Nghiên cứu tình hình sản xuất lúa tại xã hoàng đồng thành phố lạng sơn - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
 NGUYỄN KIM TUYẾN Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA
TẠI XÃ HOÀNG ĐỒNG THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông Học
Khóa học : 2013 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Bùi Lan Anh Thái Nguyên, năm 2014


MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Ozyra Stiva L) là một trong những cây lương thực chủ yếu trên
thế giới. Sản phẩm lúa gạo là nguồn lương thực nuôi sống phần đông dân số
trên thế giới và có vai trò quan trọng trong công nghiệp chế biến. Nó cung cấp
2/3 lượng calo cho 3 tỷ người ở châu Á, 1/3 calo cho 1,5 tỷ người ở châu Phi
và châu Mỹ La Tinh. Trong cơ cấu sản xuất lương thực của thế giới, lúa mì
chiếm 30,5%; lúa gạo chiếm 26,5%; ngô chiếm 24%, còn lại là các loại ngũ
cốc khác.
Ngày nay diện tích, sản lượng lúa ngày một tăng nhanh nhưng vẫn
không đáp ứng đủ nhu cầu của con người trên toàn thế giới.
Việt Nam là một nước có địa thế về điều kiện tự nhiên, có truyền thống
trồng lúa nước từ lâu đời và Việt Nam đã trở thành nước sản xuất lúa gạo nổi
tiếng thế giới (Nguyễn Văn Hoan) [4].
Là một nước đông dân nhưng chỉ có 4 triệu ha đất trồng lúa, bình quân
đầu người có khoảng 500m
2
. Vì vậy, Việt Nam đã áp dụng nhiều biện pháp
kỹ thuật để đưa năng suất lúa lên mức 47,897% tạ/ha, không những đảm bảo
gạo nuôi đủ nuôi sống hơn 80 triệu người và còn xuất khẩu gần 4,3 triệu tấn
gạo, đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan (Nguyễn Đức Thạch, 2002) [9].
Đường hướng phát triển của Đảng bộ Lạng Sơn đưa ra trong buổi họp
triển khai kế hoạch sản xuất năm 2012 hướng tới mục tiêu chung là tạo được
sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc tái cơ cấu lại nền sản xuất nhằm tăng
năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên
thị trường, phát triển bền vững, đảm bảo về an ninh lương thực góp phần giải
quyết các vấn đề an sinh xã hội và môi trường. Xuất phát từ tầm quan trọng
của nền nông nghiệp cũng như sản xuất lúa và giá trị sản phẩm của lúa gạo
3
chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu tình hình sản xuất lúa tại xã Hoàng

(triệu tấn)
2009 158,1 43,4 686,60
2010 161,2 44,0 702,00
2011 163,0 45,0 726,12
2012 162,3 45,5 738,20
2013 166,1 45,0 745,20
Nguồn: FAOSTAT, 2013
Nhận xét: Qua bảng số liệu 2.1 ta thấy, tình hình sản xuất lúa gạo trên
thế giới từ năm 2009- 2013 luôn có sự biến động về diện tích, năng suất, sản
lượng. Năm 2009 là 158,1 triệu ha, đến năm 2011 đã tăng lên 4,9 triệu ha
trong vòng 3 năm và đạt 163,0 triệu ha. Từ năm 2011 đến năm 2013 diện tích
cũng tăng 3,1 triệu ha nhưng tăng ít hơn năm 2011.
5
Năng xuất lúa năm 2009 đến năm 2011, 2012 có sự thay đổi, tăng 0,6-
1,6 tạ/ha so với năm 2009. Năm 2013 giảm 0,5 tạ/ha so với năm 2012. Năng
suất lúa 2009 - 2013 có sự tăng giảm bấp bênh.
Sản lượng lúa tăng dần từ 2009- 2013 tăng 58,6 triệu tấn. Đặc biệt năm
2011 đạt 726,12 triệu tấn tăng 24,12 triệu tấn so với năm 2010. Năm 2012,
2013 đạt 738,20 - 745,2 triệu tấn tăng 51,6- 58,6 triệu tấn so với năm 2009.
Với tốc độ dân số tăng nhanh như hiện nay thi vấn đề an ninh lương
thực luôn là vấn đề cấp bách quan trọng hàng đầu. Từ những số liệu trên cho
thấy tình hình sản xuất lúa trên thế giới ngày càng phát triển như vậy vấn đề
an ninh lương thưc sẽ phần nào được giải quyết.
Theo thống kê của tổ chức lương thưc thế giới (FAO, 2008) cho thấy
có 114 nước trồng lúa, trong đó 18 nước có diện tích trồng lúa trên 1.000.000
ha tập trung ở Châu Á ,…, 13 nước có diện tích trồng lúa trong khoảng
100.000 ha -1.000.000 ha.Trong đó có 27 nước có năng suất trên 5 tấn/ha.
(Hoàng Long, 2010).
Hiện nay cùng với sự vượt bậc của khoa học kỹ thuật thì một số nước
có nền nông nghiệp lạc hậu, còn đói nghèo nay đã vượt lên trở thành nước

Ấn Độ là nước có năng suất cao thứ 2 (51,52 tạ/ha) nhưng sản lượng lúa là
(712,80 triệu tấn) đạt cao nhất. Vì Ấn Độ là nước có diện tích trống lúa lớn nhất.
Việt Nam diện tích trồng lúa đứng thứ 5 trong 9 nước nhưng cũng là
nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Xuất khẩu lúa gạo
nước ta ngày càng tăng trước hết là do sự phát triển của khoa hoc công nghệ
đã cải thiện công tác giống, chăm sóc lúa, phòng ngừa sâu bệnh… giúp tăng
năng suất lúa, nâng cao nguồn cung lúa gao trong nước. Việc giữ vững và gia
7
tăng sản lượng lúa của cả nước là tiền đề tốt cho việc đảm bảo an ninh lương
thực quốc gia cũng như đẩy mạnh xuất khẩu gạo trên các thị trường trong khu
vực và thế giới.
2.1.2. Tình hình nghiên cứu cây lúa trên thế giới
Cùng với sự phát triển của loài người nghề trồng lúa đã và đang ngày
càng đạt được nhiều thành tựu lớn, hiện Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI)
đã lai tạo và chọn lọc thành công nhiều giống lúa tốt, phổ biến trên thế giới
như: IR6, IR8, IR20, IR26, tạo ra sự nhảy vọt về năng suất và sản lượng lúa
ở nhiều vùng trên thế giới.
Trải qua nhiều thập kỷ, Mỹ đã có nhiều nhà khoa học tham gia nghiên
cứu trực tiếp và giải quyết vấn đề lương thực. Trong những năm gần đây, các
nhà khoa học Mỹ không chỉ quan tâm nghiên cứu đến việc chọn lọc, lai tạo và
đưa ra sản xuất những giống lúa có năng suất cao, ổn định, thâm canh phù
hợp với từng vùng. Năm 2003 Mỹ đã xuất khẩu được 3,4 triệu tấn gạo, đứng
thứ ba thế giới, sau Thái Lan Và Việt Nam.
Ấn Độ đã thành lập được viện nghiên cứu Cuttack bang Orissa và có
nhiều trường Đại học cao đẳng và 130 cơ quan khảo nghiệm nghiên cứu về lúa.
Trung Quốc là nước đã nghiên cứu và lai tạo được nhiều giống mới có
năng suất, chất lượng cao, trong đó có một số giống được đưa vào sản xuất ở
Việt Nam và mang lại nhiều kết quả cao.
Hiện nay, Nhật Bản đã tìm ra các giống lúa HEXI 34 và HEXI 35 có
năng suất cao từ 83,5 - 88,0 tạ/ha.

phát triển cuả cây lúa. Việt Nam có nhiều vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn,
có lượng phù xa bồi đắp thường xuyên và tương đối bằng phẳng được trải từ
Bắc tới Nam. Trong đó, điển hình là hai vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng
và đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long, với một loạt châu thổ nhỏ hẹp ở ven
sông, ven biển miền trung đều được dùng để sản xuất nông nghiệp mà chủ
yếu là trồng lúa nước.
Sự hình thành và phát triển sản xuất lúa gạo ở nước ta có lịch sử truyền
thống lâu đời và có ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân. Việt Nam có
khoảng 9,3 triệu ha đất nông nghiệp, phần lớn diện tích đất dành cho trồng lúa
là chính khoảng 4,3 triệu ha (chiếm khoảng 46% diện tích đất nông nghiệp).

2
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Ozyra Stiva L) là một trong những cây lương thực chủ yếu trên
thế giới. Sản phẩm lúa gạo là nguồn lương thực nuôi sống phần đông dân số
trên thế giới và có vai trò quan trọng trong công nghiệp chế biến. Nó cung cấp
2/3 lượng calo cho 3 tỷ người ở châu Á, 1/3 calo cho 1,5 tỷ người ở châu Phi
và châu Mỹ La Tinh. Trong cơ cấu sản xuất lương thực của thế giới, lúa mì
chiếm 30,5%; lúa gạo chiếm 26,5%; ngô chiếm 24%, còn lại là các loại ngũ
cốc khác.
Ngày nay diện tích, sản lượng lúa ngày một tăng nhanh nhưng vẫn
không đáp ứng đủ nhu cầu của con người trên toàn thế giới.
Việt Nam là một nước có địa thế về điều kiện tự nhiên, có truyền thống
trồng lúa nước từ lâu đời và Việt Nam đã trở thành nước sản xuất lúa gạo nổi
tiếng thế giới (Nguyễn Văn Hoan) [4].
Là một nước đông dân nhưng chỉ có 4 triệu ha đất trồng lúa, bình quân
đầu người có khoảng 500m
2

83
, NR
11
, X
20
, X
21
, các
giống này đều được đánh giá rất cao, đặc biệt với các loại lúa lai do trung tâm
lúa lai tạo có năng suất cao hơn lúa thường 20 - 30%.
Viện di truyền nông nghiệp Việt Nam từ sau khi thành lập đến nay, với
đội ngũ khoa học trẻ, năng động, sáng tạo đó nghiên cứu nhiều trên lĩnh vực
chọn, tạo giống lúa và đã có nhiều thành tựu được ứng dụng thành công trong
thực tế. Viện đã chọn tạo được một số giống như: DT
10
, DT
13
, A
20
, CM
1
,
DT
122
, HD
1
, DT
21
và tám thơm ĐB.
Viện cây lương thực, thực phẩm những năm qua có nhiều thành tựu

, AS
996

cho năng suất cao từ 6 - 7 tấn/ha, chất lượng cao và có mùi thơm.
Viện Bảo vệ thực vật đã chọn được một số giống có khả năng kháng
chịu một số loài sâu, bệnh hại như: C
70
, C
71
, CR
203
, IR
17494
, IR
50
.
11
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã chọn tạo được giống lúa mới
XY
23
, giống này đã được trung tâm giống khuyến nông tỉnh Quảng Ninh cho
nông dân gieo cấy đại trà. Ngoài ra, nhà trường cũng tạo được những giống
lúa như: NN
75 – 3
, VN
10
, VN
60
, lúa lai 2 dòng,….
Trường Đại học Nông Lâm Cần Thơ nghiên cứu, chọn tạo ra nhiều

không có núi cao. Độ cao trung bình là 252m so với mực nước biển, nơi thấp
nhất là 20m ở phía Nam huyện Hữu Lũng, trên thung lũng sông Thương; Nơi
cao nhất là đỉnh Phia Mè (thuộc khối núi Mẫu Sơn) cao 1.541m so với mặt
biển. Hướng địa hình rất đa dạng và phức tạp: Hướng tây bắc – đông nam
12
thể hiện ở máng trũng Thất Khê – Lộc Bình, trên đó có thung lũng các sông
Bắc Khê, Kỳ Cùng và Tiên Yên (Quảng Ninh) và dãy hồ Đệ Tam đã được lấp
đầy trầm tích Đệ Tam và Đệ Tứ, tạo thành các đồng bằng giữa núi có giá trị
đối với ngành nông nghiệp của tỉnh như Thất Khê, Na Dương, Bản Ngà;
Hướng đông bắc – tây nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Hữu Lũng,
Bắc Sơn, Chi Lăng, Văn Quan và phần lớn huyện Văn Lãng, hướng này cũng
thấy ở núi đồi huyện Cao Lộc (các xã Lộc Yên, Thanh Lòa và Thạch Đạn);
Hướng bắc – nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Tràng Định, Bình
Gia và phần phía tây huyện Văn Lãng; Hướng tây – đông thể hiện ở hướng
của quần sơn Mẫu Sơn với khoảng 80 ngọn núi.
Theo thống kê (31/12/2012) diện tích đất tự nhiên là 7811,14 ha, trong
đó: đất sản xuất nông nghiệp là 1392,47 ha chiếm 17,83%; đất lâm nghiệp có
rừng (rừng tự nhiên và rừng trồng) là 4245,44 ha chiếm 54,35%; đất chuyên
dùng là 1114,00 ha, chiếm 14,26%; đất ở là 639,77 ha, chiếm 8,19%. Đất đai
Lạng Sơn được chia thành 7 vùng với 16 tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng gồm 43
loại đất khác nhau phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm là 1871,6 ha. Trong đó cây
lương thực có hạt là 1293,4 ha chiếm 69,11% tăng 0,58% so với 2011; cây
công nghiệp 17,6 ha chiếm 0,94% giảm 0,37% so với 2011; cây rau đậu các
loại là 566,5 ha chiếm 30,27% tăng 0,07% so với 2011.
Năng suất lúa cả năm đạt 45,3 tạ/ha tăng 16,5 tạ/ha so với năm 2011 ,
trong đó vụ đông xuân đạt 59,7 tạ/ha tăng 0,5 tạ/ha và vụ mùa đạt 35 tạ/ha
tăng 28 tạ/ha
Khí hậu Lạng Sơn mang tính điển hình của khí hậu miền Bắc Việt Nam
là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 17 – 22

Sơn có Na Sầm (1.118 mm) và Đồng Đăng (1.100mm) là những trung tâm
khô hạn của miền Bắc.
Sông ngòi: Chịu chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, lại nằm trong
vùng đất dốc thuộc khu miền núi Đông Bắc, Lạng Sơn có mạng lưới sông
ngòi khá phong phú. Mật độ mạng lưới sông ở đây dao động trung bình từ 0,6
đến 1,2 km/km
2
. So với mật độ sông suối trung bình của cả nước là 0,6
km/km
2
thì mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại từ trung bình đến khá
dày. Lạng Sơn có 5 sông chính độc lập, đó là sông Kỳ Cùng, Sông Thương,
Sông Lục Nam, sông Tiên Yên- Ba Chẽ (hay Nậm Luổi – Đồng Quy) và sông
Nà Lang.
14
PHẦN III
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA
3.1. Địa điểm điều tra
Đề tài được tiến hành tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn.
3.2. Nội dung điều tra
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Hoàng Đồng.
- Điều tra tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Hoàng Đồng.
- Đánh giá thưc trạng sản xuất lúa của xã Hoàng Đồng (diện tích, năng
suất, sản lượng, kỹ thuật canh tác, cơ cấu giống).

Khí hậu của xã Hoàng Đồng cũng như của toàn thành phố Lạng Sơn thể
hiện rõ nét khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền Bắc Việt Nam khí hậu phân
mùa rõ rẹt. ở các mùa khác nhau nhiệt độ phân bố không đồng đều do sự phức
tạp của địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng của không khí lạnh
trong quá trình di chuyển ở vùng nội chí tuyến đã gây nên những chênh lệch
đáng kểtrong chế độ nhiệt giữa các vùng. Theo số liệu thống kê của trạm khí
tượng thủy văn của thành phố Lạng Sơn thì:
Nhiệt độ trung bình năm: 17-22
0
c
Lượng mưa trung bình năm: 1200-1600mm
Độ ẩm tương đối trung bình năm: 80-85%
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã có 2501,30 ha, trong đó đất lâm
nghiệp là 1371,03 ha, chiếm 20,08%; đất nông nghiệp 502,24 ha, chiếm
54,81%; diện tích đất ở là 125,44 ha, chiếm 5,01%.
3
chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu tình hình sản xuất lúa tại xã Hoàng
Đồng thành phố Lạng Sơn".
1.2. Mục đích
- Điều tra tình hình sản xuất lúa tại xã Hoàng Đồng thành phố Lạng Sơn
- Đánh giá vai trò, vị trí của cây lúa trong cơ cấu cây trồng của địa
phương và những khó khăn, thuận lợi trong sản xuất lúa.
- Từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất
lượng lúa ở xã trong những năm trước mắt và lâu dài.
1.3. Yêu cầu
- Điều tra thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã
Hoàng Đồng thành phố Lạng Sơn
- Điều tra thu thập số liệu sản xuất lúa tại xã Hoàng Đồng thành phố
Lạng Sơn

phát triển một số ngành tiểu thủ công nghiệp có thế manh như: Chế biến
lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng (gạch bê tông), sản xuất đồ
mộc, cơ khí, nhôm kính, may mặc.
* Dịch vụ - Thương mại:
Dịch vụ, thương mại trên địa bàn tiếp tục phát triển. Các cơ sở kinh
doanh đã tích cực, chủ động hàng hóa đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu
tiêu thụ của nhân dân địa phương và các vùng lân cận cùng góp sức phát triển
toàn tỉnh vững mạnh.
Dịch vụ vận tải phát triển, khối hàng hóa luân chuyển tăng, các chi
nhánh ngân hàng thương mại tích cực đổi mới cơ chế huy động vốn, đẩy
mạnh các hình thức cho vay, mở rộng địa bàn hoạt động, đa dạng hóa thị
trường đầu tư tín dụng đã góp phần tích cực vào chương trình phát triển kinh
tế xã hội của địa phương.
4.2. Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Phú Hộ
4.2.1. Tình hình sản xuất chung
4.2.1.1. Tình hình sản xuất ngành Trồng trọt
Xã Hoàng Đồng có khoảng 75% dân số sản xuất nông nghiệp. Những
năm trước đây, người dân làm nông nghiệp thu nhập chủ yếu từ sản xuất lúa
nước. Từ năm 2000, do chuyển dịch cơ cấu người dân ngày càng được nâng
cao. Cơ cấu cây trồng của xã cây trồng và kinh doanh dịch vụ trên thị trường,
nên đời sống được thể hiện qua bảng sau:
19
Bảng 4.4 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của xã
Hoàng Đồng năm 2012
Loại cây trồng Diện tích (ha)
Năng suất
(tấn/ ha)
Sản lượng
(tấn)
1 - Lúa cả năm

4020 100
1.1 Trâu 376 9,35
1.2 Bò 20 0,50
1.3 Lợn 3624 90,15
2 Đàn gia cầm
200 100
2.1 Gà 150 75
2.1 Vịt, Ngan, ngỗng 50 25
(Nguồn thống kê xã Hoàng Đồng năm 2012) .
Qua số liệu bảng 4.5 ta thấy: Đàn gia súc của xã chủ yếu là lợn chiếm
đa số được sử dụng để lấy thịt, còn trâu bò chủ yếu chăn nuôi lấy sức kéo
trong nông nghiệp, Đàn lợn là 3624 con chiếm 90,15%, trâu, bò là 396 con
chiếm 9,85 %.
Đàn gia cầm của xã tất cả là 200 con, chăn nuôi chủ yếu phục vụ gia
đình và buôn bán nhỏ.
Ngành chăn nuôi của xã còn manh mún, nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia
đình, con giống trong chăn nuôi chủ yếu là giống địa phương, chưa có nhiều
giống gia súc lai tạo có năng suất cao.
4.2.2. Tình hình sản xuất lúa của xã Hoàng Đồng
Xã Hoàng Đồng có điều kiện tự nhiên như: Đất đai, khí hậu, địa hình
khá thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Cây lúa là cây
lương thực chính của xã và đó được trồng từ lâu đời. Trước đây năng suất,
4
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trên thế giới
2.1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa được gieo trồng từ 30 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam gồm 150
nước trồng lúa trên thế giới. Do xác định được tầm quan trọng của cây lúa
trong nền kinh tế nên nhiều nước trên thế giới đã đặc biệt quan tâm chú trọng

canh cây lúa bà con đã chú ý đến việc bón phân, một số hộ áp dụng phương
pháp bón phân viên nén dúi sâu. Đa số các hộ đã nhận thức rõ được tác dụng
và hiệu quả của việc bón phân đối với cây lúa nói riêng và cây trồng nói chung.
Bảng 4.7. Mức độ đầu tư phân bón cho 1 ha gieo trồng lúa ở xã Hoàng
Đồng từ năm 2010 - 2012
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2012
1. Vụ xuân

Đạm Urê kg/ha 170
Lân supe kg/ha 318
Kaliclorua kg/ha 35
2.Vụ mùa

Đạm Urê kg/ha 160
Lân supe kg/ha 298
Kaliclorua kg/ha 29
(Nguồn thống kê xã Hoàng Đồng năm 2012) .
Qua bảng trên ta thấy:
Nhưng trong thực tế, các hộ nông dân ở đây có mức độ đầu tư phân bón
khác nhau, mức đầu tư phân bón còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế từng hộ
gia đình, hầu hết các hộ gia đình đều đầu tư phân bón nhưng với lượng thấp
và bón không cân đối.
23
4.2.2.2. Cơ cấu giống lúa được sử dụng tại xã Hoàng Đồng
Giống lúa chất lượng cao được xem là tiền đề của sự thành công, là vấn
đề quan trọng số một trong sản xuất. Khi bắt đầu một vụ sản xuất, người nông
dân thường nghĩ ngay đến việc chọn lựa loại giống lúa phù hợp để canh tác.
Bởi vì, giống lúa có vai trò rất quan trọng trong việc gia tăng năng suất, chất
lượng và hiệu quả của việc đầu tư. Do đó, giống lúa có chất lượng tốt có vai
trò quan trọng trong sản xuất và luôn được bà con nông dân đặc biệt quan

lượng cây trồng. Vì vậy, việc phòng trừ sâu bệnh là vấn đề cần thiết để giúp
phần tạo tăng năng suất, sản lượng lúa. Sự phát sinh của sâu bệnh phụ thuộc
vào giống, điều kiện thời tiết, cơ cấu cây trồng và kỹ thuật canh tác. Sâu bệnh
gây hại gồm nhiều chủng loại và gây hại trong những điều kiện khác nhau.
Mỗi giai đoạn phát triển của cây lúa cũng xuất hiện các loại sâu bệnh khác
nhau. Vì vậy, trong kỹ thuật canh tác cần phải có biện pháp phòng trừ một
cách hợp lý và kịp thời, để hạn chế những tổn thất do sâu bệnh gây ra, nhằm
tăng hiệu quả kinh tế và tăng năng suất cây trồng.
Trong quá trình điều tra tại xã Hoàng Đồng cho thấy: Sâu bệnh hại cây
lúa khá phức tạp, sâu hại gồm các loại sâu như: Sâu đục thân, sâu cuốn lá, bọ
xít, rầy nâu, Bệnh thường xuất hiện là: Đạo ôn, khô vằn, Tuy nhiên, do
công tác điều tra phát hiện kịp thời và bà con nông dân đã biết áp dụng những
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: sử dụng các biện pháp sinh học,
biện pháp thủ công tự chế. Bên cạnh đó, bà con biết cách xác định thời vụ
gieo trồng và thời gian gieo trồng hợp lý, từ đó cũng hạn chế được những
thiệt hại do sâu bệnh gây ra trong sản xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status