoạt động tốt hơn cố định đạm nhiều hơn và giải thoát nhiều dinh
dưỡng dễ tiêu cho lúa.
SRI giảm nhu cầu tưới. Khi áp dụng SRI nhu cầu nước giảm 25 – 50%
do nước chỉ được tưới để duy trì điều kiện khí hậu thoáng khí. Nông dân có
thể tiền hành canh tác lúa ở ngay cả những khu vực ngày càng khan hiếm
suất thấp nhưng nó đã thu hút được sự chú ý từ háng ngàn nông dân vùng cao
tham quan. Vì nước là một hạn chế ở vùng cao, hệ thống canh tác lúa với
lượng nước rất giới hạn đã thu hút cao độ những nông dân này (Hoàng Văn
Phụ, 2012)[4].
2.3.3. Nghiên cứu và ứng dụng SRI ở Việt Nam
Tại Thái Nguyên và Bắc Giang, Hoàng Văn Phụ và cộng sự đã tiến
hành nghiên cứu thí nghiệm SRI từ vụ xuân năm 2004. Nghiên cứu SRI thực
hiện trên 2 năm trên giống lúa thuần và lúa lai. Kết quả cho thấy: Giảm giống
56 – 57 %, tiết kiệm nước tưới 62 %, giảm công cấy và thuốc trừ sâu, năng
suất tăng 12 – 17 % so với đối chứng giống khang dân 18 và từ 16 23 % sao
với đối chứng Nhị ưu 838.= (Hoàng Văn Phụ, 2012) [4].
Tại tỉnh Phú Thọ, năm 2008, Chi cục Bảo vệ thực vật Phú Thọ đã triển
khai xây dựng mô hình áp dụng SRI tại 10 khu của 2 xã Cao Xá và Ninh Kê
của huyện Lâm Thao, diện tích mô hình khoảng 3ha, với 67 hộ tham gia. Vụ
Chiêm xuân năm 2009, tiếp tục tại 2 xã thuộc vùng dự án. Qua 3 vụ kết quả
lượng nước tưới giảm 2 – 3 lần tưới/vụ; giảm 20 -30 % chi phí bơm nước.
Một số nghiên cứu SRI tại Thái Nguyên (Hoàng Văn Phụ, 2012) [4].
11
Nghiên cứu hệ thống kĩ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI (System of
Rice Intensification) trong vụ xuân năm 2004 tại Thái Nguyên được tiến hành
thực hiện bởiNguyễn Hoài Nam và Hoàng Văn Phụ. Đối tượng nghiên cứu là
chế độ nước, tuổi mạ và mật độ cấy giống lúa Khang Dân 18. Kết quả về sinh
trưởng: Với chế độ tưới phù hợp tăng sức đẻ nhánh của lúa. Hiệu quả kinh tế:
Giảm công cấy và quản lý nước. SRI giảm yêu cầu nước còn 38% so với bình
thường. Đây là tính ưu việt đối với điều kiện miền núi thiếu nước. Chế độ
nước không gây yếm khí như ở quy trình tưới nước bình thường, oxy được
cung cấp đầy đủ cho rễ
Triển vọng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI trong canh tác lúa ở vùng
Trung du Băc Bộ do PGSTS. Hoàng Văn Phụ và Vũ Trí Đồng, tiến hành
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của chế độ tưới đến khả năng đẻ nhánh của 19
giống lúa Khang dân 19
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến chiều cao cây của giống 20
lúa Khang dân 20
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh trưởng rễ 22
của giống lúa Khang dân 22
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến chiều dài rễ của giống 23
lúa Khang dân 23
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến khối lượng rễ 24
của giống lúa Khang dân 24
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến khả năng chống 25
chịu sâu bệnh của giống lúa Khang dân 25
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến các yếu tố cấu thành năng
suất của giống lúa khang dân. 26
nghiên cứu lúa quốc tế IRRI.
3.4.2.1. Các chỉ tiêu số nhánh
- Mỗi ô thí nghiệm lấy 3 khóm theo đường chéo góc. Sau đó đếm toàn
bộ số nhánh của 3 khóm.
15
3.4.2.2. Các chỉ tiêu về chiều cao cây
- Theo dõi chiều cao cây qua các thời kỳ sinh trưởng: Đẻ nhánh – làm
đòng – trỗ bông – chín sáp – chín hoàn toàn.
- Cách đo: Đo từ mặt đất đến chóp lá cao nhất trong giai đoạn sinh
trưởng sinh dưỡng (trước trỗ), đo từ mặt đất đến chóp bông đối với giai đoạn
sinh trưởng sinh thực.
3.4.2.3. Chỉ tiêu về sự phát triển của bộ rễ
- Các chỉ tiêu nghiên cứu của bộ rễ (số rễ, chiều dài rễ, trọng lượng rễ) được
nghiên cứu ở các thời kỳ: Đẻ nhánh, làm đòng, trỗ, chín sáp, chín hoàn toàn.
+ Số rễ: Trên mỗi ô lấy 3 khóm, 9 khóm trên một công thức. Tiến hành
nhổ nhẹ nhàng khóm lúa, rễ rửa sạch bùn đếm toàn bộ số rễ.
+ Xếp chiếu dài rễ 50cm, cân trọng lượng 50cm được a(g). Sau đó cân
toàn bộ khối lượng rễ 1 khóm được b(g)
Khi đó chiều dài rễ/khóm (m) = (b/a) x 2
+ Trọng lượng rễ: Đào phẫu diện đất ở độ sâu 0 – 5cm, 6 – 10cm, 11 –
20cm, đem rửa sạch bùn đất cho riêng rẽ vào từng túi đem sấy khô kiệt rồi
đem cân.
3.4.2.4. Chỉ tiêu về khả năng chống chịu sâu bệnh
Điều tra ở 5 điểm theo đường chéo, mỗi điểm 10 khóm và đánh giá
mức độ hại.
- Sâu cuốn lá (Cnaphalacrosis medinalis)
Tỉ lệ sâu ăn phần xanh của lá hoặc bị cuốn thành ống ở thời kỳ sinh
trưởng sinh dưỡng, đánh giá theo thang điểm:
+ Điểm 1: Không bị hại.
trung bình.
17
- Số hạt lép/ bông : đếm số hạt lép trên 2 bông: 1 bông to nhì và 1 bông
bé nhì, ra kết quả rồi tính trung bình.
- Khối lượng nghìn hạt: Cân thóc khô ở ẩm độ 13%. Đếm 2 lấn mỗi lần
500 hạt được khối lượng lần lượt là M
1
, M
2
sau đó tính khối lượng nghìn hạt
như sau.
M
1000
= M
1
+ M
2
3.5. Phương pháp xử lý số liệu
- Các kết quả nghiên cứu được xử lý thống kê bằng phần mềm
IRRISTAT.